Thực trạng và Giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam - Pdf 12

Thực hiện đờng lối đúng đắn của Đảng và Nhà nớc đã đề ra từ Đại hội
Đảng lần thứ VI, nền kinh tế nớc ta đã có sự chuyển biến lớn từ một nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết vĩ
mô của Nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Điều đó đã tạo ra một môi
trờng tốt để cho các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động, phát triển và có
điều kiện để khẳng định vai trò của mình trong sự phát triển chung của đất n-
ớc. Tuy nhiên, do Việt nam trong một thời kỳ dài phát triển kinh tế theo hình
thức kế hoạch hoá tập chung bao cấp nên khi chuyển sang cơ chế thị trờng thì
sự phát triển kinh tế gặp rất nhiều khó khăn do cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ
thuật.v.v.còn quá nghèo nàn, lạc hậu. Để giải quyết vấn đề khúc mắc đó
Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra rất nhiều chủ trơng đờng lối sao cho sớm tạo ra
đợc hạ tầng cơ sở vật chất, kỹ thuật phát triển để đáp ứng nhu cầu phát triển
chung của nền kinh tế nớc ta. Dới nhiều hình thức khác nhau trong những
năm qua, Việt nam đã huy động đợc một khối lợng lớn vốn để đầu t phát
triển cơ sở hạ tầng nh huy động vốn trong nớc, vay u đãi của các chính phủ
và các tổ chức quốc tế nhng hiệu quả và u việt hơn cả là hình thức huy động
đầu t trực tiếp nớc ngoài. Vì ở hình thức này, nớc sở tại sẽ đợc đầu t vốn xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, không phải lo trả nợ những khoản nợ
kếch sù và sự phụ thuộc về chính trị. Trong thời gian qua ( khoảng 15 năm
thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài ) Việt nam đã đạt đợc kết quả đáng kể tuy
nhiên nếu so với các nớc trong khu vực và trên thế giới thì kết quả đó thật
khiêm tốn. Nhận thức đợc vai trò quan trọng của đầu t trực tiếp nớc ngoài
( FDI ) và thực tế hoạt động của hình thức này ở Việt nam nên em đã chọn đề
tài: Thực trạng và Giải pháp thu hút FDI vào Việt nam để làm bài thu
hoạch thực tập chuyên đề ( chuyên đề thực tập ). Với ý tởng muốn góp phần
nhỏ vào việc tổng kết đánh giá khách quan vai trò ảnh hởng tác động cũng
nh những ý nghĩa quan trọng của nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với
Việt nam, một trong những nớc đang trong quá trình thực hiện mở cửa, mở
rộng hợp tác quốc tế, hội nhập khu vực và thế giới. Đồng thời cũng muốn đa
ra một số giải pháp nhằm góp phần vào việc hoàn thiện chính sách để tích
cực thu hút hơn nữa nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt nam trong

nhận định việc xuất khẩu t bản nói chung đã trở thành đặc trng cơ bản của sự
phát triển mới nhất về kinh tế trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa. Tiền đề của
việc xuất khẩu t bản là t bản thừa xuất hiện trong các nớc tiên tiến. Nhng
thực chất của vấn đề này là một hiện tợng kinh tế mang tính tất yếu khách
quan, khi mà quá trình tích tụ và tập trung t bản đã đạt đến một mức độ nhất
định sẽ xuất hiện nhu câù đầu t t bản ra nớc ngoài. Đó chính là quá trình phát
triển của sức sản xuất xã hội đã đến độ vợt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của
một quốc gia để hình thành nên quy mô sản xuất trên phạm vi quốc tế.
Thông thờng ở các nớc công nghiệp phát triển, việc đầu t ở trong nớc
không còn mang lại nhiều lợi nhuận cho các nhà t bản vì lợi thế so sánh ở
trong nớc không còn nữa. Để gia tăng lợi nhuận, các nhà t bản ở các nớc tiên
tiến đã thực hiện đầu t ra nớc ngoài, thờng là vào các nớc tiên tiến đã thực
hiện đầu t ra nớc ngoài, thờng là vào các nớc lạc hậu hơn. Sở dĩ nh vậy là vì
trong các nớc lạc hậu, t bản vẫn còn ít, giá đất đai tơng đối thấp, tiền thuê
nhân công thấp, nguyên liệu rẻ. Mặt khác các công ty t bản lớn đang cần
nguồn nguyên liệu và các tài nguyên thiên nhiên khác đảm bảo cung cấp ổn
định và đáng tin cậy cho việc sản xuất của họ. Điều này một mặt tạo điều
kiện cho các công ty lớn thu lợi nhuận cao, một mặt giúp họ đảm bảo đợc vị
trí độc quyền.
Thêm vào đó dới tác động của nhiều nhân tố, đặc biệt là sự phát triển
của khoa học công nghệ, các chính sách bảo hộ mậu dịch và khả năng mở
rộng thị trờng của các nớc đang phát triển và các nền công nghiệp mới,
không gian kinh tế cho các dòng di chuyển vồn đầu t ngày càng mở rộng dới
sự chi phối của quy luật kinh tế về lợi thế so sánh ( tơng đối và tuyệt đối ).
Bản chất của vấn đề là sự phát triển của đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc quy
định bởi những quy luật kinh tế khách quan với những điều kiện cần và đủ
nhất định. Đầu t trực tiếp nớc ngoài là một trong số những mặt biểu hiện bên
ngoài cuả quá trình phân công lao động quốc tế.
II. Khái niệm đầu t trực tiếp nớc ngoài
Cùng với việc mở rộng và đa dạng hoá các quan hệ hợp tác kinh tế

