thu hút nguồn vốn FDI vào các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình - Pdf 12

Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
LỜI MỞ ĐẦU
Khu công nghiệp (KCN) là một mô hình kinh tế mới ở Việt Nam, nó
xuất hiện trong những năm đầu của thập kỷ 90. Tuy thời gian phát triển chưa
dài nhưng cũng đủ để các Khu công nghiệp kịp khẳng định vai trò to lớn của
mình trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Trong những
đóng góp của Khu công nghiệp đó phải kể đến sự xuất hiện của nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đây là một yếu tố hết sức quan trọng mà
bất cứ Khu công nghiệp nào khi xây dựng đều đặt mục tiêu tăng cường thu
hút nguồn vốn đó để phát triển. Chính vì vậy, Nghị quyết đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa của nước ta, được khuyến khích lâu dài. Thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực
trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền sản xuất
hiện đại, vững mạnh phục vụ cho cả nhu cầu trong nước và xuất khẩu, có khả
năng hỗ trợ và kích thích phát triển năng lực cho các ngành khác, tiến tới đổi
mới toàn bộ xã hội”.
Trong giai đoạn hiện nay, khi tình hình kinh tế thế giới đang lâm vào
khủng hoảng thì việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI vào các Khu công
nghiệp nói chung đều hết sức khó khăn do vậy cần có những giải pháp, chính
sách cụ thể nhằm đẩy mạnh việc thu hút đó.
Qua thời gian thực tập ở sở Kế hoạch và Đầu tư Thái Bình, được tiếp
cận nguồn tài liệu của cơ quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh, đặc biệt
là vào các khu công nghiệp đã giúp tôi có được cái nhìn tổng quan nhất về thực
trạng việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua từ
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
đó đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm cải thiện thực trạng đó. Do vậy, tôi đã

đã hướng dẫn tôi về mặt lý luận và việc vận dụng nó vào giải quyết vấn đề
nghiên cứu.
Các cán bộ của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thái Bình tạo điều kiện cho tôi
hoàn thành thực tập chuyên ngành tại cơ quan.
Các cán bộ phòng quản lý đầu tư – Ban quản lý các Khu công nghiệp
tỉnh Thái Bình đã cung cấp tài liệu và hướng dẫn tôi xử lý số liệu đó phục vụ
cho phân tích vấn đề.
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2009
Sinh viên: Phạm Thị Ngát

Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀ VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
I. VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thực tế đã chứng minh rằng trong xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa
hiện nay, không một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển được mà không
sử dụng nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Tuy nhiên, vốn đầu tư nước ngoài
được chia làm hai loại là: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp
nước ngoài (bao gồm các nguồn viện trợ chính thức ODA, viện trợ của các tổ
chức phi chính phủ NGO, Vay thương mại) do đó phải biết cách cân đối giữa
các nguồn vốn đầu tư nước ngoài sao cho thật hợp lý. Đầu tư trực tiếp nước
ngoài luôn được quan tâm hơn bởi nó không mang tính ràng buộc về chính trị
giữa các quốc gia, vì vậy tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài là một chủ trương quan trọng của các nước đang phát triển nói chung và
Việt Nam nói riêng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới góc nhìn của quỹ tiền tệ quốc tế IMF

mà nó còn bao gồm cả vốn của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở
rộng dự án cũng như đầu tư từ lợi nhuận thu được.
Như vậy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có một ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, nó không những giúp chúng ta giải quyết được vấn đề thiếu vốn
đầu tư mà còn góp phần giải quyết công ăn việc làm, đẩy mạnh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đặc biệt là kênh hiệu quả để thực hiện chiến
lược chuyển giao công nghệ đối với các nước đang phát triển như Việt Nam.
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
2. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong thực tiễn có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài được áp
dụng là:
a. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Là văn bản được ký kết của hai hay nhiều bên quy định trách nhiệm và
phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở
Việt Nam mà không cần thành lập một tư cách pháp nhân. Do đó nó mang
đặc điểm sau:
- Không ra đời một pháp nhân mới.
- Cơ sở hình thành của hình thức này là hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Trong hợp đồng nội dung chính phản ánh trách nhiệm và quyền lợi giữa các
bên với nhau.
- Thời hạn cần thiết của hợp đồng do các bên thỏa thuận phù hợp với tính
chất mục tiêu kinh doanh và được cơ quan cấp giấy phép kinh doanh chuẩn.
- Hợp đồng phải do đại diện của các bên có thẩm quyền ký, trong quá
trình hợp tác kinh doanh các bên giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình.
b. Doanh nghiệp liên doanh
Theo khoản 2 điều 2 luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam quy
định doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tác
thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng kinh doanh hoặc hiệp định ký

