Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cố phần xây dựng đô thị và phát triển nông thôn - Pdf 12

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước,
các doanh nghiệp đã và đang đổi mới một cách mạnh mẽ và toàn diện, từng
bước vươn lên khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế. Kinh nghiệm
những năm qua cho thấy rằng để tồn tại, phát triển và chiến thắng trong cạnh
tranh, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao tính độc lập, tự chủ trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp
phải quản lý, sử dụng, khai thác tối ưu nguồn vốn để phục vụ cho quá trình
kinh doanh của mình, trong đó vốn lưu động là nhân tố trực tiếp quyết định
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Xuất phát từ thực tế đó và qua thời gian tìm hiểu thực tế tình hình tại
Công ty Cố Phần Xây Dựng Và Phát Triển Nông Thôn, em đã quyết định
chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cố phần
xây dựng đô thị và phát triển nông thôn”.
Nội dung của chuyên đề ngoài gồm phần mở đầu, phần kết luận và 3
phần:
- Phần 1: Lý luận chung về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp trong nền kinh tế.
- Phần 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty Cổ
Phần Xây Dựng Đô Thị Và Phát Triển Nông Thôn.
- Phần 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công
ty Cổ Phần Xây Dựng Đô Thị Và Phát Triển Nông Thôn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các anh chị tại công ty
Cố Phần Xây Dựng Đô Thị Và Phát Triển Nông Thôn, đặc biệt là sự hướng
dẫn và ý kiến quý báu của thầy Đàm Văn Huệ, đã giúp đỡ và tạo điều kiện
tốt cho em hoàn thành chuyên đề thực tốt nghiệp này.
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
1
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ

Vốn dự trữ sản
xuất
Mua vật tư
Sản xuất
Vốn trong sản
xuất
Hàng hoá Sản phẩm
Chuyên đề tốt nghiệp
Điều khác biệt lớn nhất giữa vốn lưu động và vốn cố định là: vốn cố
định chuyển dần giá trị của nó vào sản phẩm thông qua mức khấu hao, còn
vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của nó vào sản phẩm thông theo chu kỳ
sản xuất kinh doanh.
1.1.2. Phân loại vốn lưu động
Trong doanh nghiệp vấn đề tổ chức và quản lý vốn lưu động có một
vai trò quan trọng. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì
càng có thể sản xuất được nhiều sản phẩm nghĩa là càng tổ chức tốt được
quá trình mua sắm, quá trình sản xuất và tiêu thụ, phân bổ hợp lý vốn trên
các giai đoạn luân chuyển để vốn đó chuyển biến nhanh từ một loại này
thành một loại khác, từ hình thái này thành hình thái khác thì việc sử dụng
vốn lưu động đạt hiệu quả cao hơn.
Để quản lý tốt vốn lưu động cần phân loại vốn lưu động
Vốn lưu động của doanh nghiệp, dựa theo vai trò của nó trong quá
trình tái sản xuất, được chia thành ba loại, trong mỗi loại dựa theo công
dụng lại được chia thành nhiều khoản vốn cụ thể như sau:
a. Vốn lưu động nằm trong quá trình dự trữ sản xuất
Loại này bao gồm các khoản vốn:
- Vốn nguyên vật liệu chính là số tiền biểu hiện trị giá các loại vật tư
dự trữ cho sản xuất, khi tham gia sản xuất nó hợp thành thực thể của sản
phẩm. Ví dụ trong công nghiệp: quặng sắt, bông, thép, gỗ… trong xây dựng
cơ bản: xi măng, gạch ngói….trong nông nghiệp: giống, cây trồng, thức ăn

chuẩn bị cho các công việc tiêu thụ.
- Vốn tiền tệ bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng mà trong
quá trình luân chuyển vốn lưu động thường xuyên có bộ phận tồn tại dưới
hình thức này.
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
5
Chuyên đề tốt nghiệp
- Vốn thanh toán là những khoản phải thu, tạm ứng phát sinh trong
quá trình mua bán vật tư hàng hoá hoặc thanh toán nội bộ.
Theo cách phân loại này có thể thấy vốn nằm trong quá trình dự trữ
vật liệu và vốn nằm trong quá trình lưu thông không tham gia trực tiếp vào
sản phẩm tồn kho. Đối với vốn nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất, vốn
sản phẩm đang chế tạo với mức hợp lý. Vì số vốn này trực tiếp tham gia vào
việc tạo nên giá trị mới.
Dựa vào hình thái biểu hiện và theo chức năng của các thành phần
vốn luân chuyển có thể chia thành:
a. Tiền và đầu tư ngắn hạn:
- Tiền của doanh nghiệp được hình thành từ sự cấp phát của ngân sách
nhà nước, tự có hay được bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp. Nó tồn tại
dưới nhiều hình thức khác nhau: tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển và tiền
gửi ngân hàng.
- Đầu tư tài chính ngắn hạn được thể hiện qua việc góp vốn liên doanh
ngắn hạn hay bỏ vốn để mua các chứng khoán ngắn hạn mà có thể thu lại
lượng vốn ban đầu trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh.
b. Khoản phải thu:
Là khoản tiền mà doanh nghiệp phải thu từ các đối tượng liên quan
mà các đối tượng đã tạm thời sử dụng vốn của doanh nghiệp trong quá trình
hoạt động kinh doanh của mình. Bao gồm:
- Phải thu khách hàng: là một trong những bộ phận quan trọng nhất
của vốn lưu động. Khi tiến hành bán ngay các sản phẩm của mình, doanh

