BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________ Lê Thò Thủy
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
CỦA NGÔN NGỮ CỬ CHỈ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________
Luận văn này được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của chính bản thân còn có sự
chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị và các bạn học cùng khóa.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc thầy Nguyễn Đức Dân, người đã
hết lòng hướng dẫn khoa học, giúp đỡ và động viên tôi.
Tôi xin trân trọng cảm ơn qúi thầy cô đã nhiệt tình đóng góp ý kiến và truyền
đạt cho tôi những kiến thức vô cùng qúi báu. Xin cảm ơn Phòng khoa học cô
ng
nghệ & sau đại học, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh,
Thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh,
Thư viện khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi thực
hiện và bảo vệ luận văn.
Sau cùng, tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã
cỗ vũ, khích lệ để tôi có thể yê
n tâm học tập và nghiên cứu.
Một lần nữa, tôi xin gửi đến tất cả lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất.
Thành phố Hồ Chí Minh, 2009
Lê Thị Thủy
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
PL : Phụ lục
tr. : Trang
& : và
/ : Hoặc/hay
N1a : Nhóm học sinh - sinh viên nam
N1b : Nhóm học sinh - sinh viên nữ
N2a : Nhóm người lao động nam
N2b : Nhóm người lao động nữ
N3 : Nhóm người nội trợ
TB : Trung bình
Phần lớn các nhà nghiên cứu cho là kênh bằng lời dùng để truyền đạt thông
tin, trong khi các kênh không bằng lời dùng để “thảo luận”. Vì vậy khi một tín hiệu
bằng lời không trùng khớp với kí hiệu không lời thì người ta trông đợi vào những
thông tin không lời nhiều hơn để nhận biết ý định và thông tin thực sự của n
gười
đối thoại.
Trong hệ thống giao tiếp không lời, cử chỉ là một phương tiện đặc trưng, tập
trung phản ánh nhiều thông tin sinh động nhất của con người. Thậm chí, có những
tình huống cử chỉ là công cụ giao tiếp duy nhất
1
.
Khi xét về ngôn ngữ cử chỉ, bàn tay là một mã giao tiếp phong phú nhất.
Krout [31, tr. 149] đã xác định được khoảng 5.000 kiểu cử chỉ khác nhau của bàn
tay diễn tả các cung bậc rất tinh tế của tình cảm và thái độ con người. Do vậy, việc
nghiên cứu ý nghĩa của các cử chỉ nói chung và cử chỉ bàn tay nói riêng là lĩnh vực
thu hút nhiều nhà nghiên cứu.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Những vấn đề cơ bản của ngôn
ngữ cử chỉ”. Như vậy,
đề tài sẽ mang những ý nghĩa sau:
- Về mặt lí luận: Đề tài vận dụng lí thuyết của Kí hiệu học để giải thích về
mặt kí hiệu của cử chỉ và lí thuyết Tâm lý học giao tiếp làm rõ các sắc thái biểu cảm
của con người trong mỗi cử chỉ.
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn hi vọng sẽ là tài liệu
tham khảo có ích cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
2. Lịch sử nghiên cứu vần đề
2.1. K
hái quát
Trong lịch sử của loài người, các nhà nghiên cứu nhận thấy vai trò của cử
chỉ, điệu bộ trong giao tiếp là vô cùng quan trọng.
môn nghiên cứu khoa học các động tác lấy xuất phát điểm chính từ luận đề về tính
hiệu lực chung của ngôn ngữ động tác.
Tuy nhiên, việc chối bỏ luận đề này đã mở đường c
ho nghiên cứu một cách
có hệ thống những kí hiệu động tác, trong tư cách một hệ thống sản sinh ý nghĩa.
Trong công trình Kí hiệu học sân khấu: nghệ thuật và điện ảnh của mình, Fischer
Lichte Erika [Dẫn theo 9, tr. 114 -115] đã đề cập đến 3 tác giả sau:
(1) Người đầu tiên là Wilhelm Wundt (nhà dân tộc học trong khu vực tiếng
Đức) trong tác phẩm 10
tập đồ sộ của ông về Tâm lí các dân tộc. Chương thứ hai về
Ngôn ngữ điệu bộ trong tập một mang tựa đề Ngôn ngữ của tác phẩm này, được
xuất bản năm 1900, thuật lại những cuộc tranh cãi quan trọng nhất về kí hiệu động
tác trong thời gian trước khi xuất hiện môn nghiên cứu ứng xử và giao tiếp hiện đại.