hoạt động đầu t quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, hợp thành những
dòng chính trong trào lu có tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu hiện
nay.
Đầu t quốc tế theo cách truyền thống thờng có hai hình thức chủ yếu
đó là đầu t trực tiếp và đầu t gián tiếp. Một đầu t đợc coi là đầu t trực tiếp
khi phần sở hữu của nhà đầu t đủ để cho phép kiểm soát công ty trong khi
đầu t mà cho nhà đầu t khoản thu nhập nhng không cho quyền kiểm soát
công ty nói chung là đầu t gián tiếp nớc ngoài. (UNCTAD 1999 Phạm vi và
định nghĩa LHQ New York & geneva Tr.7).
Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) là hình thức đầu t quốc tế chủ yếu mà
chủ đầu t nớc ngoài đầu t toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu t của các dự
án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp
sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thơng mại mà mình đã bỏ vốn tại nớc sở
tại. Hay nói cách khác, FDI là một loại hình thức di chuyển vốn quốc tế,
trong đó ngời chủ sở hữu vốn đồng thời là ngời trực tiếp quản lý và điều hành
hoạt động sử dụng vốn.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài cũng có thể đợc xem xét theo các khía cạnh sau:
1.Về mặt kinh tế
Đầu t trực tiếp nớc ngoài là một hình thức đầu t quốc tế đợc đặc tr-
ng bởi quá trình di chuyển t bản từ nớc này sang nớc khác. Nhìn chung ở các
nớc, đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc hiểu là một hoạt động kinh doanh, một
dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nớc ngoài. Nhân tố nớc ngoài ở đây, không
chỉ đợc thể hiện ở sự khác biệt về quốc tịch hoặc về lãnh thổ c trú thờng
xuyên của các bên tham gia vàhoặc quan hệ đầu t trực tiếp nớc ngoài mà còn
thể hiện ở việc di chuyển t bản bắt buộc phải vợt ra khỏi tầm kiểm soát của
một quốc gia. Việc di chuyển t bản này là nhằm phục vụ mục đích kinh
doanh tại nớc nhận đầu t và việc kinh doanh đó do chính các chủ đầu t thực
hiện hoặc kết hợp với chủ đầu t của nớc tiếp nhận đầu t thực hiện. Nh vậy,
hai điều kiện cơ bản cuả đầu t trực tiếp nớc ngoài là : có sự di chuyển t bản
trong phạm vi quốc tế và chủ đầu t ( pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia

