Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng vươn lên phát triển mạnh mẽ. Cùng với
việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại quốc tế (gọi tắt là
WTO – World Trade Organization), con đường phát triển của nước ta đã mở rộng
trước mắt, với nhiều cơ hội cũng như thách thức mới. Cơ hội khi Việt Nam có thể
giao lưu kinh tế với các bạn nước ngoài, tăng cường sự ảnh hưởng của mình trên các
diễn đàn quốc tế và đặc biệt quan trọng khi nước ta có thể thu hút vốn lớn từ bên
ngoài để xây dựng cơ sở vật chất cho đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội
trên thì thách thức đặt ra cũng rất lớn. Việc thu hút vốn một mặt tạo cơ sở vật chất
cho nước ta, nhưng mặt khác đặt ra điều kiện mới khi nước ta phải đảm bảo việc sử
dụng vốn một cách có hiệu quả, không chỉ vốn nội lực mà còn có cả vốn vay nước
ngoài, bởi sử dụng hiệu quả vốn làm tiết kiệm thời gian cũng như tiền của, tạo điều
kiện cho kinh tế phát triển. Hơn nữa, nâng cao uy tín của nước ta, thu hút hơn nữa các
nhà đầu tư nước ngoài. Thách thức trên bắt buộc Việt Nam cần có những biện pháp
thích hợp nhằm kiểm soát, giám sát việc thực hiện các dự án đầu tư. Công tác giám
sát, đánh giá dự án đầu tư sẽ là công cụ trợ giúp đắc lực cho nhà nước trong việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Chuyên đề này nhằm tập trung viết về chất
lượng giám sát, đánh giá đầu tư của nước ta trong thời gian gần đây, qua đó đưa ra
một số kiến nghị nhằm góp phần cải thiện chất lượng công tác này. Chuyên đề có tên
“Nâng cao chất lượng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư tại Vụ Thẩm định
và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư” gồm 2 chương:
- Chương I: Thực trạng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư tại Vụ Thẩm
định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
- Chương II: Kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát, đánh
giá dự án đầu tư tại Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Việc hoàn thành được chuyên đề này, ngoài sự nỗ lực của bản thân có sự hướng
dẫn tận tình chu đáo của thầy giáo Tiến sỹ Từ Quang Phương - Chủ nhiệm Bộ môn
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kinh tế đầu tư - Trường đại học Kinh tế quốc dân. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành
vi toàn quốc ; giám sát, đánh giá các dự án đầu tư trong nước do Thủ tướng
Chính phủ quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc Thủ tướng giao ; phối hợp
với các đơn vị trong Bộ thực hiện đánh giá tổng thể đầu tư của nền kinh tế
quốc dân.
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
d) Tham gia nghiên cứu, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư ;
chủ trì soạn thảo các văn bản quy phạm cụ thể trong lĩnh vực thẩm định và
giám sát đầu tư ; hướng dẫn nghiệp vụ thẩm định, giám sát đầu tư cho các bộ,
ngành và địa phương.
e) Tổng kết, đánh giá, báo cáo về công tác thẩm định, giám sát các dự án đầu tư ;
cung cấp thông tin cần thiết cho mạng thông tin của Bộ.
f) Phối hợp với Văn phòng Bộ quản lý và sử dụng lệ phí thẩm định theo quy
định của Nhà nước.
g) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao
1.2.Cơ cấu tổ chức
Tính đến đầu năm 2006, tổng số cán bộ có 21 người, trong đó gồm 4 lãnh đạo
(1 vụ trưởng, 3 vụ phó), 17 chuyên viên (có 2 công chức dự bị). Vụ Thẩm định và
Giám sát đầu tư có cơ chế hoạt động khá đặc biệt: 1 chuyên viên có thể làm việc
cùng 1 lúc với cả 3 vụ phó.
