Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng vươn lên phát triển mạnh mẽ. Cùng với
việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại quốc tế (gọi tắt là
WTO – World Trade Organization), con đường phát triển của nước ta đã mở rộng
trước mắt, với nhiều cơ hội cũng như thách thức mới. Cơ hội khi Việt Nam có thể
giao lưu kinh tế với các bạn nước ngoài, tăng cường sự ảnh hưởng của mình trên các
diễn đàn quốc tế và đặc biệt quan trọng khi nước ta có thể thu hút vốn lớn từ bên
ngoài để xây dựng cơ sở vật chất cho đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội
trên thì thách thức đặt ra cũng rất lớn. Việc thu hút vốn một mặt tạo cơ sở vật chất
cho nước ta, nhưng mặt khác đặt ra điều kiện mới khi nước ta phải đảm bảo việc sử
dụng vốn một cách có hiệu quả, không chỉ vốn nội lực mà còn có cả vốn vay nước
ngoài, bởi sử dụng hiệu quả vốn làm tiết kiệm thời gian cũng như tiền của, tạo điều
kiện cho kinh tế phát triển. Hơn nữa, nâng cao uy tín của nước ta, thu hút hơn nữa các
nhà đầu tư nước ngoài. Thách thức trên bắt buộc Việt Nam cần có những biện pháp
thích hợp nhằm kiểm soát, giám sát việc thực hiện các dự án đầu tư. Công tác giám
sát, đánh giá dự án đầu tư sẽ là công cụ trợ giúp đắc lực cho nhà nước trong việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Chuyên đề này nhằm tập trung viết về chất
lượng giám sát, đánh giá đầu tư của nước ta trong thời gian gần đây, qua đó đưa ra
một số kiến nghị nhằm góp phần cải thiện chất lượng công tác này. Chuyên đề có tên
“Nâng cao chất lượng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư tại Vụ Thẩm định
và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư” gồm 2 chương:
- Chương I: Thực trạng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư tại Vụ Thẩm
định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
- Chương II: Kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát, đánh
giá dự án đầu tư tại Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Việc hoàn thành được chuyên đề này, ngoài sự nỗ lực của bản thân có sự hướng
dẫn tận tình chu đáo của thầy giáo Tiến sỹ Từ Quang Phương - Chủ nhiệm Bộ môn
1
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
làm việc của Hội đồng.
c) Làm đầu mối tổ chức thực hiện công tác giám sát tổng thể đầu tư trong phạm
vi toàn quốc ; giám sát, đánh giá các dự án đầu tư trong nước do Thủ tướng
Chính phủ quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc Thủ tướng giao ; phối hợp
3
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
với các đơn vị trong Bộ thực hiện đánh giá tổng thể đầu tư của nền kinh tế
quốc dân.
d) Tham gia nghiên cứu, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư ;
chủ trì soạn thảo các văn bản quy phạm cụ thể trong lĩnh vực thẩm định và
giám sát đầu tư ; hướng dẫn nghiệp vụ thẩm định, giám sát đầu tư cho các bộ,
ngành và địa phương.
e) Tổng kết, đánh giá, báo cáo về công tác thẩm định, giám sát các dự án đầu tư ;
cung cấp thông tin cần thiết cho mạng thông tin của Bộ.
f) Phối hợp với Văn phòng Bộ quản lý và sử dụng lệ phí thẩm định theo quy
định của Nhà nước.
g) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao
1.2.Cơ cấu tổ chức
Tính đến đầu năm 2006, tổng số cán bộ có 21 người, trong đó gồm 4 lãnh đạo
(1 vụ trưởng, 3 vụ phó), 17 chuyên viên (có 2 công chức dự bị). Vụ Thẩm định và
Giám sát đầu tư có cơ chế hoạt động khá đặc biệt: 1 chuyên viên có thể làm việc cùng
1 lúc với cả 3 vụ phó.