nớc ngoài trực tiếp đầu t vào Việt nam vốn bằng tiền nớc ngoài hoặc bất kỳ
tài sản nào đợc Chính phủ Việt nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ
sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh, hoặc xí nghiệp 100% vốn
nớc ngoài . ( khoản 3 điều 2 luật đầu t nớc ngoài tại Việt nam ).
Nh vậy về mặt pháp lý, khái niệm đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc đề cập
trong pháp luật của các quốc gia chỉ giới hạn phạm vi nhìn nhận về đầu t trực
tiếp nớc ngoài dới con mắt của nớc tiếp nhận đầu t.
Để hiểu rõ hơn khái niệm đầu t trực tiếp nớc ngoài, việc so sánh đầu t
trực tiếp nớc ngoài với đầu t gián tiếp nớc ngoài và các quan hệ thơng mại
thông thờng có yếu tố nớc ngoài là hết sức cần thiết.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc hiểu là chủ đầu t trực tiếp kinh doanh
( sử dụng và quản lý vốn đầu t vào mục đích kinh doanh ), còn đầu t gián tiếp
thì ngợc lại, chủ đầu t không trực tiếp quản lý và sử dụng vốn. Việc quản lý
và sử dụng vốn trong đầu t gián tiếp đợc thực hiện theo một cơ chế khác.
Sự khác biệt về chủ thể đầu t đợc thể hiện ở chỗ trong đầu t gián tiếp,
chủ thể chủ yếu là các quốc gia và các tổ chức quốc tế. Trong khi đó, chủ thể
chủ yếu thực hiện các hoạt động đầu t trực tiếp là các pháp nhân và thể nhân.
Về mặt mục đích đầu t quan hệ đầu t trực tiếp nớc ngoài là quan hệ kinh
doanh theo cơ chế thị trờng nên lợi nhuận là mục tiêu cao nhất và là mục tiêu
cuối cùng của các chủ đầu t. Còn trong đầu t gián tiếp, kinh doanh và lợi
nhuận không phải là mục tiêu trực tiếp của chủ đầu t, bởi quan hệ này không
phải là quan hệ kinh doanh một cách thuần tuý. Quá trình đầu t gián tiếp th-
ờng đợc diễn ra dới hình thức cho vay với lãi xuất u đãi hoặc viện trợ không
hoàn lại. Về tính chất của đầu t quan hệ đầu t trực tiếp nớc ngoài là quan hệ
có mục đích kinh doanh nên nó chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế
trong nền kinh tế thị trờng, ít chịu ảnh hởng của các quan hệ chính trị. Vì
vậy, đầu t trực tiếp nớc ngoài không thể biến nớc tiếp nhận đầu t thành con
nợ của nớc có t bản xuất khẩu qua đầu t trực tiếp. Còn quan hệ đầu t gián tiếp
là quan hệ mang màu sắc chính trị, ảnh hởng bởi quan hệ giữa các quốc gia,
ít chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế. Trong đầu t gián tiếp, quan hệ

quan hệ này theo hớng có lợi cho mình. Tổng thể các quy phạm pháp luật
nói trên hợp thành pháp luật về đầu t trực tiếp nớc ngoài . Nói cách khác,
pháp luật về đầu t trực tiếp nớc ngoài là tổng thể các quy phạm pháp luật do
Nhà nớc ban hành nhằm điều chỉnh những mối quan hệ kinh tế phát sinh
trong quá trình đầu t trực tiếp nớc ngoài . Đây là khái niệm pháp luật về đầu
t trực tiếp nớc ngoài của bất cứ nớc tiếp nhận đầu t nào.
III. Đặc điểm và vai trò của đầu t trực tiếp nớc ngoài .
1. Đặc điểm.
Đây là hình thức đầu t bằng vốn của t nhân do các chủ đầu t tự quyết
định đầu t , tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi
. Hình thức này mang tính khả thi cao, không có những ràng buộc về chính
trị , không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế nớc sở tại.
Chủ đầu t nớc ngoài điều hành toàn bộ hoạt động đầu t nếu là doanh
nghiệp 100% vốn nớc ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên
doanh hay hợp đồng - hợp tác - kinh doanh theo tỷ lệ góp vốn của mình và
quy định của nớc sở tại.
Lợi nhuận của các chủ đầu t nớc ngoài thu đợc phụ thuộc vào kết qủa
hoạt độnh kinh doanh và đợc chia theo tỷ lệ góp vốn vào vốn pháp định hay
theo thoả thuận giữa các bên.
Thông qua FDI, nớc chủ nhà có thể tiếp nhận đợc công nghệ, kỹ thuật
tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý... là các mục tiêu mà các hình thức
đầu t khác không thể giải quyết đợc.
Nguồn vốn đầu t này không chỉ bao gồm vốn pháp định mà chủ đầu t
đóng góp, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc
mở rộng dự án.
FDI đợc thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại
toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để
thôn tính hay sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
2 Vai trò.
Thực tiễn hoạt động đầu t trên thế giới cũng nh ở Việt Nam đã cho