Nó cũng đồng thời thể hiện quá trình thử nghiệm đầu tiên, phân loại và hệ thống
hóa kí hiệu động tác một cách khoa học. Với những luận cứ và dẫn chứng thuyết
phục, Wundt đã cố gắng c
hứng minh sự phụ thuộc của những động tác đối với nền
văn hóa.
(2) Cũng mang tính mở đầu kỉ nguyên như vậy, trong vòng ảnh hưởng của
nền văn hóa Pháp là những kết quả nghiên cứu của Marcel Mauss, được tác giả tóm
tắt và giải thích trong bản thuyết trình về Những kĩ thuật cơ thể, báo cáo năm 1934
và xuất bản năm 1935. Trong tác phẩm này, Mauss đã trình bày rằng, không phải
chỉ những động tác trao đổi và thể hiện mà thậm chí cả những kĩ thuật của cơ thể
như ngủ, nghỉ ngơi, chuyển động, chăm sóc cơ thể, ăn uống, vv… trong mỗi một
nền văn hóa đều được thực hiện khác nha
u bởi vì những động tác thực hiện chúng
đều mang tính đặc thù của nền văn hóa.
(3) Tác phẩm thứ ba, cuối cùng đã chứng minh một cách quyết định tính sai
lầm của luận đề hiệu ứng chung là cuốn sách Gesture, Race and Culture của David
60, và xã hội bắt đầu biết
đến sự tồn tại của chúng chỉ sau khi Julius Fast công bố cuốn sách của mình vào
năm 1970” [24, tr. 8]. Cuốn sách tổng kết những nghiên cứu về các phương diện
giao tiếp không bằng lời do các nhà khoa học - hành vi học tiến hành trước năm
1970.
Hơn ba thập kỷ gần đây, ngôn ngữ cử chỉ đã và đang được giới nghiên cứu
trong và ngoài nước quan tâm, tìm hiểu. Theo tài liệu chúng tôi được biết, tính đến
nay, đề tài này đã có những c
ông trình tiêu biểu ở trong và ngòai nước như sau:
2.2. Những nghiên cứu tiêu biểu
2.2.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề ngôn ngữ cử chỉ đã sớm được một số nhà nghiên cứu nổi tiếng ở
nước ngoài quan tâm như: Fast Julius (1971), Gerand J. Nierenbegr & Henry
H.Calero (1971), Pease Allan (1981), Pease Allan & Barbara (2004), Fischer Lichte
Erika (1994), Roger E. Axtell (2003), Harry Collis (2000)… Luận văn xin điểm qua
những nét chính trong lí thuyết của các tác giả trên:
(1
) Fast Julius [41] với công trình Body language - được coi là tác phẩm
tiêu biểu đầu tiên quan tâm đến lĩnh vực ngôn ngữ cơ thể, tác giả đã phân tích các
nội dung khá phong phú gồm 11 chương như: The body is the message, the
wonderful world of touch, the silent language of love, body and language: use and
abuse…
(2) Gerard J. Nierenberg và Heney H. Calero [10] khai thác cử chỉ dưới góc
độ trạng thái tâm lí: cởi mở, tự vệ đánh giá, nghi ngờ, sẵn sàng, dè dặt, hợp tác,
giận dữ…
(3) Pease Allan [24] phân tích mỗi thành tố ngôn ngữ cử chỉ một cách riêng
biệt như: cử chỉ của lòng bàn tay, cử chỉ của bàn tay và cánh tay, cử chỉ của bàn
tay kết hợp với khuôn mặt, dấu hiệu của ánh mắt…Tác giả đã khảo sát những cử chỉ
này chủ yếu là ở những nền văn hóa của cộng đồng châu Âu và được rất nhiều độc
Down (cử chỉ giơ ngón cái lên và xuống), The High Five (hai người đánh lòng bàn
tay vào nhau)…
2.2.2. Những nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, bắt đầu từ những năm 90 của thế kỉ trước, vấn đề ngôn ngữ cử
chỉ cũng bắt đầu được nghiên cứu. Sau đây, người viết xin giới thiệu những nét cơ
bản của các tác giả: Trần Tuấn Lộ (1993), Nguyễn Văn Lê (1996), Nguyễn Thiện
Giáp (2005, 2007), M
inh Đức và Nam Việt (2007),… Đặc biệt là hai nhà nghiên
cứu Nguyễn Đức Dân (2006) và Nguyễn Quang (2008).