phép”.
d. Hợp đồng Xây dựng – vận hành – chuyển giao ( BOT)
Theo điều 12 khoản 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì Hợp
đồng xây dựng – vận hành – chuyển giao là văn bản ký giữa cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kinh doanh công
trình kết cấu hạ tầng trong thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao không bồi thường công trình đó cho Việt Nam.
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
7
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
e. Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – vận hành
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – vận hành là văn bản ký kết giữa
cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài xây
dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam. Chính phủ Việt
Nam dành cho nhà đầu tư kinh doanh trong một thời gian nhất định để thu hồi
vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
f. Hợp đồng xây dựng chuyển giao (BT)
Theo khoản 13 điều 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì: Hợp
đồng xây dựng chuyển giao là hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước có
thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kết cấu hạ
tầng. Sau khi xây dựng xong nhà đầu tư chuyển giao công nghệ đó cho nhà
nước Việt Nam. Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài
thực hiện các dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
II. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA KHU CÔNG NGHIỆP TRONG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THÁI BÌNH
1. Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của khu công nghiệp (KCN)
1.1 Khái niệm
Mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ đều có chủ trương xây dựng những
khu vực tập trung để thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước

nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới
xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập. Trong Khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất.
Theo định nghĩa trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì: Khu
công nghiệp là một lãnh địa được phân chia và phát triển có hệ thống theo
một kế hoạch tổng thể nhằm cung ứng các thiết bị kỹ thuật cần thiết, cơ sở hạ
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
9
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
tầng, phương tiện công cộng phù hợp sự phát triển của một liên hợp các
ngành công nghiệp.
Như vậy có thể hiểu Khu công nghiệp là một quần thể liên đoàn các xí
nghiệp công nghiệp xây dựng trên một vùng có điều kiện thuận lợi về các yếu
tố tự nhiên, về kết cấu hạ tầng xã hội … để thu hút vốn đầu tư (đặc biệt là vốn
FDI) và hoạt động theo một kết cấu hợp lý các doanh nghiệp công nghiệp và
các doanh nghiệp dịch vụ nhằm đạt kết quả cao trong sản xuất công nghiệp và
kinh doanh.
1.2 Những đặc trưng cơ bản của khu công nghiệp
Thứ nhất, về bản chất các KCN là khu tập trung các doanh nghiệp công
nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ công nghiệp.
Thứ hai, KCN được chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ ra quyết định
thành lập do vậy việc tạo môi trường đầu tư được cụ thể hóa trong các chính
sách pháp luật, như những chính sách ưu đãi về thuế, hải quan, giá thuê đất,
áp dụng những thủ tục hành chính đơn giản…nhằm tạo môi trường pháp lý và
kinh doanh thuận lợi chó các nhà đầu tư để thu hút vốn đầu tư và công nghệ
kỹ thuật mới của nước ngoài.
Thứ ba, KCN thực chất là hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp trên
lãnh thổ, có hàng rào ngăn cách với phần lãnh thổ còn lại của vùng và nó
được xây dựng cơ sơ hạ tầng và những tiện ích công cộng (điện, nước, giao

Chỉ tiêu Số dự án FDI Vốn đăng ký Vốn thực hiện
Toàn tỉnh 45 254.254.391 113.940.024
KCN 35 227.988.311 80.780.370
Nguồn: Sở Kế hoạch - Đầu tư Thái Bình và Ban quản lý các KCN.
Tính đến 31/12/2008 toàn tỉnh thu hút được 45 dự án FDI vào các lĩnh
vực sản xuất và kinh doanh với tổng số vốn đăng ký là 254.254.391 USD.
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
11
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
Trong đó, có 35 dự án được đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
với tổng số vốn đăng ký là 227.988.311 USD. Như vậy phần lớn số dự án được
đầu tư vào các KCN, với tổng số vốn FDI đăng ký và vốn thực hiện chiếm trên
83% tổng số vốn FDI vào toàn tỉnh. Đây là một tỷ lệ khá lớn giúp ta khẳng
định phát triển các KCN là một biện pháp quan trọng để thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Điều này cũng dễ hiểu bởi từ chính những đặc điểm và mục tiêu
của KCN đã giúp chúng có khả năng thu hút FDI hơn so với các khu vực khác.
KCN được đầu tư xây dựng và quản lý một cách tập trung với cơ sở hạ tầng
hiện đại và đầy đủ hơn các vùng khác đi kèm với các chính sách hỗ trợ riêng
như chính sách về thuế, chính sách đào tạo lao động, chính sách đất đai…Nhờ
quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng và Nhà nước, Thái Bình
đã chủ động xây dựng các KCN thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư đặc biệt là nhà
đầu tư nước ngoài, KCN đã góp phần hết sức to lớn trong việc huy động nguồn
vốn FDI vào tỉnh. Như vậy, phát triển KCN trở thành một trong những phương
thức huy động và khai thác có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư vào quá trình
phát triển kinh tế xã hội ở Thái Bình cũng như trong cả nước.
Một đóng góp quan trọng của KCN trong quá trình phát triển là đã thu
hút được nhiều nguồn vốn FDI vào phát triển hạ tầng cơ sở. Nó cũng xuất
phát từ phương hướng chung của toàn tỉnh trong việc thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài, khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực xây dựng hạ tầng cơ sở. Khi
nhà đầu tư quyết định đầu tư vào một khu vực nào đó thì việc trước tiên là họ