mở rộng thị trờng xuất khẩu và thị trờng trong nớc, thúc đẩy các dịch vụ phát
triển.
Đầu t nớc ngoài góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h-
ớng CNH, HĐH, phát triển lực lợng sản xuất. Thông qua đầu t nớc ngoài bớc
đầu đã hình thành hệ thống các khu công nghiệp , khu chế xuất. Đầu t nớc
ngoài cũng đã đem đến những mô hình quản lý tiên tiến, phơng thức kinh
doanh hiện đại cho các ngành, các đơn vị kinh tế.
Bên cạnh vai trò cung cấp vốn, đầu t trực tiếp nớc ngoài còn mang lại
cho nớc tiếp nhận đầu t những kỹ thuật công nghệ tiên tiến, góp phần phát
triển lực lợng sản xuất, cơ cấu lại nền kinh tế... Thực tế cho thấy rằng kỹ
thuật và công nghệ nớc ngoài đã giúp cho Malaysia từ chỗ là một nớc có cơ
cấu kinh tế lạc hậu, kỹ thuật thủ công, phân tán lực lợng sản xuất kém phát
triển, đến giữa những năm 1980 đã trở thành nớc xuất khẩu lớn nhất thế giới
về găng tay cao su, thứ hai thế giới về bán dẫn và tinh thể sơ đồ tích phân và
thứ ba thế giới về máy điều hoà nhiệt độ. Rõ ràng là chỉ có đầu t trực tiếp nớc
ngoài với trình độ kỹ thuật cao, phơng pháp sản xuất tiên tiến và khả năng
xâm nhập thị trờng thế giới của các công ty xuyên quốc gia mới tạo thành
công ty nói trên. ở Việt Nam , qua đầu t trực tiếp nớc ngoài chúng ta đã tiếp
nhận đợc một số thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong nhiều ngành kinh
tế kỹ thuật quan trọng nh : thông tin viễn thông, thăm dò dầu khí, công
nghiệp,điện tử, sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máy, hoá chất, công nghệ sinh
học...Phấn lớn các thiết bị đa vào nớc ta thuộc loại trung bình của thế giới và
tiên tiến hơn các thiết bị ta đã có.
Tóm lại, đầu t trực tiếp nớc ngoài có vai trò quan trọng và có ý nghĩa
to lớn đối với sự phát triển kinh tế của các nớc tiếp nhận đầu t. Ngời Malaysia
nhận xét rằng : Trong một trừng mực nhất định đầu t trực tiếp nớc ngoài từ
chỗ là nhân tố bên ngoài chuyển thành nhân tố bên trong quyết định
phần lớn tốc độ tăng trởng kinh tế, đặc biệt là cơ cấu kinh tế, tốc độ và phơng
hớng phát triển của ngành công nghiệp Malaysia. Theo tạp chí kinh tế Viễn
Đông thì sau khi có chính sách mở cửa và Luật đầu t nớc ngoài, nền kinh tế