(1) Trần Tuấn Lộ [20] đã giới thiệu tới người học giáo trình “Tâm lý học
giao tiếp”. Trong tài liệu này, tác giả có trình bày khái lược về “Ngôn ngữ, cử chỉ,
cử động và hành động trong giao tiếp”.
(2) Nguyễn Văn Lê [18] trong tài liệu Giao tế nhân sự - Giao tiếp phi ngôn
ngữ chủ yếu chọn lọc, biên tập và giới thiệu 14 bài làm
hay của thí sinh thuộc
trường Đại học Tổng Hợp TP.Hồ Chí Minh. Sau đó, đến năm 1999, trong Nhập
môn khoa học giao tiếp [19], ông đã dành trọn một chương viết về Sự giao tiếp phi
ngôn ngữ. Ông phân loại giao tiếp phi ngôn ngữ bao gồm: nét mặt, tư thế, cử chỉ,
khoảng cách, trang phục, giao tiếp bằng đồ vật, khung cảnh tự nhiên và khung cảnh
xã hội.
(3) Nguyễn Thiện Giáp [11, tr. 26-29] đã xem T
huyết ngôn ngữ cử chỉ là
một trong những giả thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ. Nội dung này đã được mở
rộng thành Những yếu tố phi lời trong hội thoại [12, tr. 90-93]. Ông đánh giá:
“Những yếu tố phi lời xuất hiện song song với các tín hiệu bằng lời, hòa lẫn với các
tín hiệu bằng lời, cùng với các tín hiệu bằng lời hình thành nên một hệ thống gi
ao
tiếp trọn vẹn” [12, tr. 93]. Tuy nhiên, đây cũng chỉ mới là một vấn đề mới, bước
đầu được quan tâm xem xét trong những công trình nghiên cứu của tác giả.
(4) Minh Đức và Nam Việt [7] trong tác phẩm Ngôn ngữ của bàn tay có đề
để hà
nh xử cho phù hợp nơi công cộng.
- Ngôn ngữ bí ẩn của cơ thể (Decoding the secret language of your body) của
Rush Martin [35] trình bày với 4 chương cơ bản sau: lời than thở thì thầm của cơ
thể, những tiếng rên rỉ lớn hơn, cơ thể của phụ nữ nói thay cho tâm trí họ, những
tiếng kêu thét của phụ nữ…Tác giả đã mô tả cách thành công chữa trị bằng tâm lý ở
những bệnh nhân của m
ình. Nhưng ông còn muốn khái quát rộng hơn với thiện chí
đề ra phương cách phòng ngừa chung các bệnh tật, thậm chí cách tự nâng cao sức
khỏe nói chung.
Ngoài ra, còn một số bài viết được đăng trên các tạp chí, trang web đã nghiên
cứu nhiều khía cạnh khác nhau của ngôn ngữ cử chỉ:
- Trên các tạp chí:
+ “Lời chào với cái bắt tay với nụ cười”, Hoàng Tuệ , Ngôn ngữ (2), năm
1984.
+ “Bước đầu tìm hiểu giá trị thông báo của cử chỉ, điệu bộ ở người Việt
trong giao t
iếp”, Thục Khánh Ngôn ngữ, (3), năm 1990.
+ “Từ những cái bắt tay ở Giơnevơ tháng 7/1954”, Thạch Anh, Quan hệ
quốc tế, (21), năm 1991.
+ “Thử tìm hiểu về ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ”, Phi Tuyết Hinh , Ngôn ngữ,
(4), năm 1996.
+ “Ngôn ngữ cử chỉ trong dạy học ngoại ngữ”, Nguyễn Qúy Mão, Nghiên
cứu giáo dục, (299), năm
1997.
+ “Ánh mắt có thể gây chết người”, Quang Duy, Việt Nam và Đông Nam Á
ngày nay, (13), năm 1999.
+ “Cử chỉ - thứ ngôn ngữ không lời”, Nguyễn Đức Dân, “Kiến thức ngày
nay” (353), năm 2000.
gắn liền với giao tiếp hàng ngà
y của người Việt.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi muốn làm sáng tỏ những quan điểm lí luận về một
loại hình của ngôn ngữ không lời và những cử chỉ phổ biến trong giao tiếp hàng
ngày của người Việt, đặc biệt tìm hiểu những cử chỉ của bàn tay.
Như vậy, luận văn sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Xác định khái niệm, tầm
quan trọng và phân loại giao tiếp không lời và
những cử chỉ giao tiếp.
- Khảo sát những cử chỉ phổ biến trong giao tiếp hàng ngày của người
Việt.