2.Một số nhiệm vụ chính của Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư về Đánh giá
và Giám sát đầu tư
• Hướng dẫn, theo dõi và tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về công tác
giám sát, đánh giá đầu tư trong toàn quốc
• Tổ chức thực hiện đánh giá tổng thể đầu tư trong phạm vi toàn quốc theo từng
thời kỳ kế hoạch hoặc theo yêu cầu của Chính phủ và tổng hợp báo cáo đánh
giá tổng thể đầu tư hàng năm của các Bộ, ngành và địa phương để báo cáo
• Tổ chức mạng thông tin liên thông để thu thập và cập nhật thông
tin, phối hợp theo dõi và đánh giá tình hình đầu tư
2. Kiểm tra, xem xét thường xuyên:
5
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư bằng việc kiểm tra, xem xét
thường xuyên hoạt động đầu tư thuộc phạm vi trách nhiệm của
mình
• Yêu cầu chủ đầu tư báo cáo hoặc tiến hành giám sát tại chỗ về vấn
đề cần tìm hiểu trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm các
quy định về quản lý đầu tư, những khó khăn vướng mắc trong quá
trình thực hiện dự án hoặc có những vấn đề chưa rõ trong Báo cáo
giám sát, đánh giá đầu tư của chủ đầu tư
3. Tổ chức đánh giá hoạt động đầu tư:
• Thực hiện nhiệm vụ đánh giá tổng thể đầu tư hoặc đánh giá dự án
(đánh giá đầu tư) vào thời điểm cần thiết theo yêu cầu của cơ quan
cấp trên hoặc của người quyết định đầu tư.
• Nhiệm vụ, nội dung và thời điểm đánh giá tổng thể đầu tư hoặc
đánh giá dự án đầu tư do cơ quan cấp trên hoặc người có thẩm
quyền quyết định đầu tư xem xét quyết định.
II.Thực trạng công tác giám sát và đánh giá đầu tư tại Vụ Thẩm
định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
A-Chế độ báo cáo và nội dung giám sát, đánh giá đầu tư tại Vụ
1.Nội dung giám sát, đánh giá đầu tư tại Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư
1.1. Đánh giá tổng thể đầu tư
Đánh giá tổng thể đầu tư bao gồm:
a) Đánh giá tổng thể đầu tư của nền kinh tế, ngành và địa phương, vùng lãnh thổ
Vụ có nhiệm vụ tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và kết quả đầu tư của
nền kinh tế, ngành, địa phương theo các chỉ tiêu phản ánh quy mô, tốc độ, cơ cấu,
nước, của ngành và địa phương áp dụng đối với dự án
• Đánh giá năng lực của Ban quản lý dự án theo phương thức thực hiện đầu tư
đã lựa chọn
7
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu (khối lượng, tiến độ, chất
lượng, giải ngân) ảnh hưởng về môi trường và xã hội trong quá trình thực hiện
đầu tư.
• Trên cơ sở theo dõi, kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện dự án phát hiện
những vấn đề phát sinh, các sai phạm hoặc bất hợp lý, những khó khăn, vướng
mắc về cơ chế, chính sách cần giải quyết.
• Đề xuất các giải pháp, kiến nghị người có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc
cơ quan liên quan xem xét, giải quyết để đảm bảo tiến độ đầu tư.
c) Đánh giá sau thực hiện dự án đầu tư
• Đánh giá kết thúc quá trình đầu tư
Nhằm tổng hợp, đánh giá toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư một cách toàn
diện từ khâu chuẩn bị đến khâu hoàn thành dự án đưa vào khai thác sử dụng.
• Đánh giá quá trình khai thác, vận hành dự án
Nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư, phân tích tác động đối với dự án về các mặt
chính sách, sử dụng đất đai …và đề xuất các biện pháp để đảm bảo khai thác, vận
hành dự án có hiệu quả.