Bình
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm
2005 2006 2007 2008
Doanh thu của các DN KCN 388,6 515,2 604,2 721,9
GTSX của toàn tỉnh 6.455 7.156 7.950 8.912
Tỷ trọng (%) 6,02 7,2 7,6 8,1
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Thái Bình
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
13
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
Doanh thu của các doanh nghiệp trong KCN tăng dần qua các năm và
đóng góp vào giá trị sản xuất của Thái Bình ngày càng tăng, tỷ lệ đóng góp
này từ năm 2005 luôn chiếm hơn 6% giá trị sản xuất toàn tỉnh.
Từ những đóng góp của KCN trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ đã
giúp cho cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Bình không ngừng chuyển dịch theo xu
hướng chung – tăng tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ lệ nông nghiệp
trong GDP toàn tỉnh.
Bảng 1.3: Cơ cấu GDP toàn tỉnh Thái Bình phân theo ngành lĩnh vực
giai đoạn 2003 -2008
Đơn vị: %
Chỉ tiêu
Năm
2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tổng GDP 100 100 100 100 100 100
Nông, lâm ngư nghiệp 45,79 45,56 42,27 39,86 37.08 36,85
Công nghiệp và xây dựng 19,35 21,22 22,86 24,98 27,03 28,12
Dịch vụ 34,86 33,22 34,87 35,16 35,89 35,03
Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu tư Thái Bình

một phần nhu cầu về việc làm của người dân trong tỉnh. Trong số các dự án
đầu tư vào KCN ở Thái Bình thì đóng góp phần lớn là của các dự án FDI với
quy mô lớn và khả năng thu hút nhiều lao động, mỗi dự án FDI đầu tư vào
khu công nghiệp đều đăng ký sử dụng lao động trung bình khoảng 755 người.
Dưới đây là bảng tổng hợp đóng góp của các dự án FDI ở KCN trong việc
giải quyết công ăn việc làm cho người dân trong tỉnh:
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
15
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
Bảng 1.4: Bảng tổng hợp tình hình sử dụng lao động tại các khu công
nghiệp với các dự án FDI
Đơn vị: Người
Khu công nghiệp
Số dự án
FDI
Số lao động
Đăng ký Sử dụng
KCN Nguyễn Đức Cảnh 3 5.800 2.026
KCN Phúc Khánh 29 16.258 6.635
KCN Gia Lễ 2 4.000 800
KCN Cầu Nghìn 1 400 0
Tổng 35 26.458 8.661
Nguồn: Ban quản lý các KCN tỉnh Thái Bình.
Theo số liệu thống kê của Ban quản lý các KCN cho thấy, nhu cầu lao
động trong các khu công nghiệp rất lớn tuy nhiên số lượng lao động đi vào
sản xuất lại rất hạn chế (số lao động sử dụng chỉ bằng 32,73% số lao động
đăng ký), một nguyên nhân dễ nhận thấy nhất là còn nhiều dự án đang triển
khai xây dựng hoặc đã xây dựng nhưng chưa đi vào sản xuất. Điều này thể
hiện khả năng tiếp tục thu hút nhiều lao động trong thời gian tới vào các khu
công nghiệp để đảm bảo cho việc triển khai sản xuất các dự án FDI cũng như