- Tập trung khai thác về ngôn ngữ cử chỉ bàn tay.
Do điều kiện có hạn nên luận văn chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản của
ngôn ngữ cử chỉ trong giao tiếp của người bình thường, chỉ đi sâu vào phần trọng
tâm của những cử chỉ phổ biến trong giao tiếp hàng ngày của người Việt và khai
thác các cách thức và ý nghĩa biểu hiện những cử chỉ của bàn tay.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống: Người viết đọc tài liệu, các bài
viết có liên quan
trực tiếp và gián tiếp đến đề tài. Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu
ngôn ngữ cử chỉ, người viết rút ra những luận điểm, luận cứ nhằm làm sáng tỏ vấn
đề cần trình bày.
- Phương pháp miêu tả: Dựa vào nguồn gốc, đặc điểm và kết qủa khảo sát
của những cử chỉ để miêu
tả cách thức và nội dung biểu hiện của chúng.
- Phương pháp đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu
những nét tương đồng và dị biệt trong các hình thức và ý nghĩa thể hiện của các
ngôn ngữ cử chỉ mang tính văn hóa, nghề nghiệp, vị thế xã hội, độ tuổi, giới tính…
đến các bộ phận của bàn tay như bàn tay, cánh tay và ngón tay.
Chúng tôi kết hợp việc miêu tả hình thức thể hiện, nội dung ý
nghĩa và hình ảnh để làm sáng tỏ thêm nhiều giá trị thông tin
giao tiếp của ngôn ngữ bàn tay. Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ CỬ CHỈ
1.1. Giao tiếp không lời (non - verbal communication)
1.1.1. Giao tiếp không lời là gì?
Có thể nhận định rằng giao tiếp không lời là một loại hình giao tiếp rất quan
trọng trong quá trình giao tiếp của con người. Xuất phát từ nhiều góc độ tìm hiểu,
các nhà nghiên cứu đưa ra một số định nghĩa liên quan hoặc đề cập đến các bình
diện của giao tiếp không lời như sau:
Knapp phân tích: “Giao tiếp phi ngôn từ bao gồm các hành động hoặc các
biểu hiện ngoài ngôn từ. Các hành động hoặc biểu hiện vốn có ý nghĩa được chia sẻ
về mặt xã hội đó hoặc gửi đi một cách có chủ đích hoặc được diễn giải như là có
chủ đích và được gửi đi hoặc tiếp nhận. [
…] Giao tiếp phi ngôn từ là một thuật ngữ
để miêu tả tất cả các sự kiện giao tiếp vượt lên trên ngôn từ khẩu ngữ và bút ngữ”
[Dẫn theo 31, tr. 60].
Định nghĩa trên chỉ quan tâm đến những yếu tố phi ngôn từ được sử dụng
một cách có ý thức và chủ đích.
Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu hiện nay nhìn
chung đều thống nhất rằng giao tiếp phi ngôn từ bao gồm cả các yếu tố hữu thức và
vô thức, chủ định và vô tình. Đó cũng là một trong những lý do gây ra sự tranh cãi
hoặc hiểu lầm trong giao tiếp phi ngôn từ giữa các nền văn hóa của các quốc gia
khác nha
u và trong cùng một quốc gia.
Levine và Adelman cho rằng: Giao tiếp phi ngôn từ là ngôn ngữ “im lặng”
tố đó bao gồm như bối cảnh, diện mạo, cách ăn mặc, tư thế, điệu bộ, cử chỉ, khoảng
cách…Tác giả nhấn mạnh, phân tích hội thoại cần nghiên cứu các yếu tố phi lời.
Người ta chỉ có thể hiểu được đầy đủ các cách sử dụng tiếng Việt khi các yếu tố phi
lời được nghiên cứu đầy đủ.
Dưới góc độ ngôn ngữ văn hóa, Nguyễn Quang trình bày: “Giao tiếp phi
ngôn từ là toàn bộ các bộ phận kiến tạo nên giao tiếp không thuộc mã ngôn từ
(verbal code), có nghĩa là không được mã hoá bằng từ ngữ, nhưng có thể thuộc về
cả hai kênh (channels) ngôn thanh (vocal) v
à phi ngôn thanh (non- vocal). Nó bao
gồm các yếu tố cận ngôn (phi ngôn từ - ngôn thanh) như tốc độ, cường độ, ngữ lưu
…và các yếu tố ngoại ngôn (phi ngôn từ - phi ngôn thanh) thuộc ngôn ngữ thân thể
như cử chỉ, dáng điệu, hiện diện…, thuộc ngôn ngữ vật thể như áo quần, trang
sức,… và thuộc ngôn ngữ môi trường như khoảng cách đối thoại, địa điểm giao
tiếp…” [31, tr. 61].