với chủ doanh nghiệp mua lại phần vốn của doanh nghiệp để chuyển thành
doanh nghiệp liên doanh.
V. Tác động của đầu t trực tiếp nớc ngoài.
1. Tác động của FDI đối với nhập khẩu FDI
1.1. Đối với các nớc công nghiệp phát triển.
Đây là những nớc xuất khẩu vốn FDI rất nhiều, nhng đồng thời cũng là
những nớc nhập khẩu vốn FDI lớn nhất hiện nay, tạo nên nguồn đầu t hai
chiều giữa các quốc gia, trong đó có các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs)
đóng vai trò chủ chốt.
Nguồn vốn FDI có tác động quan trọng đến sự phát triển kinh tế của
các nớc này và chiến lợc phát triển cuả các TNCs, đặc biệt là tăng cờng cơ sở
vật chất kỹ thuật, mở rộng nguồn thu của Chính phủ góp phần giải quyết nạn
thất nghiệp và kiềm chế lạm phát...Tính đến năm 1994 nguồn vốn FDI đã tạo
nên tài sản cố định ở nớc ngoài là 5.681 tỷ USD, tổng sản phẩm của các chi
nhánh nớc ngoài là 1.410 tỷ USD, tiêu thụ của chi nhánh nớc ngoài 6.100 tỷ
USD, tạo nên nguồn thu từ chi phí, các quyền có giá trị khác cho các nớc sở
tại là 41 tỷ USD chỉ tính riêng 100 TNCs nhng có khối lợng tài sản đầu t nớc
ngoài khoảng 1.400 tỷ USD, tiêu thụ khoảng 1.500 tỷ USD, sử dụng 12 triệu
lao động trong đó có 5 triệu lao động tại các chi nhánh nớc ngoài tơng đơng
với 16% toàn bộ TNCs.
1.2. Đối với các nớc đang phát triển.
Thực tế cho thấy 90% dòng vốn FDI đổ vào các nớc đang phát triển đ-
ợc thực hiện bởi các công ty đa quốc gia (MNC) số lợng các công ty này đã
tăng lên 50% năm 2000, nguồn FDI của các công ty này còn cung cấp kỹ
thuật, bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lý...Các nớc nhập khẩu FDI
phải tạo cơ hội cho nớc này phát triển. Đồng thời phát huy lợi thế so sánh của
nớc mình về nguồn lao động dồi dào giá nhân công thấp.
Nguồn FDI là nguòn vổ sung quan trọng để các nớc đang phát triển
thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nớc. So với toàn bộ vốn đầu t
phát triển toàn xã hội, vốn FDI ở Trung quốc chiếm khoảng 25% và ở Việt

khẩu để xây dựng cơ bản, trang bị máy móc rất lớn dẫn đến tiêu cực trong
can cân thơng mại gây ra sự thâm hụt thơng mại thờng xuyên. Do đó, cần
phải khuyến khích các dự án FDI mua nguyên liệu, phụ tùng trong nớc và
tăng cờng mở rộng các dịch vụ thu ngoại tệ tại chỗ để cải thiện cán cân
thanh toán.
Với chính sách thu hút vốn FDI theo các ngành nghề hợp lý đã định h-
ớng, nguồn vốn FDI sẽ góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nớc
theo hớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Chẳng hạn, vốn FDI đầu t vào
Thái Lan có trên 80% tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và Việt Nam hiện
nay tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 66%. Các dự án FDI góp phần bổ xung quan
trọng cho ngân sách quốc gia. Các nguồn thu này từ các khoản cho thuê đất,
mặt nớc, mặt biển, từ các loại thuế doanh thu lợi tức, thuế xuất khẩu .
2. Tác động của FDI đối với nớc xuất khẩu FDI .
Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài giúp thị trờng tiêu thụ sản phẩm, tăng c-
ờng bành chớng sức mạnh kinh tế về vai trò ảnh hởng trên thế giới. Phần lớn
các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài về thực chất hoạt động nh chi nhánh
của các Công ty mẹ ở chính quốc. Việc xây dựng các nhà máy sản xuát, chế
tạo hoặc lắp ráp ở các nớc sở tại sẽ mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm, phụ
tùng của các Công ty mẹ ở nớc ngoài , đồng thời còn là biện pháp thâm nhập
thị trờng , biểu hiện tránh đợc bảo hộ mậu dịch của các nớc, đặc biệt là thị tr-
ờng tiêu thụ sản phẩm nội địa ủa các nớc lớn nh: Trung quốc, ấn độ,
Inđônêxia... có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài .
Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài giúp các Công ty nớc ngoài giảm chi phí
sản xuất, rút ngắn thời gian thu hồi vốnđầu t và thu lợi nhuận cao. Do sựphát
triển không đồng đèu về trình độ, phát triển sản xuất, mức sống và thu nhập...
giữa các nớc đã tạo ra chênh lệch về điều kiện và giá cả các yếu tố đầu vào
của sản xuất, do đó đầu t nớc ngoài cho phép lợi dụng các chênh lệch này để
làm giảm chi pí sản xuất tăng lợi nhuận. Trớc hết đó là chi phí về lao động,
tiền lơng của ngời lao động Nhật gấp 10 lần lơng bình quân của ngời lao
động trong khối ASEAN, lơng bình quân của các nớc NICS Đông á cũng