2.Một số nhiệm vụ chính của Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư về Đánh giá
và Giám sát đầu tư
• Hướng dẫn, theo dõi và tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về công tác
giám sát, đánh giá đầu tư trong toàn quốc
• Tổ chức thực hiện đánh giá tổng thể đầu tư trong phạm vi toàn quốc theo từng
thời kỳ kế hoạch hoặc theo yêu cầu của Chính phủ và tổng hợp báo cáo đánh
giá tổng thể đầu tư hàng năm của các Bộ, ngành và địa phương để báo cáo
Thủ tướng Chính phủ
• Chủ trì và phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ quản lý ngành
và địa phương liên quan thực hiện giám sát, đánh giá các dự án quan trọng
thường xuyên hoạt động đầu tư thuộc phạm vi trách nhiệm của
mình
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Yêu cầu chủ đầu tư báo cáo hoặc tiến hành giám sát tại chỗ về vấn
đề cần tìm hiểu trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm các
quy định về quản lý đầu tư, những khó khăn vướng mắc trong quá
trình thực hiện dự án hoặc có những vấn đề chưa rõ trong Báo cáo
giám sát, đánh giá đầu tư của chủ đầu tư
3. Tổ chức đánh giá hoạt động đầu tư:
• Thực hiện nhiệm vụ đánh giá tổng thể đầu tư hoặc đánh giá dự án
(đánh giá đầu tư) vào thời điểm cần thiết theo yêu cầu của cơ quan
cấp trên hoặc của người quyết định đầu tư.
• Nhiệm vụ, nội dung và thời điểm đánh giá tổng thể đầu tư hoặc
đánh giá dự án đầu tư do cơ quan cấp trên hoặc người có thẩm
quyền quyết định đầu tư xem xét quyết định.
II.Thực trạng công tác giám sát và đánh giá đầu tư tại Vụ Thẩm
định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
A-Chế độ báo cáo và nội dung giám sát, đánh giá đầu tư tại Vụ
1.Nội dung giám sát, đánh giá đầu tư tại Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư
1.1. Đánh giá tổng thể đầu tư
Đánh giá tổng thể đầu tư bao gồm:
a) Đánh giá tổng thể đầu tư của nền kinh tế, ngành và địa phương, vùng lãnh thổ
Vụ có nhiệm vụ tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và kết quả đầu tư của
nền kinh tế, ngành, địa phương theo các chỉ tiêu phản ánh quy mô, tốc độ, cơ cấu,
tiến độ và hiệu quả đầu tư. Qua đó xác định các yếu tố, nguyên nhân ảnh hưởng
tới tình hình và kết quả đầu tư ; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư
trong kỳ hoặc giai đoạn kế hoạch sau ; Đánh giá tính khả thi của các quy hoạch,
kế hoạch được duyệt.
6
lượng, giải ngân) ảnh hưởng về môi trường và xã hội trong quá trình thực hiện
đầu tư.
• Trên cơ sở theo dõi, kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện dự án phát hiện
những vấn đề phát sinh, các sai phạm hoặc bất hợp lý, những khó khăn, vướng
mắc về cơ chế, chính sách cần giải quyết.
• Đề xuất các giải pháp, kiến nghị người có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc
cơ quan liên quan xem xét, giải quyết để đảm bảo tiến độ đầu tư.
c) Đánh giá sau thực hiện dự án đầu tư
• Đánh giá kết thúc quá trình đầu tư
Nhằm tổng hợp, đánh giá toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư một cách toàn
diện từ khâu chuẩn bị đến khâu hoàn thành dự án đưa vào khai thác sử dụng.
• Đánh giá quá trình khai thác, vận hành dự án
Nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư, phân tích tác động đối với dự án về các mặt
chính sách, sử dụng đất đai …và đề xuất các biện pháp để đảm bảo khai thác, vận
hành dự án có hiệu quả.
2.Báo cáo về giám sát đánh giá đầu tư
2.1.Chế độ báo cáo
Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư có nhiệm vụ trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư để
báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tổng thể đầu tư hàng năm và từng thời kỳ
kế hoạch theo yêu cầu của Chính phủ ; tổng hợp báo cáo về giám sát tổng thể đầu tư
6 tháng một lần ; báo cáo tổng hợp, giám sát, đánh giá dự án nhóm A trong phạm vi
toàn quốc một quý một lần
2.2.Thời hạn báo cáo định kỳ
• Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tổng thể đầu tư hàng năm trong
tháng 2 năm sau
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Báo cáo quý về giám sát đánh giá dự án đầu tư nhóm A trong tháng đầu của
quý sau.
B- Công tác tổ chức thực hiện giám sát, đánh giá dự án đầu tư
Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-KHĐT-UBTƯMTTQVN-TC ngày 04/12/2006
hướng dẫn thực hiện Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng.