xuất liên tục với một số chi phí nhỏ nhất về mua sắm và bảo quản, vốn sản
phẩm đang chế tạo làm chức năng bảo đảm quá trình sản xuất được liên tục
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
7
Chuyên đề tốt nghiệp
với năng suất lao động được nâng cao; vốn thành phẩm bảo đảm tiêu thụ dễ
dàng và kinh tế, có sẵn hàng để xuất giao thường xuyên.
Vốn tiền tệ, vốn thanh toán nhanh nhằm đảm bảo về mặt tài chính cho
quá trình tái sản xuất tiến hành được thuận lợi với một số phương tiện tài
chính tối ưu, loại vốn này không có quan hệ trực tiếp với quá trình sản xuất,
được dùng để phục vụ lĩnh vực lưu thông trong quá trình tiêu thụ sản phẩm
và mua sắm nguyên nhiên vật liệu. Vốn chuyển vào lĩnh vực lưu thông
không phải trở về sản xuất càng nhanh càng tốt, đó là điều mà mỗi doanh
nghiệp đều phải quan tâm đến.
Vốn luân chuyển của doanh nghiệp dự a theo nguồn hình thành có
thể chia thành các loại vốn sau đây:
a. Nguồn vốn pháp định:
Đối với doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn lưu động pháp định thể
hiện số vốn ngân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn từ ngân sách nhà nước
như khoảng chêng lệch giá và các khoản phải nộp nhưng được ngân sách để
lại.
Đối với hợp tác xã, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân là một bộ
phận vốn cổ phần về vốn lưu động do xã viên, cổ đông đóng góp, vốn do
chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra.
b.Nguồn vốn tự bổ sung:
Đây là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung mà chủ yếu do doanh
nghiệp lấy một phần từ lợi nhuận giữ lại để tăng thêm vốn lưu động trong
việc tái sản xuất.
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
8

Chuyên đề tốt nghiệp
lãi suất, rủi ro về thanh toán. Trên thực tế, chiếm dụng đến một mức độ nào
đó có thể coi là tín dụng thương mại.
- Tín dụng ngân hàng: Ðây là khoản vay tại các ngân hàng thương
mại. Các ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn tức thời cho doanh nghiệp,
với thời hạn có thể từ vài ngày tới cả năm với lượng vốn theo nhu cầu kinh
doanh của doanh nghiệp. Sự tài trợ của ngân hàng cho doanh nghiệp được
thực hiện theo nhiều phương thức. Một là cho vay theo từng món. Theo
phương thức này khi phát sinh nhu cầu bổ sung vốn với một lượng nhất định
và thời hạn xác định, doanh nghiệp làm đơn xin vay. Nếu được ngân hàng
chấp nhận, doanh nghiệp sẽ ký khế ước nhận nợ và sử dụng tiền vay. Việc
trả nợ được thực hiện theo các kỳ hạn nợ đã thoả thuận hoặc trả một lần vào
ngày đáo hạn. Hai là, cho vay luân chuyển. Phương thức này được áp dụng
khi doanh nghiệp có nhu cầu vốn bổ sung thường xuyên và đáp ứng những
điều kiện nhất định mà ngân hàng đặt ra. Theo phương thức này, doanh
nghiệp và ngân hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng cho mọt thời hạn nhất
định. Hạn mức tín dụng được xác định dựa trên nhu cầu vốn bổ sung của
doanh nghiệp và mức cho vay tối đa mà ngân hàng có thể chấp thuận. Căn
cứ vào hạn mức tín dụng đã thoả thuận, doanh nghiệp có thể nhận tiền vay
nhiều lần nhưng tổng các món nợ sẽ không vượt quá hạn mức đã xác định.
- Phát hành trái phiếu: đây là công cụ tài chính quan trọng dễ sử dụng
vào mục đích vay dài hạn đáp ứng nhu cấu vốn cho sản xuất kinh doanh.
Việc phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp có thể thu hút được số vốn
nhàn rỗi trong xã hội để mở rộng sản xuất kinh doanh của chính bản thân
doanh nghiệp.
- Tín dụng thuê mua: Trong hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp, vốn tín dụng thuê mua là một phương thức giúp cho các doanh
nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động sản
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
10