2.Báo cáo về giám sát đánh giá đầu tư
2.1.Chế độ báo cáo
Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư có nhiệm vụ trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư để
báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tổng thể đầu tư hàng năm và từng thời kỳ
kế hoạch theo yêu cầu của Chính phủ ; tổng hợp báo cáo về giám sát tổng thể đầu tư
6 tháng một lần ; báo cáo tổng hợp, giám sát, đánh giá dự án nhóm A trong phạm vi
toàn quốc một quý một lần
2.2.Thời hạn báo cáo định kỳ
nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật
Doanh nghiệp và Luật Đầu tư ; Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 ban
9
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, Nghị định số
112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 về sửa đổi bổ sung một số đièu của Nghị định số
16/2005/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Liên Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Tài Chính đã ban hành
Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-KHĐT-UBTƯMTTQVN-TC ngày 04/12/2006
hướng dẫn thực hiện Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng.
Năm 2007, Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao nhiệm vụ xây dựng Luật về quản
lý đầu tư các dự án sử dụng vốn Nhà nước không nhằm mục đích kinh doanh (Luật
Đầu tư công) nhằm từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý đầu tư sử dụng
vốn Nhà nước. Ngoài ra, trong phạm vi chức năng quản lý Nhà nước của mình, các
Bộ, ngành, địa phương qua công tác rà soát đánh giá các văn bản pháp quy, đã tiếp
tục bổ sung, hoàn chỉnh hoặc ban hành những văn bản pháp quy mới để tăng cường
quản lý đầu tư và xây dựng có hiệu quả hơn. Điển hình như: Bộ Công nghiệp có Chỉ
thị số 06/CT-BCN ngày 28/03/2006 về tăng cường công tác quản lý đầu tư và xây
dựng nhằm chống thất thoát, lãng phí và các tiêu cực trong thực hiện đầu tư ; Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 18/2006/TT-BNN ngày
20/3/2006 hướng dẫn một số nội dung quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình
do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông quản lý ; Uỷ ban nhân dân Thành phố
Hải Phòng ban hành Chỉ thị số 21/2006/CT-UBND ngày 14/9/2006 về việc tăng
cường biện pháp chỉ đạo và xử lý các khoản nợ đọng xây dựng cơ bản đối với ngân
sách cấp huyện và xã ; Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Chỉ thị số
12/2006/CT-UBND ngày 10/4/2006 yêu cầu các đơn vị kiểm tra các dự án đầu tư (sử
dụng vốn Nhà nước) để kịp thời phát hiện, ngăn chặn những sai phạm, thiếu sót, lãng
phí, nhằm chấn chỉnh, khắc phục những yếu kém trong công tác quản lý, xử lý
*Nguyên nhân: giải thích cho việc tăng đột biến là do:
+Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 03/2003/TT-BKH ngày 19 tháng 5
năm 2003 hướng dẫn công tác giám sát, đánh giá đầu tư cho các đơn vị quản lý Nhà
nước về đầu tư cũng như các chủ đầu tư có dự án đầu tư đang triển khai.
11
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+Quốc hội đã ra Nghị quyết và Thủ tướng có Chỉ thị quy định về công tác giám sát
đánh giá đầu tư. Do vậy, quy định trách nhiệm và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý
và chủ đầu tư tăng lên, bắt buộc những đơn vị này phải có trách nhiệm báo cáo tình
hình thực hiện dự án đầu tư lên Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
+Ban hành Thông tư trên cùng với việc phân cấp ngày càng mạnh mẽ cho các địa
phương.
Do vậy, công tác giám sát đánh giá dự án ngày càng được cải thiện. Giai đoạn
2004-2006, các đơn vị gửi báo cáo đều đặn hơn và không năm nào số đơn vị gửi báo
cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư dưới con số 90 đơn vị. Điều này cho thấy, các
văn bản pháp luật của Chính phủ có tính khả thi cao, các đơn vị ngày càng tuân thủ
nhiệm vụ quản lý đầu tư của mình.