một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của quá trình Công nghiệp
hoá-Hiện đại hoá đất nớc. Do vậy, các nớc đi sau nếu có chính sách thu hút
và sử dụng hợp lý thì có thể tận dụng đợc thành quả của các nớc đi trớc, rút
ngắn thời gian CNH - HĐH. Dới đây là một số kinh nghiệm huy động và sử
dụng vốn của một số nớc trong khu vực:
a. Trung quốc: Từ năm 1979-1997, Trung quốc có trên 303.000 hợp
đồng tổng giá trị 520 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 247 tỷ USD, tỷ lệ sử dụng
vốn đạt 47,5%; là nơi thu hút đợc 40% tổng vốn đầu t vào các nớc đang phát
triển. Năm 1999, vốn đầu t vào Trung quốc đạt 40 tỷ USD. Để đạt đợc thành
tựu trên, Trung quốc đã sử dụng một số biện pháp:
Cải thiện môi trờng đầu t, tăng cờng bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu
t thông qua các quy định của pháp luật. Cải tạo hành chính, tài chính,
thực hiện chế độ một cửa ( thành uỷ Uỷ ban đầu t nớc ngoài để tăng c-
ờng quản lý và thu hút FDI; ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng
đều có cơ quan quản lý đầu t nớc ngoài).
Thực hiện chính sách u đãi, đặc biệt là thuế: Miễn thuế nhập khẩu và
VAT cho các thiết bị sản xuất đợc xuất khẩu, xây dựng danh mục hạn
chế đầu t và quan tâm đến lĩnh vực FDI ở vùng trung tâm và MiềnTây.
Miễn thuế thu nhập trong hai năm đầu có lãi và giảm 50% trong vòng
3 năm tiếp theo cho các cơ sở sản xuất kinh doanh với thời gian trên
10 năm hoặc những xí nghiệp sản xuất kinh doanh phục vụ xuất khẩu,
nhập khẩu vật t đợc miễn thuế hải quan từ 5-25%.
Mở rộng địa bàn thu hút vốn đầu t và phạm vi tiêu thụ sản phẩm thị tr-
ờng tăng cầu trong nớc.
Đa dạng hoá các hình thức đầu t.
b. Inđônêsia: Từ năm 1967-1996, Inđônêsia đã thu hút đợc 173,6 tỷ
USD vốn FDI. Sở dĩ Inđônêsia đạt đợc kết quả đó là do:
Không quốc hữu hoá các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
Cải tiến thủ tục đầu t, bỏ thủ tục nghiên cứu, khảo sát, bỏ qua việc giải
trình về chủng loại và giá trị máy móc nhập khẩu và nhiều loại giấy

áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích đầu t: Nhà đầu t tự do di
chuyển vốn, lợi nhuận ra nớc ngoài, tự quyết định hình thức, phơng
pháp và lĩnh vực hoạt động. Miễn thuế lợi nhuận cổ phần đối với
ngành công nghiệp mũi nhọn và giảm thuế trong 5 năm, xí nghiệp xuất
khẩu đợc giảm thuế 8 năm ( có nơi lên tới 15 năm) xí nghiệp thua lỗ
không phải chịu thuế về chi phí sản xuất 3 năm và chuyển số lỗ vào
thời gian sau khi xí nghiệp làm ăn có lãi, u đãi thuế về nhập khẩu thiết
bị.
Phát triển thị trờng chứng khoán.
d. Thái Lan: Để khuyến khích đầu t nớc ngoài vào nớc mình, Chính phủ
Thái Lan không quy định điều kiện bắt buộc tỷ lệ góp vốn liên doanh. Tuy
nhiên, các dự án cho phép Thái Lan góp vốn trên 50% thì đợc uỷ ban đầu t
cấp chứng chỉ bảo lãnh.
Đối với lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, Thái Lan đã thoả thuận miễn
thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị.
Thái Lan cũng đặc biệt quan tâm đến thủ tục hành chính nhằm tạo
thuận lợi cho nhà đầu t nớc ngoài bằng cách nhiều lần cải tiến thủ tục
cấp giấy phép, thủ tục triển khai dự án theo hớng khuyến khích các
nhà đầu t nớc ngoài.
e. Malaysia: Thời kỳ 1981-1995, Malaysia đã thu hút đợc 35.263 triệu
USD, bình quân 2.350,86 triệu USD/năm, làm đợc điều này là do Malaysia
đã thực hiện các biện pháp nh sau:
Đảm bảo không quốc hữu hoá doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài,
ổn định chính trị, cơ sở hạ tầng hoàn thiện.
Giảm bớt thủ tục hành chính tiến tới chế độ một cửa. Các nhà đầu t chỉ
phải đi qua một cửa là cơ quan phát triển đầu t của Malaysia ( MIDA),
giấy phép đợc nhận trong vòng từ 4-6 tuần, có những hớng dẫn cụ thể
giúp các nhà đầu t trong việc lựa chọn đối tác, ngành nghề, địa điểm
đầu t.
Có những chính sách u đãi, đặc biệt là thuế: nếu đầu t vào những