Năm 2007, Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao nhiệm vụ xây dựng Luật về quản
lý đầu tư các dự án sử dụng vốn Nhà nước không nhằm mục đích kinh doanh (Luật
Đầu tư công) nhằm từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý đầu tư sử dụng
vốn Nhà nước. Ngoài ra, trong phạm vi chức năng quản lý Nhà nước của mình, các
Bộ, ngành, địa phương qua công tác rà soát đánh giá các văn bản pháp quy, đã tiếp
tục bổ sung, hoàn chỉnh hoặc ban hành những văn bản pháp quy mới để tăng cường
quản lý đầu tư và xây dựng có hiệu quả hơn. Điển hình như: Bộ Công nghiệp có Chỉ
thị số 06/CT-BCN ngày 28/03/2006 về tăng cường công tác quản lý đầu tư và xây
dựng nhằm chống thất thoát, lãng phí và các tiêu cực trong thực hiện đầu tư ; Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 18/2006/TT-BNN ngày
20/3/2006 hướng dẫn một số nội dung quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình
do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông quản lý ; Uỷ ban nhân dân Thành phố
Hải Phòng ban hành Chỉ thị số 21/2006/CT-UBND ngày 14/9/2006 về việc tăng
cường biện pháp chỉ đạo và xử lý các khoản nợ đọng xây dựng cơ bản đối với ngân
sách cấp huyện và xã ; Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Chỉ thị số
12/2006/CT-UBND ngày 10/4/2006 yêu cầu các đơn vị kiểm tra các dự án đầu tư (sử
dụng vốn Nhà nước) để kịp thời phát hiện, ngăn chặn những sai phạm, thiếu sót, lãng
phí, nhằm chấn chỉnh, khắc phục những yếu kém trong công tác quản lý, xử lý
nghiêm những sai phạm theo quy định, Chỉ thị số 34/2006/CT-UBND ngày
27/10/2006 về tổ chức công tác giám sát đàu tư cộng đồng ; Ủy ban nhân dân tỉnh
Khánh Hoà ban hành Chỉ thị số 28/2006/CT-UBND ngày 29/9/2006 về việc triển
khai thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư trên địa bàn tỉnh ; Uỷ ban nhân dân
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tỉnh An Giang, Đồng Tháp và một số địa phương khác có các Quyết định quy định
trình tự thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh và tăng cường công
tác giám sát, đánh giá đầu tư.
+Ban hành Thông tư trên cùng với việc phân cấp ngày càng mạnh mẽ cho các địa
phương.
Do vậy, công tác giám sát đánh giá dự án ngày càng được cải thiện. Giai đoạn
2004-2006, các đơn vị gửi báo cáo đều đặn hơn và không năm nào số đơn vị gửi báo
cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư dưới con số 90 đơn vị. Điều này cho thấy, các
văn bản pháp luật của Chính phủ có tính khả thi cao, các đơn vị ngày càng tuân thủ
nhiệm vụ quản lý đầu tư của mình.
Bảng 1: Tổng hợp đơn vị nộp báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư
Năm
Số đơn vị nộp báo cáo giám
sát đánh giá tổngthể đầu tư
2003 2004 2005 2006
55 95 93 90
% 43% 69.90% 68.90% 68.70%
Nguồn: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư-Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tuy nhiên, tính đến năm 2006 số đơn vị gửi báo cáo vẫn chỉ dao động dưới
mức 70%, chưa năm nào vượt qua mức này (năm cao nhất là 2004 đạt 69,9%). Đây là
mức vẫn còn thấp so với yêu cầu. Tỷ lệ nộp báo cáo thấp này gây cản trở tới việc
tổng hợp thông tin, số liệu để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, qua đó giúp Thủ tướng
thấy rõ được tình hình thực hiện quản lý đầu tư để có các biện pháp chấn chỉnh kịp
thời. Như vậy, tình hình chấp hành chế độ báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương và
các Tổng Công ty mặc dù có sự cố gắng và cải thiện nhiều qua từng năm nhưng nhìn
chung vẫn chưa nghiêm túc, thiếu sự cố gắng.