Bảng 1: Tổng hợp đơn vị nộp báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư
Năm
Số đơn vị nộp báo cáo giám
sát đánh giá tổngthể đầu tư
2003 2004 2005 2006
55 95 93 90
% 43% 69.90% 68.90% 68.70%
Nguồn: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư-Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tuy nhiên, tính đến năm 2006 số đơn vị gửi báo cáo vẫn chỉ dao động dưới
mức 70%, chưa năm nào vượt qua mức này (năm cao nhất là 2004 đạt 69,9%). Đây là
mức vẫn còn thấp so với yêu cầu. Tỷ lệ nộp báo cáo thấp này gây cản trở tới việc
tổng hợp thông tin, số liệu để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, qua đó giúp Thủ tướng
lớn cho những công trình này khiến nhiều dự án khác không có đất để triển khai, làm
giảm sức cạnh tranh của môi trường đầu tư nước ta. Giải ngân chậm cũng là nguyên
nhân làm Việt Nam trong nhiều năm liền không được nhà đầu tư nước ngoài tin
tưởng đầu tư.
+Tỷ lệ số dự án được giám sát đánh giá tăng trong giai đoạn 2003-2004, 2005-2006
và giảm giai đoạn 2004-2005. Năm 2004 tỷ lệ số dự án này cao nhất (60,53%) là năm
13
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công tác giám sát, đánh giá dự án thực hiện tốt nhất trong cả nước. Năm 2005, việc
thực hiện nhiệm vụ này giảm sút mạnh, chỉ còn 45,78%. Năm này công tác thực hiện
kém nghiêm túc nhất trong toàn giai đoạn 2003-2006. Sang năm 2006, công tác này
được chấn chỉnh, do đó số dự án được giám sát, đánh giá đã tăng lên.
+Số dự án vi phạm đầu tư tăng lên với tốc độ rất nhanh, cùng với sự tăng lên của số
dự án thực hiện đầu tư. Năm 2003 mới chỉ có 1,4% số dự án thực hiện đầu tư vi
phạm thủ tục đầu tư. Các năm sau, số dự án vi phạm tăng cả về tuyệt đối lẫn tương
đối. Từ năm 2005, tốc độ tăng số dự án vi phạm thủ tục đầu tư có chiều hướng giảm
đi mặc dù vẫn tăng do có sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ trong công tác
giám sát và đánh giá dự án đầu tư. Trong số các nguyên nhân gây ra vi phạm thủ tục
đầu tư, các nguyên nhân như không phù hợp với quy hoạch được duyệt, không đúng
thẩm quyền và ký hợp đồng không đúng quy định trong năm 2003 không có hiện
tượng này xảy ra, tuy nhiên sang các năm sau đều phát sinh. Nguyên nhân chậm tiến
độ vẫn là nguyên nhân cơ bản chính. Tỷ lệ chậm tiến độ chỉ giảm giai đoạn 2003-
2004 (về mặt tương đối) mặc dù vẫn tăng (về mặt tuyệt đối).Các năm khác tỷ lệ này
đều tăng (cả về tuyệt đối lẫn tương đối)
+Dự án phải điều chỉnh trong cả nước có xu hướng tăng về số lượng, trong đó điều
chỉnh về vốn đầu tư tăng mạnh nhất. Đáng chú ý và đáng mừng là số dự án hoạt động
không hiệu quả chiếm tỷ lệ rất ít (trên tổng số các dự án thực hiện đầu tư).
14
14
vì các
lý do
khác
nhau
Số dự
án
đưa vào
hoạt
động
nhưng
không
có hiệu
quả
Tổng Tổng
Không
phù
hợp với
quy
hoạch
Không
đúng
thẩm
quyền
Không
thực
hiện
đầy đủ
trình tự
thẩm
tra,
xây
dựng
thấp
Có
lãng
phí
Tổng
Nội
dung
đầu tư
Tiến
độ đầu
tư
Vốn
đầu tư
200
3 5432 2057 2840 39 0 0 4 1 4 18 0 144 18 26 451 102 127 326 66
1
37.90% 52.30% 1.40% 0.00% 0.00% 0.10% 0.00% 0.10%
0.60
% 0.00% 5.10%
0.60
%
0.90
% 15.90% 3.60% 4.50%
11.50
% 2.30%
0.00%
200
4 20515 7344 12418 779 8 1 119 9 6 12 72 954 11 6 1347 341 454 892 267
13.39
% 0.10% 0.02% 0.03% 0.15% 0.05%
0.10
% 0.02%
13.15
%
0.05
%
0.03
% 16.74% 3.74%
10.94
%
10.94
% 1.76%
0.02%
15
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguồn: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và đầu tư
16
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2.2.Thực trạng công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư của các Bộ -Cơ quan
ngang bộ, Cơ quan Chính phủ, các địa phương và các Tổng Công ty 91
a) Giám sát, đánh giá chung các dự án đầu tư của của các Bộ -Cơ quan ngang
Bộ, Cơ quan Chính phủ, các địa phương và các Tổng Công ty 91
*Thực hiện chế độ báo cáo về giám sát, đánh giá đầu tư
Công tác giám sát đánh giá dự án đầu tư được triển khai trên toàn đất nước.