Chuyên đề tốt nghiệp
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự
điều tiết vĩ mô của Nhà nước hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
phải linh hoạt thích ứng với cơ chế mới có thể tồn tại và phát triển trong môi
trường cạnh tranh ngày càng khó khăn khốc liệt. Và như vậy vấn đề hiệu quả
là mối quan tâm hàng đầu, là yêu cầu sống còn của doanh nghiệp.
Hiệu quả được hiểu theo nghĩa chung nhất là một chỉ tiêu phản ánh
trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết, tham gia mọi hoạt động theo mục đích
nhất định của con người. Về cơ bản vấn đề hiệu quả phản ánh trên hai mặt,
hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng vốn, các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực của doanh nghiệp để đạt kết
quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất.
Đứng từ góc độ kinh tế xem xét thì hiệu quả kinh doanh còn được thể
hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận. hay nói cách khác, chỉ tiêu lợi nhuận nói lên hiệu
quả sử dụng vốn ở một góc độ nào đó.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động được biểu hiện bằng mối quan hệ giữa
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh với số vốn lưu động đầu tư cho hoạt
động của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
Hiệu quả sử dụng
vốn lưu động
=
Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vào
13
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh

Điểm quan trọng của vốn lưu động là giá trị của nó chuyển ngay một
lần vào giá trị sản phẩm. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động sẽ làm cho việc sử dụng vốn hợp lý hơn, vòng quay nhanh hơn tốc độ
chu chuyển vốn do đó tiết kiệm được vốn lưu động cho toàn bộ quá trình sản
xuất.
Quá trình sản xuất là một quá trình liên tục qua nhiều công đoạn khác
nhau. Nếu vốn bị ứ đọng ở một khâu nào đó thì sẽ gây ảnh hưởng ở các công
đoạn tiếp theo và làm cho quá trình sản xuất bị chậm lại, có thể gây ra sự
lãng phí. Trước khi tiến hành sản xuất, doanh nghiệp phải lập các kế hoạch
và thực hiện kế hoạch đó. Việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
lưu động chính là một phần đảm bảo sản xuất theo kế hoạch đã đề ra.
Có nhiều doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả là do nhiều nguyên
nhân khách quan và chủ quan, tuy nhiên nguyên nhân phổ biến nhất vẫn là
sử dụng vốn không hiệu quả: việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm thiếu một kế hoạch đúng đắn. Điều đó đã dẫn đến việc sử dụng vốn
lãng phí, tốc độ chu chuyển vốn lưu động chậm, chu kỳ luân chuyển vốn lưu
động dài, tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lãi suất tiết kiệm. Vì vậy, vấn đề nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp là một vấn đề hết sức
quan trọng.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Để đánh giá được hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động tại doanh
nghiệp có rất nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp quan trọng nhất là
phương pháp so sánh một cách có hệ thống các chỉ tiêu tài chính qua các giai
đoạn phát triển của doanh nghiệp để thấy được năm nay doanh nghiệp đã sử
dụng vốn lưu động có hiệu quả hơn năm ngoái không.
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
15
Chuyên đề tốt nghiệp
Sau đây là một hệ thống các chỉ tiêu tài chính có thể đánh giá toàn
diện và sâu sắc hiệu quả vốn lưu động của doanh nghiệp.

* Chỉ tiêu thời gian luân chuyển vốn lưu động
Số ngày quy ước trong kỳ phân tích
Thời gian luân chuyển vốn lưu động =
Vòng quay VLĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết độ dài của vòng quay vốn lưu động, tức là số
ngày cần thiết của một vòng quay vốn lưu động. Số ngày luân chuyển vốn
lưu động mà càng ngắn chứng tỏ vốn lưu động được luân chuyển ngày càng
nhiều trong kỳ phân tích, chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động hiệu
quả.
Về bản chất chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển của trình độ kinh
doanh, của công tác quản lý, của kế hoạch và tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Vòng quay vốn lưu động có sự gia tăng đột biến chứng tỏ hàng hoá
danh nghiệp đang sản xuất kinh doanh có sức tiêu thụ mạnh, doanh thu cao
dẫn đến một phần lợi nhuận tương ứng cũng tăng mạnh. Nếu không hoàn
thành một chu kỳ luân chuyển có nghĩa là vốn lưu động còn ứ đọng ở một
khâu nào đó, cần tìm biện pháp khai thông kịp thời.
*Chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm vốn lưu động
Hai chỉ tiêu trên là hai chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn lưu
động ngoài ra còn có hệ số đảm nhiệm vốn lưu động.
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Hệ số đảm nhiệm VLĐ =
Vốn lưu động bình quân
Tổng doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu
đồng vốn lưu động. Hệ số này càng nhỏ càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn
càng cao, càng tiết kiệm được vốn lưu động.
1.2.3.2. Mức tiết kiệm vốn lưu động:
Mức tiết kiệm vốn lưu động có được do sự thay đổi tốc độ luân