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2.Tình hình tổ chức thực hiện công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư giai
đoạn 2003-2006
2.2.1.Thực trạng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư chung của cả nước
giai đoạn 2003-2006
Giai đoạn 2003-2006, công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư của cả nước có
+Số dự án vi phạm đầu tư tăng lên với tốc độ rất nhanh, cùng với sự tăng lên của số
dự án thực hiện đầu tư. Năm 2003 mới chỉ có 1,4% số dự án thực hiện đầu tư vi
phạm thủ tục đầu tư. Các năm sau, số dự án vi phạm tăng cả về tuyệt đối lẫn tương
đối. Từ năm 2005, tốc độ tăng số dự án vi phạm thủ tục đầu tư có chiều hướng giảm
đi mặc dù vẫn tăng do có sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ trong công tác
giám sát và đánh giá dự án đầu tư. Trong số các nguyên nhân gây ra vi phạm thủ tục
đầu tư, các nguyên nhân như không phù hợp với quy hoạch được duyệt, không đúng
thẩm quyền và ký hợp đồng không đúng quy định trong năm 2003 không có hiện
tượng này xảy ra, tuy nhiên sang các năm sau đều phát sinh. Nguyên nhân chậm tiến
độ vẫn là nguyên nhân cơ bản chính. Tỷ lệ chậm tiến độ chỉ giảm giai đoạn
2003-2004 (về mặt tương đối) mặc dù vẫn tăng (về mặt tuyệt đối).Các năm khác tỷ lệ
này đều tăng (cả về tuyệt đối lẫn tương đối)
+Dự án phải điều chỉnh trong cả nước có xu hướng tăng về số lượng, trong đó điều
chỉnh về vốn đầu tư tăng mạnh nhất. Đáng chú ý và đáng mừng là số dự án hoạt động
không hiệu quả chiếm tỷ lệ rất ít (trên tổng số các dự án thực hiện đầu tư).
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 2: Tổng hợp báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư giai đoạn 2003-2006
Nguồn: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và đầu tư
Nă
m
Số dự án
thực hiện
đầu tư
Tổng
Số dự án
kết thúc
đưa vào
hoạt
động đầu
định dự
án
Đấu
thầu
không
đúng
quy
định
Bỏ giá
thầu
không
phù
hợp
Phê
duyệt
không
kịp
thời
Ký
hợp
đồng
không
đúng
quy
định
Chậm
tiến độ
Chất
lượng
xây
không
có hiệu
quả
200
3 5432 2057 2840 39 0 0 4 1 4 18 0 144 18 26 451 102 127 326 66
1
37.90% 52.30% 1.40% 0.00% 0.00% 0.10% 0.00% 0.10%
0.60
% 0.00% 5.10%
0.60
%
0.90
% 15.90% 3.60% 4.50%
11.50
% 2.30%
0.00%
200
4 20515 7344 12418 779 8 1 119 9 6 12 72 954 11 6 1347 341 454 892 267
3
35.80% 60.53% 3.80% 0.04% 0.00% 0.58% 0.04% 0.03%
0.06
% 0.35% 4.65%
0.05
%
0.03
% 6.57% 1.66% 2.21%
4.35
% 1.30%
0.01%
200
10.94
% 1.76%
0.02%
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2.2.Thực trạng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư của các Bộ -Cơ quan
ngang bộ, Cơ quan Chính phủ, các địa phương và các Tổng Công ty 91
a) Giám sát, đánh giá chung các dự án đầu tư của của các Bộ -Cơ quan ngang
Bộ, Cơ quan Chính phủ, các địa phương và các Tổng Công ty 91
*Thực hiện chế độ báo cáo về giám sát, đánh giá đầu tư
Công tác giám sát đánh giá dự án đầu tư được triển khai trên toàn đất nước.
Không chỉ thực hiện đối với các Thành phố lớn như Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng mà còn sát sao đến tận các tỉnh vùng sâu địa đầu Tổ quốc như Hà Giang, Lào
Cai … Các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan Chính phủ cũng như các Tổng Công ty
đã chấp hành việc thực hiện chế độ báo cáo về giám sát, đánh giá đầu tư để đảm bảo
kịp thời tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình quản lý đầu tư của cả
nước trong từng năm, từ đó có kế hoạch định hướng đầu tư cho những năm tiếp theo.