Không chỉ thực hiện đối với các Thành phố lớn như Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng mà còn sát sao đến tận các tỉnh vùng sâu địa đầu Tổ quốc như Hà Giang, Lào
trong giai đoạn 2003-2006, số địa phương nộp báo cáo tăng gấp đôi, từ 27 tỉnh, thành
phố lên 54 địa phương. Như vậy, số lượng địa phương nộp tăng theo chiều hướng
tích cực, tăng đều qua các năm và có xu hướng năm sau cao hơn năm trước. Giai
đoạn về sau 2005-2006 số địa phương nộp báo cáo tăng chậm. Theo giải thích trên
đây, việc những năm sau năm 2003 các tỉnh thành phố nộp báo cáo tăng lên là do Thủ
tướng, Chính phủ đã ban hành nhiều quy chế, thông tư quy định trách nhiệm, nhiệm
vụ ngày càng tăng cho các địa phương. Hơn nữa, việc phân cấp quản lý ngày càng
mạnh, các địa phương ngày càng được giao nhiệm vụ trọng trách nặng nề hơn, quản
lý nhiều dự án lớn với mức vốn lớn nên công tác giám sát đánh giá được Chính phủ
quản lý chặt chẽ, tránh gây ra các hậu quả thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, của
công dân.
+Bộ và Cơ quan ngang Bộ: Số lượng các báo cáo giám sát, đánh giá tổng thể
đầu tư do các Bộ và Cơ quan chủ quản gửi về có gia tăng về số lượng cũng như chất
lượng báo cáo, cho thấy các Bộ đã có ý thức chấp hành nghiêm túc các Nghị quyết
của Quốc hội và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Bảng số liệu trên cho thấy, các Bộ
tiến hành gửi báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư ngày càng đều đặn hơn. Trong 2 năm
liên tiếp 2005-2006, số đơn vị gửi báo cáo không thay đổi, duy trì được tỷ lệ 20 đơn
vị. Năm 2003 số đơn vị nộp báo cáo chỉ có 34% trên tổng số Bộ và Cơ quan ngang
Bộ. Đến cuối năm 2006 và tính đến đầu tháng 4/2007, con số này lên mức 56%, tăng
1,5 lần so với năm 2003. Tuy nhiên cần phải thấy rằng, mặc dù có tăng lên nhưng số
đơn vị nộp vẫn chiếm tỷ lệ thấp, chưa đạt yêu cầu. Đặc biệt, năm 2004 có 24 Bộ, Cơ
quan ngang Bộ nộp xong tới những năm sau giảm xuống chỉ còn 20. Đây là điều cần
xem xét vì số Bộ, Cơ quan ngang Bộ của năm 2004 đều bằng với năm 2005, 2006
nhưng số đơn vị nộp lại cao hơn. Như vậy, xét về tổng thể giai đoạn 4 năm thì các
Bộ, Cơ quan ngang Bộ có xu hướng thực hiện chế độ báo cáo giám sát đánh giá
nghiêm túc hơn. Trong giai đoạn tới, Thủ tướng Chính phủ cần phải có các quy định
18
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cũng như chỉ thị cụ thể yêu cầu các Bộ, Cơ quan ngang Bộ chấp hành nghiêm chỉnh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các báo cáo gửi về giảm trong hoàn cảnh số đơn vị tăng lên cho thấy việc chấp hành
chế độ báo cáo ở các Cơ quan Chính phủ chưa nghiêm túc.