: Số dư vốn lưu động bình quân kỳ kế hoạch
V
BC
: Số ngày một vòng quay vốn lưu động kỳ báo cáo
V
KH
: Số ngày một vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch
DT
KH
: Doanh số bán hàng kỳ kế hoạch
Nếu thời gian luân chuyển vốn lưu động kỳ này ngắn hơn kỳ trước thì
doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được vốn lưu động, và ngược lại.
1.2.3.3. Chỉ tiêu sức sinh lời vốn lưu động:
Sức sinh lời của vốn lưu động được tính theo công thức sau:
Lợi nhuận thuần
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Sức sinh lời của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này còn được gọi là doanh lợi vốn lưu động, nó phản ánh khả
năng sinh lời của vốn lưu động. Chỉ tiêu này được xây dựng trên cơ sở lợi
nhuận của doanh nghiệp, cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao nghĩa là lợi nhuận trên một
đồng vốn lưu động cao, cho biết doanh nghiệp đã sử dụng vốn lưu động có
hiệu quả, và ngược lại.
1.2.3.4. Các chỉ số về hoạt động:
* Vòng quay các khoản phải thu:
Doanh thu thuần

số này quá cao cũng không tốt vì như thế có nghĩa là lượng hàng dự trữ
trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất khả năng
doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần.
Thêm nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không
đủ có thể khiến cho dây chuyền bị ngưng trệ. Vì vậy chỉ số vòng quay hàng
tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất đáp ứng được nhu cầu
khách hàng.
* Thời gian vòng quay hàng tồn kho:
360
Thời gian một vòng quay hàng tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho
Chỉ số này cũng tương tự như vòng quay hàng tồn kho, có điều chỉ số này
quan tâm đến số ngày.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong
doanh nghiệp
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
20
Chuyên đề tốt nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất
lớn của các nhân tố khác nhau. Những nhân tố này gây ra ảnh hưởng tích
cực lẫn tiêu cực. Vì vậy để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung
và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng, nhà quản trị tài chính phải xác
định và xem xét những nhân tố tác động tới quá trình sản xuất, kinh doanh
của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể. Các nhân tố này có thể
xem xét dưới các góc độ:
1.2.4.1. Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố nằm trong nội bộ doanh nghiệp,
nó tác động trực tiếp đến việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động nói riêng và vốn kinh doanh nói chung. Các nhân tố đó là trình độ quản
lý vốn kinh doanh của nhưng nhà điều hành doanh nghiệp, trình độ tổ chức,

nên doanh nghiệp cần đưa ra những quyết định sáng suốt và hợp lý.
1.2.4.2. Các nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan là các nhân tố như: đặc điểm ngành nghề kinh
doanh của doanh nghiệp, các chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước đối
với lĩnh vực của doanh nghiệp đang hoạt động
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
22
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN XÂY DỤNG ĐÔ THỊ VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN.
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C
23
Chuyên đề tốt nghiệp
2.1. Giới thiệu khái quát về công ty
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cố phần xây dựng Đô thị và phát triển nông thôn có tiền thân
là Công ty cổ phần Xây dựng và phát triển nông thôn 8. Được thành lập dựa
trên cơ sở nhu cầu phát triển của ngành xây dựng trên địa bàn Hà Nội cũng
như trên khắp cả nước.
Từ khi thành lập, được kế thừa kinh nghiệm của đơn vị tiền thân, công
ty là đơn vị đã thực hiện nhiều công trình đảm bảo chất lượng hiệu quả và
tính kĩ thuật, mỹ thuật cao, đáp ứng nhu cầu của chủ đầu tư.
Không ngừng đổi mới thiết bị công nghệ, đổi mới kỹ thuật thi công,
phong cách quản lý chuyện nghiệp, kịp thời nắm bắt thông tin với đông đảo
đội ngũ các cán bộ công nhân viên được đào tạo chính quy và nhiều năm
kinh nghiệm, cùng với sự hợp tác tham gia của các chuyên gia các công ty
nước ngoài theo từng công trình.
Đặng Thị Châu Giang Lớp: Tài chính doanh nghiệp 47C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status