Đơn vị: %
Thành phần kinh tế
Trình độ công nghệ so với thế giới
Hiện đại Trung bình Lạc hậu
Doanh nghiệp trong nước 11 35,6 53,4
Doanh nghiệp có vốn đâu tư
nước ngoài
45,4 54,6 0
Nguồn: Vụ KCN, KCX , Bộ Kế Hoạch và Đầu tư năm 2004
Như vậy, đối với doanh nghiệp nước ngoài trong các khu công nghiệp
ở Việt Nam không tồn tại trình độ công nghệ lạc hậu. Trong khi đó đối với
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
doanh nghiệp trong nước thì tỷ lệ công nghệ lạc hậu chiếm quá nửa (53,4%).
Con số này khiến chúng ta phải tự hỏi rằng các DN trong nước đến khi nào
mới đuổi kịp được các doanh nghiệp nước ngoài? Có sự so sánh đó mới xác
định được chúng ta đang đứng ở đâu và còn thiếu những gì? Do vậy cần phải
tăng cường áp dụng tiến bộ công nghệ và học hỏi kinh nghiệm của các nước
tiên tiến.
Các nhà đầu tư nước ngoài vào các Khu công nghiệp tại Thái Bình đều là
các nước có trình độ cao về công nghệ, sản xuất và kinh nghiệm quản lý như Đài
Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc do đó ta có nhiều khả năng học hỏi
và tiếp thu công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh trong tỉnh.
Khu công nghiệp chính là cầu nối cho các doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài trong việc đẩy nhanh áp dụng tiến bộ Khoa học công nghệ và học
hỏi kinh nghiệm.
III. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT FDI VÀO
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP NÓI CHUNG
1. Khung pháp lý

lý là Ban quản lý các KCN tỉnh, thành phố nơi có KCN.
Về cơ bản, quản lý Nhà nước đối với KCN cũng có những nội dung
chủ yếu như quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Tuy nhiên xét dưới góc độ quá trình hình thành và phát triển của KCN và
doanh nghiệp có thể chia làm ba giai đoạn:
+ Vận động đầu tư thành lập KCN và doanh nghiệp trong đó.
+ Thẩm định và cấp giấy phép đầu tư.
+ Quản lý hoạt động của KCN sau khi đã thành lập.
KCN tập trung phải được quản lý theo cơ chế “một cửa”. Quản lý theo
cơ chế “một cửa” là tạo ra một cơ quan quản lý Nhà nước có thể đứng ra giải
quyết, hoặc phối hợp với các cơ quan khác giải quyết mọi công việc liên quan
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
19
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu công
nghiệp. Mục đích của cơ chế này là giúp các nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu
tư vào KCN có một con đường đi thông thoáng nhất, tránh thủ tục rườm rà và
quan liêu…Thời gian giải quyết các thủ tục hành chính là rất quan trọng. Để
doanh nghiệp nhanh chóng tiến hành sản xuất kinh doanh thì thời gian phê
duyệt, quyết định cấp giấy phép đầu tư, cũng như thời gian thẩm định thiết kế
kỹ thuật, thẩm định môi trường cho các dự án trong các KCN phải nhanh
chóng. Cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian phê duyệt sẽ là một
yếu tố giúp cho doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí giao dịch trong quá
trình sản xuất kinh doanh.
Ban quản lý các KCN là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp các
hoạt động sản xuất kinh doanh trong các KCN, và Ban được ủy quyền cấp
giấy phép đầu tư cho các loại dự án:
+ Phù hợp với quy hoạch của KCN
+ Doanh nghiệp chế xuất có quy mô vốn đến 40 triệu USD.
+ Các dự án sản xuất có quy mô vốn đến 10 triệu USD.