*Tình hình cụ thể công tác giám sát, đánh giá đầu tư ở các Bộ - Cơ quan ngang
Bộ, Cơ quan Chính phủ, Tỉnh - Thành phố và các Tổng Công ty 91
Ta có bảng số liệu sau đây:
Bảng 4: Tổng hợp số liệu các dự án đầu tư giai đoạn 2003-2006
STT Năm
Cơ quan
Số dự án thực hiện đầu tư
Số dự án
quyết
định
đầu tư
Số dự án
kết thúc
đưa vào
hoạt
động đầu
tư trong
năm
Số dự án
đã thực
hiện
GS,ĐG
đầu tư
trong
năm
Tổng Nhóm A Nhóm B Nhóm C
1 2003
3 2005
TỈnh,Thành phố
12165 73 1971 9966 4693 4462 5331
0.60% 16.20% 81.92% 38.58% 36.68% 43.82%
Tổng công ty 91
4727 71 610 3891 1558 2293 4450
1.50% 12.90% 82.31% 32.96% 48.51% 94.14%
Bộ,Cơ quan
ngang Bộ
7357 279 1907 5160 1507 3136 1322
3.79% 25.92% 70.14% 20.48% 42.63% 17.97%
Cơ quan CP
115 3 58 54 38 40 52
2.61% 50.43% 46.96% 33.04% 34.78% 45.22%
4 2006
TỈnh,Thành phố
17371 88 2065 15218 5957 6583 10538
0.51% 11.89% 87.61% 34.29% 37.90% 60.66%
Tổng công ty 91
2245 11 432 1802 974 1242 1920
0.49% 19.24% 80.27% 43.39% 55.32% 85.52%
Bộ,Cơ quan
ngang Bộ
7606 202 1366 6038 2993 1901 1542
2.66% 17.96% 79.38% 39.35% 24.99% 20.27%
Cơ quan CP
118 1 33 84 39 28 44
0.85% 27.97% 71.19% 33.05% 23.73% 37.29%
Nguồn: Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Báo cáo của các địa phương, các Bộ-Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan Chính phủ
*Ở các Tổng Công ty 91, số lượng dự án nhóm A rất ít, chỉ đạt cao nhất về số
lượng là 91 dự án vào năm 2004. Trong đó, Tổng Công ty điện là đơn vị liên tục 2
năm 2004-2005 có số dự án nhóm A cao nhất lần lượt là 51 và 61. Đây đồng thời
cũng là đơn vị có số dự án thực hiện đầu tư lớn nhất trong số các Tổng Công ty 91,
năm 2004 đạt số lượng dự án nhóm A cao nhất là 3559 dự án.
Như vậy, với số liệu trong bảng 2 có thể thấy, xu hướng các dự án lớn và vừa
(nhóm A và nhóm B) có xu hướng tăng theo thời gian, mặc dù với tốc độ chậm nhưng
phản ánh các dự án có vốn đầu tư lớn đang tăng dần, thể hiện nền kinh tế các địa
phương đang ngày càng phát triển, ngày càng tạo ra nhiều tài sản cho nền kinh tế
quốc dân.
-Về số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ:
*Ở các Tỉnh, Thành phố: Theo các báo cáo trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng
số các dự án thực hiện đầu tư trong kỳ ở các địa phương tăng qua các năm. Nếu như
năm 2003, số dự án đầu tư thực hiện chỉ là 3018 dự án thì đến năm 2006 đã tăng lên
gấp gần 6 lần là 17371 dự án. Như vậy, số các dự án được thực hiện đầu tư tại các địa
phương tăng lên rất nhanh trong 4 năm, cho thấy tình hình triển khai các dự án đầu tư
được các địa phương tích cực giúp đỡ, cấp giấy phép thực hiện nhanh chóng. Các địa
phương đã rất tích cực hỗ trợ chủ đầu tư thực hiện dự án thông qua cơ chế ngày càng
22
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thông thoáng, thời gian cấp phép thực hiện đầu tư ngày một rút ngắn. Đồng thời, số
dự án thực hiện đầu tư tăng lên cũng phản ánh sự phát triển của nền kinh tế đất nước
ngày càng tăng mạnh mẽ trong giai đoạn 2003-2006.