Báo cáo gửi về Bộ Kế hoạch đầu tư bao gồm cả báo cáo có số liệu cụ thể lẫn báo cáo
không có số liệu cụ thể. Ta có bảng số liệu sau đây:
Bảng 3: Báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư giai đoạn 2003-2006
Năm
Cơ quan
2003 2004 2005 2006
Tỉnh, Thành phố
27(61) 47(64) 53(64) 54(64)
44.26% 73.44% 82.81% 84.38%
Tổng Công ty 91
10(20) 17(19) 14(19) 8(19)
50% 89% 73.68% 42.11%
Bộ, Cơ quan ngang Bộ
Bộ. Đến cuối năm 2006 và tính đến đầu tháng 4/2007, con số này lên mức 56%, tăng
1,5 lần so với năm 2003. Tuy nhiên cần phải thấy rằng, mặc dù có tăng lên nhưng số
đơn vị nộp vẫn chiếm tỷ lệ thấp, chưa đạt yêu cầu. Đặc biệt, năm 2004 có 24 Bộ, Cơ
quan ngang Bộ nộp xong tới những năm sau giảm xuống chỉ còn 20. Đây là điều cần
xem xét vì số Bộ, Cơ quan ngang Bộ của năm 2004 đều bằng với năm 2005, 2006
nhưng số đơn vị nộp lại cao hơn. Như vậy, xét về tổng thể giai đoạn 4 năm thì các
Bộ, Cơ quan ngang Bộ có xu hướng thực hiện chế độ báo cáo giám sát đánh giá
nghiêm túc hơn. Trong giai đoạn tới, Thủ tướng Chính phủ cần phải có các quy định
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cũng như chỉ thị cụ thể yêu cầu các Bộ, Cơ quan ngang Bộ chấp hành nghiêm chỉnh
hơn nữa chế độ báo cáo giám sát đánh giá đầu tư, bởi đây là những cơ quan Nhà
nước quản lý các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, nếu không thực hiện nghiêm
túc thì khó có thể quản lý được tình hình thực hiện đầu tư trong các ngành kinh tế của
đất nước.
+Tổng Công ty 91: Năm 2003, số Tổng Công ty 91 nộp báo cáo giám sát đánh
giá tổng thể đầu tư chỉ khiêm tốn ở con số 10/20 đơn vị (50%). Trong đó, các Tổng
Công ty lớn như Tổng Công ty than, Tổng Công ty điện (nay là Tập đoàn điện lực
Việt Nam), Tổng Công ty ximăng, Tổng Công ty công nghiệp đóng tàu không có báo
cáo giám sát đánh giá. Đây là những Tổng Công ty mũi nhọn của Việt Nam, có tác
dụng định hướng phát triển nền kinh tế và chiếm tỷ trọng các dự án thực hiện đầu tư
rất lớn. Do vậy, số liệu báo cáo tổng hợp trình lên Thủ tướng là số liệu không đầy đủ,
không phản ánh đúng thực tế hoạt động đầu tư trong năm. Giai đoạn sau, tình hình
nộp báo cáo giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư của các Tổng Công ty này có sự cải
thiện rõ rệt. Các năm 2004, 2005 Tổng Công ty điện đều có báo cáo nộp Bộ Kế
hoạch và Đầu tư. Năm 2004, có 17/19 Tổng Công ty nộp báo cáo (chiếm 89%), tăng
đột biến so với năm 2003. Năm 2005 giảm chỉ còn 14/19 Tổng Công ty và giảm
mạnh nhất là vào năm 2006 chỉ có 8/19 đơn vị (chỉ chiếm 42%). Như vậy, sau khi
tăng mạnh vào năm 2004, năm 2006 số Tổng Công ty 91 thực hiện chế độ báo cáo lại
xuống thấp hơn (mặc dù số lượng Tổng Công ty 91 không hề giảm), do đó có thể
tư trong
năm
Số dự án
đã thực
hiện
GS,ĐG
đầu tư
trong
năm
1 2003
TỈnh,Thành phố
3018 9 284 2725 2024 1279 1011
0.30% 9.41% 90.29% 67.06% 42.38% 33.50%
Tổng công ty 91
1700 22 275 1403 389 627 1386
1.29% 16.18% 82.53% 22.88% 36.88% 81.53%
Bộ,Cơ quan
ngang Bộ
511 16 199 296 58 79 248
3.13% 38.94% 57.93% 11.35% 15.46% 48.53%
Cơ quan CP
203 2 41 160 116 72 195