Cơ sở hạ tầng ngoài KCN bao gồm: các vấn đề liên quan đến quá trình vận
chuyển, tiêu thụ, cung cấp nguyên vật liệu … cho các doanh nghiệp trong KCN.
Vấn đề đặt ra là cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào phải đồng bộ với
nhau, điều đó thúc đẩy tiến độ triển khai KCN và tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp cả sản xuất và tiêu thụ. Chất lượng cơ sở hạ tầng cũng là một
yếu tố quan trọng đối với quyết định của nhà đầu tư. Nó được thể hiện ở chỗ:
các công trình trong và ngoài hàng rào có hiện đại, đồng bộ, thuận tiện và có
ổn định không? Ví dụ như trong vìệc cung cấp điện, nước nếu thất thường
cũng sẽ là một nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp trong KCN đặc biệt là doanh nghiệp kỹ thuật cao vì thế nó ảnh
hưởng không nhỏ đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN.
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
21
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
3. Dịch vụ trong các Khu công nghiệp
Một trong những yếu tố quan trọng để tăng tính hấp dẫn của môi
trường đầu tư trong các KCN là điều kiện cung cấp dịch vụ ở KCN. Hầu hết
vị trí của các KCN thường ở vùng ngoại thành, vì vậy muốn thu hút lao động
đặc biệt là các lao động tay nghề cao ở nội thành thì các loại dịch vụ phục vụ
đời sống phải đa dạng và giá cả dịch vụ hợp lý như dịch vụ nhà ở, bệnh viện,
chợ, siêu thị, ngân hàng…
Bên cạnh chi phí quản lý KCN, doanh nghiệp trong KCN còn phải chịu
cước dịch vụ (điện, nước, viễn thông, phí vận chuyển,…), do đó giá cả các
loại dịch vụ này tuy không ảnh hưởng quá nhiều đến việc ra quyết định của
nhà đầu tư nước ngoài nhưng cũng góp phần làm tăng chi phí sản xuất cho
doanh nghiệp, tăng giá thành sản phẩm dẫn đến giảm tính cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Về việc tuyển dụng lao động đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp
FDI trong KCN: lao động là một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất,
như vậy chất lượng lao động và giá cả lao động cũng sẽ quyết định hiệu quả

FDI, qua đó ta thấy được mối quan hệ giữa chúng, KCN là bộ phận quan
trọng nhất để thu hút FDI cho toàn tỉnh, còn FDI là nguồn vốn quan trọng
giúp các KCN phát triển. Trên cơ sở những lý luận đó, ta có thể đưa ra những
đánh giá về thực trạng thu hút FDI vào các KCN ở tỉnh Thái Bình trong thời
gian qua (giai đoạn 2002–2008)
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
23
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hoa
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP Ở THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2002-2008
I. TỔNG QUAN VỀ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP SỬ DỤNG NGUỒN
VỐN FDI Ở TỈNH THÁI BÌNH
1. Tiềm năng để phát triển các Khu công nghiệp ở Thái Bình
1.1 Điều kiện tự nhiên
Thái Bình là một tỉnh ven biển, thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng,
năm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế: Hà Nội,
Hải Phòng, Quảng Ninh. Đây là một yếu tố thuận lợi để phát triển mạnh
ngành công nghiệp của tỉnh trên cơ sở học hỏi, giao lưu và hưởng tác động
lan tỏa của các khu vực lân cận.
Vị trí địa lý: 20,17 – 20,44 độ vĩ bắc; 106,06 – 106,39 độ kinh đông,
phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và thành phố Hải Phòng. Phía tây
nam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam; phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ. Do vậy
Thái Bình có khả năng lưu thông cả đường bộ và đường thủy,
Thái Bình là một trong hai tỉnh trong cả nước (cùng với Hưng Yên) có
địa hình tương đối bằng phẳng không có núi với độ dốc nhỏ hơn 1%, rất thuận
lợi cho việc giao thông đi lại, vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ nên có
tiềm năng phát triển các cơ sở sản xuất như chế biến thực phẩm, may mặc,
thức ăn chăn nuôi, và kinh doanh các ngành dịch vụ.
Do là một tỉnh đồng bằng tuyệt đối nên Thái Bình không có các tiềm
năng về khoáng sản như than đá, quặng sắt, tuy nhiên lại có mỏ khí đốt Tiền

lao động của tỉnh. Thái Bình có nguồn lao động dồi dào, do đó chi phí nhân
công cũng tương đối rẻ là một điểm mạnh để thu hút các nhà đầu tư vào sản
xuất vì họ có thể tiết kiệm được nhiều chi phí sản xuất từ việc thuê lao động
tại địa phương. Dân số đông không những là tiềm năng về cung lao động mà
còn mang lại tiềm năng về thị trường tiêu thụ cho các doanh nghiệp trong tỉnh
do vậy có thể gây sự quan tâm chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài có ý định
đầu tư vào lĩnh vực tiêu thụ trong nước.
Là một tỉnh đứng đầu trong cả nước về sản xuất nông nghiệp và chế
biến nông sản nên mức giá cả tiêu dùng tại Thái Bình rẻ tương đối so với các
Phạm Thị Ngát Kế hoạch 47B
25

Trích đoạn Bức tranh chung về các Khu công nghiệp sử dụng FD Dự án sản xuất thiết bị điện tử viễn thông Nguồn gốc và cơ cấu vốn FD PHƯƠNG HƯỚNG THU HÚT FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2009 – Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status