*Ở Tổng Công ty 91: Số dự án thực hiện đầu tư của các Tổng Công ty 91 thấp
nhất vào năm 2003, chỉ có 1700 dự án. Tăng mạnh nhất năm 2004 khi có tới 6316 dự
án thực hiện đầu tư (tăng 370% so với năm 2003). Sở dĩ giai đoạn này có sự tăng đột
biến vì số lượng các dự án đầu tư của các Tổng Công ty tăng mạnh do nhu cầu mở
rộng sản xuất của các đơn vị này.
*Đối với các Bộ và Cơ quan ngang Bộ, số dự án đầu tư thực hiện có xu hướng
nhưng số dự án dự kiến (gồm cả nhóm A, B và C) kết thúc đưa vào hoạt động đầu tư
trong kỳ trong các năm về mặt tuyệt đối có tăng lên. Năm 2003 con số này là 1279 dự
án, đến năm 2004 đã tăng gấp đôi lên 2532 và lần lượt các năm 2005 và 2006 là 4462
và 6583 dự án kết thúc đầu tư đưa vào hoạt động trong năm. Các địa phương cũng đã
có nhiều cố gắng tập trung các nguồn lực về nhân lực, về tài chính và cải tiến các quy
định quản lý, nhằm đẩy nhanh tiến độ đầu tư, huy động nhanh và có hiệu quả các
nguồn lực cho phát triển, rút ngắn thời gian đầu tư, nhanh chóng đưa dự án vào sử
dụng. Điển hình như Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bằng việc chỉ đạo sát
sao, kiểm tra chặt chẽ tình hình thực hiện đầu tư thực tế, trong quý 4 năm 2006 đã cắt
giảm vốn kế hoạch của 15 dự án, công trình đầu tư với kinh phí trên 67 tỷ đồng để
điều tiết, bổ sung cho các dự án có khả năng sử dụng hết vốn nhằm đẩy nhanh tiến độ
thi công, sớm hoàn thành công trình đưa vào sử dụng. Tình trạng giải ngân chậm diễn
ra trong ngành giáo dục gây không ít khó khăn. Nguồn vốn công trái giáo dục nhìn
chung giải ngân chậm, kế hoạch năm 2005 phải hoàn thành mục tiêu kiên cố hoá
trường học, nhưng đến hết tháng 8 năm 2005 chương trình này mới giải ngân được
68,4% so với tổng vốn Trung ương đã chuyển cho các địa phương. Các tỉnh giải ngân
chậm trong nhiều năm là Bắc Kạn, Cao Bằng, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Thanh
Hoá, Đắc Lắc, Bình Định, Lâm Đồng. Theo kế hoạch của Chính phủ, chương trình
kiên cố hoá trường lớp học phải kết thúc cuối năm 2005, tuy nhiên cho đến cuối năm
2006 thì vẫn còn gần 28% số phòng học cần xây dựng nhưng vẫn chưa được triển
khai.
24
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
*Ở các Tổng Công ty 91: Số lượng các dự án kết thúc đưa vào hoạt động trong
năm ở các Tổng Công ty 91 thấp nhất vào năm 2003 chỉ có 627 dự án (chiếm 36,88%
trên tổng các dự án thực hiện đầu tư) và cao nhất vào năm 2005 là 2293 dự án. Giai
đoạn 2003-2004 tăng mạnh nhất 98% (năm 2004 so với năm 2003).
*Ở các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, số dự án kết thúc đưa vào hoạt động trong kỳ
thay đổi thất thường, năm 2006 chỉ có 1901 dự án. Con số này thấp hơn rất nhiều so