Định nghĩa trên
đã bao quát được nhiều mặt của vấn đề. Tuy nhiên, chúng ta
có thể tạm mượn cách diễn đạt của Nguyễn Đức Dân để hiểu định nghĩa một cách
đơn giản hơn: “Giao tiếp không lời là giao tiếp qua những cử chỉ và chuyển động
của hình thể. [5, tr. 151]
3
.
1.1.2. Tầm quan trọng của giao tiếp không lời.
Trong giao tiếp, nếu thiếu ngôn ngữ không lời thì quá trình ấy sẽ trở nên tẻ
nhạt. Do đó, việc nghiên cứu nó trong tổng thể giao tiếp là một điều hiển nhiên. Có
thể khái quát thành ba lí do để lí giải tầm quan trọng của giao tiếp không lời như
sau:
- Thứ nhất, người ta dễ dàng ghi nhớ cái người ta nhìn thấy hơn cái người
ta nghe thấy.
(4) Giao tiếp không lời quan yếu.
Dưới góc độ tâm lí học giao tiếp, Nguyễn Văn Lê [19, tr. 46-72] phân tích
thành 8 kênh giao tiếp phi ngôn ngữ như sau:
(1) Kênh nét mặt
(2) Kênh tư thế hay sơ đồ thân thể
(3) Kênh trang phục
(4) Kênh khoảng cách
(5) Cử chỉ và hành động
(6) Giao tiếp bằng đồ vật
(7) Khung cảnh tự nhiên
(8) Khung cảnh xã hội
Các cách phân loại nêu trên, tuy có tạo ra sự đa dạng về tiểu loại nhưng
chúng có phần quá c
hi tiết (chẳng hạn việc phân chia kênh trang phục và kênh đồ
vật), chưa bao quát một cách triệt để các phạm trù của giao tiếp không lời. Vì thế,
luận văn nhận thấy cách phân loại của Nguyễn Qua
ng đã khái quát vấn đề một cách
hệ thống, có liên hệ so sánh, đối chiếu trong giao văn hóa, giữa giao tiếp không lời
và có lời, đồng thời kèm nhiều ví dụ minh họa thuyết phục.
Xuất phát điểm từ các yếu tố nội ngôn và các yếu tố cảnh huống gián tiếp
trong quá trình giao tiếp, Nguyễn Quang [31, tr. 80-81] phân loại rất chi tiết như
sau:
(1) Cận ngôn ngữ (Paralanguage): các đặc tính ngôn thanh, các yếu tố xen
ngôn thanh, các loại thanh lưu, im
lặng,…
(2) Ngoại ngôn ngữ (Extralanguage): ngôn ngữ thân thể (nhãn giao, diện
hiện, đặc tính thể chất, cử chỉ và chuyển động thân thể, tư thế, hành vi động
chạm…), ngôn ngữ vật thể (quần áo, đồ trang sức, trang điểm, nước hoa, hoa, quà
tặng…) và ngôn ngữ môi trường (địa điểm, khoảng cách đối thoại, thời gian, hệ
Còn Richards et al [Dẫn theo 31, tr.111] định nghĩa ngôn ngữ hình thể đơn
giản là:
…. “Việc sử dụng các diện hiện, các chuyển động thân thể v.v. để giao tiếp
một cách có ý nghĩa từ người này sang người khác
”
.
Với những định nghĩa đã nêu trên, người viết trình bày một số cách phân loại
như sau.
1.2.2. Phân loại ngôn ngữ hình thể
Quách Tuấn Khanh
4
[75] phân loại ngôn ngữ hình thể ra 3 phần chính:
(1) Nét mặt (cau có: khó chịu, tức giận; giãn căng: mãn nguyện, hài lòng,
v.v…
(2) Cử chỉ, động tác tay chân, giọng nói...(đứng chống tay: tư thế sẵn sàng
hoặc trạng thái hung hăng, tì tay vào má: mơ mộng, ước vọng gì đó, v.v…)
(3) Dáng cơ thể (ngẩng cao đầu, bước mạnh mẽ: tự tin, thoải mái, .v.v..)
Cách phân loại trên đã dùng những thuật ngữ phổ thông, dễ hiểu, dễ tiếp nhận
nhưng c
hưa bao quát các khía cạnh khác của ngôn ngữ hình thể.