về mức độ thu hút FDI qua các năm.
Bảng 1. số dự án FDI đợc cấp giấy phép đầu t phân theo năm
(1988-2002)
( Tính đến hết ngày 31/12/2002- tính cả dự án tăng vốn, hết hạn và giải thể )
Năm Số dự án
Tổng vốn đăng

( triệu USD )
Vốn pháp định
( triệu USD )
1988 37 371,8 288,4
1989 67 582,5 311,5
1990 107 839,0 407,5
1991 153 1.332,3 663,6
1992 198 2.165,0 1.418,0
1993 274 2.900,0 1.468,5
1994 373 3.765,6 1.729,9
1995 417 6.530,8 2.986,6
1996 371 8.497,3 4.462,5
1997 346 4.462,5 2.148,8
1998 283 4.058,6 1.807,9
1999 311 1.627,8 1.139,5
2000 328 1.476,8 989,6
2001 470 2.464,5 1.016,4
2002 745 1.490,0 690,9
Tổng số 4450 42.564,5 20.013,3
Nguồn: Vụ Quản lý Dự án - Bộ kế hoạch và đầu t
Biểu đồ 1a: số Dự án FDI tại Việt nam giai đoạn 1988-2002
( Tính cả các dự án tăng vốn, hết hạn và giải thể).
37

trong thời gian qua có thể chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn từ 1988-1991: Có 364 dự án với tổng số vốn cấp mới là 3.125,6
triệu USD. Đây là thời kỳ đầu thực hiện luật đầu t nớc ngoài hoạt động
thu hút và quản lý FDI tại Việt nam hoàn toàn mới mẻ. Trong khi đó, các
nhà đầu t cha quen với thị trờng Việt nam nên họ thận trọng trong bớc đi
đầu tiên. Chính vì vậy, thời gian này số dự án và số vốn đầu t trực tiếp nớc
ngoài vào Việt nam không nhiều.
Giai đoạn 1992-1996: Có 1633 dự án với tổng số vốn đăng ký, cấp mới là
23.858,7 triệu USD ( tăng 4,48 lần về dự án và 7,63 lần về tổng số vốn
đầu t với giai đoạn 1988-1991 ). Trong thời kỳ này các nhà đầu t nớc
ngoài đầu t mạnh vào Việt nam vì với họ đây là một thị trờng rộng lớn,
đầy tiềm năng với gần 80 triệu dân có nguồn lao động dồi dào, rẻ, nguồn
tài nguyên phong phú và cha đợc khai thác nên có rất nhiều cơ hội trong
đầu t kinh doanh. Thời kỳ này cũng là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nền
kinh tế các nớc Đông Nam á nói riêng và các nớc Châu á nói chung,
chính sự phát triển đó cũng tơng tác và thúc đẩy dòng vốn FDI vào Việt
nam.
Giai đoạn 1997-2002: Có 2483 dự án, với tổng số vốn đăng ký cấp mới là
15.580 triệu USD ( tăng 1,52 lần về số dự án nhng giảm 1,53 lần về tổng
số vốn đầu t so với giai đoạn 1992-1996 ). Từ năm 1997 đến nay, cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực đã ảnh hởng mạnh đến nguồn
tài chính của các nhà đầu t và khu vực ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc là
những nớc đầu t nhiều vào Việt nam, đồng thời cuộc khủng hoảng cũng
gây ra những khó khăn cho thị trờng tronh nớc và thế giới khiến cho đầu
t trực tiếp nớc ngoài vào Việt nam gảim sút đáng kể. Một trong những
nguyên nhân cũng phải kể đến là môi trờng đầu t vào Việt nam vẫn còn
những khó khăn và trở ngại cho các nhà đầu t đã khiến cho đầu t trực tiếp
nớc ngoài giảm sút.
Nhìn tổng quát từ năm 1988-1996 đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt nam
tăng khá, số dự án đăng ký tăng bình quân 31,5% năm, vốn đăng ký tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status