0.99% 20.20% 78.82% 57.14% 35.47% 96.06%
2 2004
TỈnh,Thành phố
7942 56 1172 6631 3920 2532 3555
0.71% 0.71% 0.71% 0.71% 0.71% 0.71%
Tổng công ty 91
6316 91 581 5644 1767 1243 5918
1.4% 9.2% 89.4% 28.0% 19.7% 93.7%
Bộ,Cơ quan
ngang Bộ
7606 202 1366 6038 2993 1901 1542
2.66% 17.96% 79.38% 39.35% 24.99% 20.27%
Cơ quan CP
118 1 33 84 39 28 44
0.85% 27.97% 71.19% 33.05% 23.73% 37.29%
Nguồn: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Báo cáo của các địa phương, các Bộ-Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan Chính phủ
cũng như các Tổng Công ty gửi về nhìn chung có số liệu cụ thể về tình hình quản lý
dự án đầu tư nhóm A, B, C, cho thấy
- Về các dự án nhóm A, B, C:
*Ở các tỉnh, thành phố: Số dự án nhóm A thực hiện trong kỳ của các địa
phương trong 4 năm đạt tỷ lệ thấp. Năm 2003 chỉ có 9 dự án nhóm A được thực hiện,
chiếm 0.3% trong tổng số dự án thực hiện trong kỳ. Liên tục trong 4 năm, dự án
nhóm A chỉ tăng lên với tốc độ chậm, lên 0.71% vào năm 2004. Tuy nhiên, từ năm
2004 trở lại đây số dự án nhóm A thực hiện trong kỳ có xu hướng giảm. Nhìn chung,
dự án nhóm A có xu hướng tăng nhưng không nhiều, chưa có năm nào tăng vượt quá
tỷ lệ 1%. Số dự án nhóm A chiếm tỷ trọng rất ít trong tổng số các dự án thực hiện
trong kỳ chứng tỏ các dự án thực hiện đầu tư có vốn lớn chiếm ít, các dự án nhóm B,
C ít vốn hơn chiếm tỷ trọng lớn. Tổng số các dự án nhóm C chiếm nhiều nhất. Trong
4 năm, dự án nhóm C chiếm ưu thế hơn hẳn các dự án nhóm A, B mặc dù tỷ trọng
các dự án nhóm C có xu hướng giảm qua các năm. Năm 2003, số dự án nhóm C là
2725, đạt tỷ lệ 90.29% cao nhất trong 4 năm. Các năm 2004, 2005 và 2006 dao động
trên dưới 85% và chưa trở lại mức cao nhất năm 2003. Trong khi các dự án nhóm C
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
giảm thì các dự án nhóm B lại có xu hướng tăng, mạnh nhất vào năm 2005 đạt 1971
dự án (chiếm tỷ lệ 16.2%).
*Ở các Bộ, Cơ quan Ngang Bộ: Tỷ trọng các dự án nhóm C cũng chiếm ưu thế
ngày càng tăng mạnh mẽ trong giai đoạn 2003-2006.
*Ở Tổng Công ty 91: Số dự án thực hiện đầu tư của các Tổng Công ty 91 thấp
nhất vào năm 2003, chỉ có 1700 dự án. Tăng mạnh nhất năm 2004 khi có tới 6316 dự
án thực hiện đầu tư (tăng 370% so với năm 2003). Sở dĩ giai đoạn này có sự tăng đột
biến vì số lượng các dự án đầu tư của các Tổng Công ty tăng mạnh do nhu cầu mở
rộng sản xuất của các đơn vị này.
*Đối với các Bộ và Cơ quan ngang Bộ, số dự án đầu tư thực hiện có xu hướng
tăng rất nhanh và mạnh. Năm 2003 mới chỉ có 511 dự án (thấp nhất trong vòng 4
năm) thì sang năm 2004 đã tăng 11 lần lên 6008 dự án và cao nhất hiện nay là năm
2006 (7606 dự án). Điều này được lý giải cũng là do nhu cầu mở rộng sản xuất của
các doanh nghiệp, các đơn vị khi nền kinh tế đang trong thời kỳ mở cửa hội nhập với
khu vực và thế giới. Mặt khác, do các dự án thực hiện đầu tư ở các địa phương tăng
nên việc các dự án của Bộ và Cơ quan ngang Bộ thực hiện đầu tư tăng là việc dễ hiểu
(do các Bộ quản lý dọc chuyên ngành của mình còn các địa phương thực hiện việc
giám sát các dự án xây dựng ở địa phương mình).