Ray L. Birdwhistell [Dẫn theo 9, tr. 117], đại diện quan trọng nhất của môn
động tác học, đã tìm cách cô lập hóa và xác định những đơn vị động tác phân biệt
nhỏ nhất, tương tự như âm vị trong ngôn ngữ học. Ông đã phát triển một phuơng
thức ghi chú, cho phép ghi lại bất kì một chuyển động nào, dù là nhỏ nhất bằng
những kí hiệu đồ họa. Theo phương thức này, Birdwhistell [dẫn theo 10, tr.
117]
chia cơ thể người ra làm 8 miền, cụ thể là:
(1) Toàn bộ đầu
(2) Khuôn mặt
(1) Các hiện tố biểu tượng (Emblems)
Các hiện tố biểu tượng là những cử chỉ thuộc ngôn ngữ kí hiệu. Chúng được
sử dụng để thay thế các thông điệp ngôn từ; nói cách khác, đó là những cử chỉ độc
lập với ngôn từ và
bản thân chúng tạo ra một thông điệp độc lập. Ví dụ: Khi đi xe
đạp và muốn rẽ trái, người ta thường giơ bàn tay trái ra để xin đường.
(2) Các hiện tố minh hoạ (Illustrators)
Các hiện tố minh họa là các cử chỉ đi kèm và bổ sung cho các thông điệp
ngôn từ. Chúng được sử dụng để làm tăng sự sống động cũng như ý nghĩa của ngôn
từ và giao tiếp. Ví dụ: Khi nói về một nội dung nào đó liên quan đến số lượng nhỏ,
người ta thường dùng ngón tay để làm rõ số thứ tự của chúng. Hoặc khi nói: “Lại
đây”, chúng ta hay vẫy đối tác giao tiếp về phía mình.
(3) Các hiện tố điều chỉnh (Regulators)
Các hiện tố điều chỉnh thường được dùng với mục đích khống chế tương tác
ngôn từ; nói cách khác, chúng được sử dụng để duy trì và khống chế dòng nói -
nghe. Các hiện tố điều chỉnh giúp ta biết được liệu c
ó tiếp tục nói, nhắc lại, trình
bày kĩ hoặc đổi vai từ người nói sang người nghe hay không.
Ví dụ: Khi ta đang nói, đối thể giao tiếp định xen lời, ta giơ tay ra, bàn tay
vuông góc với cánh tay, lòng bàn tay hướng về đối thể giao tiếp với thông điệp
“Đừng ngắt lời. Để tôi nói tiếp”.
Hiện tố điều chỉnh cũng được hiểu là những hiện tố đi kèm với dòng ngữ lưu
với chức năng phân cắt các nhóm ngữ nghĩa, giữ nhịp và nhấn mạnh ý.
Ví dụ: Khi
nói, người ta giơ bàn tay chặt vào không khí mỗi khi kết thúc một nhóm ngữ nghĩa:
“Vấn đề này //cần phải được giải quyết // một cách triệt để // một cách quyết liệt //
để lấy lại lòng tin //của những người //đã tin tưởng chúng ta”.
(4) Các hiện tố ẩn cảm (Adaptors)
Các hiện tố ẩn cảm là n
. Các hành vi như
bú, ngáp, cười, khóc….thuộc về loại này.
c) Các hiện tố di truyền (Genetically transferred)
Các hiện tố kiểu này thường được di truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau,
Nếu thoạt nhìn, người ta có thể lầm tưởng chúng là các hiện tố m
ang tính cá nhân;
nhưng nếu bố mẹ, hoặc thậm chí ông bà, của người sở hữu những hiện tố loại này
cũng có các biểu hiện không lời tương tự thì ta có thể coi đây là các hiện tố di
truyền. Dân gian ta có câu: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”
hoặc “Giỏ nhà ai, quai nhà nấy”.
d) Các hiện tố cá nhân (lndividual)
Đây là loại hiện tố mà chỉ đối tượng khảo sát có. Loại hiện tố này giúp ta
nhận diện và ghi nhớ đối tượng nhanh và bền nhất. Ví dụ: Bất cứ một vật gì có thể
ăn được mà người đó có trong t
ay, anh ta đều giơ lên mũi ngửi trước khi đưa vào
miệng. Tuy nhiên, nếu loại hiện tố này được nhiều người bắt chước, nó sẽ không
còn là hiện tố cá nhân nữa.