Nhìn chung, các Bộ ngành, địa phương, Tổng Công ty 91 đều có xu hướng tăng
số lượng các dự án thực hiện đầu tư trong giai đoạn 2003-2006.
*Các Cơ quan Chính phủ: Có số lượng các dự án thực hiện đầu tư ít nhất trong
số các đơn vị. Số dự án chỉ dao động thấp nhất 115 năm 2004 và cao nhất chỉ là 249
dự án. Tuy nhiên, do số lượng báo cáo gửi về của các Cơ quan Chính phủ thấp nên
con số trên có thể chưa chính xác.
- Về số dự án kết thúc đưa vào hoạt động trong năm:
*Ở các Tỉnh, Thành phố:có xu hướng giảm ở các địa phương. Cao nhất là năm
2003 khi số dự án đưa vào hoạt động 42,38% trên tổng số dự án thực hiện đầu tư.
Các năm sau đều giảm, thấp nhất vào năm 2004 chỉ có 2532 dự án (chiếm 31,88%).
Số dự án kết thúc đưa vào hoạt động chỉ đạt tỷ lệ thấp như vậy (chưa năm nào vượt
quá 50%) chứng tỏ tình trạng giải ngân chậm. Theo báo cáo từ các địa phương, các
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tỉnh như Bà Rịa Vũng Tàu, Bắc Cạn, Đồng Tháp, Sơn La, Sóc Trăng, Tiền Giang, Hà
năm ở các Tổng Công ty 91 thấp nhất vào năm 2003 chỉ có 627 dự án (chiếm 36,88%
trên tổng các dự án thực hiện đầu tư) và cao nhất vào năm 2005 là 2293 dự án. Giai
đoạn 2003-2004 tăng mạnh nhất 98% (năm 2004 so với năm 2003).
*Ở các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, số dự án kết thúc đưa vào hoạt động trong kỳ
thay đổi thất thường, năm 2006 chỉ có 1901 dự án. Con số này thấp hơn rất nhiều so
với năm 2005 là 3136, tương tự năm 2004 cao nhất là 3508 dự án. Điều này cho thấy
số dự án kết thúc đưa vào hoạt động ngay trong kỳ ở các Bộ có xu hướng giảm.
Tựu chung lại, việc huy động dự án vào sử dụng ngay trong kỳ ở cả địa
phương, Bộ Cơ quan ngang bộ và Tổng Công ty đều thấp, tính trung bình thời gian
thực hiện dự án dài, nhiều khi có các dự án kéo dài hơn chục năm. Tài sản không phát
huy được tác dụng cho nền kinh tế gây thiệt hại lớn.
*Tại các Cơ quan Chính phủ, dự án đưa vào hoạt động đầu tư trong năm có xu
hướng giảm qua các năm, cao nhất là 72 dự án năm 2003 (35,47%) và xuống thấp
nhất là năm 2006 chỉ còn 28 (chiếm 23,73%) trên tổng số 118 dự án thực hiện đầu tư
trong năm này.
-Về số dự án đã thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư trong năm:
*Ở các Tỉnh, Thành phố: Qua bảng số liệu trên cho thấy, trong tổng số các dự
án thực hiện đầu tư, số dự án đã thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư trong năm ở các
địa phương chiếm tỷ lệ không cao lắm. Thấp nhất là vào năm 2003 khi số dự án thực
hiện giám sát đánh giá đầu tư chỉ đạt 1011 dự án (chiếm 33%). Tuy nhiên, con số này
tăng dần qua các năm. Năm 2006 đạt cao nhất, thể hiện ở số dự án thực hiện giám sát
đầu tư tăng gần gấp đôi so với năm 2005, đạt 10538 dự án (chiếm 61%). Điều này
cho thấy công tác thực hiện giám sát đánh giá đầu tư ngày càng được cải thiện, rõ nét
hơn trong các năm về sau. Năm 2004 tăng gấp hơn 3 lần năm 2003, năm 2005 tăng
1,5 lần năm 2004. Như vậy, về mặt tuyệt đối tăng rất nhanh (về mặt tương đối trong
2 năm 2004, 2005 tăng không nhiều do số dự án thực hiện đầu tư cũng tăng theo). Do
đó, công tác giám sát đánh giá được các địa phương chú trọng hơn giai đoạn trước.
Đồng thời, đây cũng là kết quả của việc Chính phủ đã có chủ trương đúng đắn, nhanh
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp