NHỮNG THẤT BẠI TRUYỀN THỐNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG (TRADITIONAL
MARKET FAILURES) VÀ MỘT SỐ CÔNG CỤ CƠ BẢN ĐIỀU TIẾT CỦA CHÍNH PHỦ
PGS.TS
. NGUYỄN VĂN SONG
SUMMARY
Traditional market failures include four (4) problems such as monopoly, public goods,
externality, and iminformation. Market economies could not avoid them, and could not
absolutely elimilate their negative effects on the economy. The goverment has to use
significant, useful measures as freeing markets, facilitating markets, simulating markets,
establishing rules (e.g. lum-sum tax, subsidy, emision standard, ceiling price ) to
minimize negative effects on the economy.
Key words: Traditional market failures, monopoly, public goods, externality,
iminformation.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bản chất của nền kinh tế thị trường tự nó có những thất bại không thể tránh khỏi. Trong
nền kinh tế này, Chính phủ không chỉ sử dụng các công cụ, chính sách vĩ mô đề điều
hành nền kinh tế hoạt động cạnh tranh hiệu quả mà còn phải có các công cụ, chính sách
phù hợp nhằm giảm thiểu những thiệt hại do những thất bại của kinh tế thị (market
failures) trường gây ra. Cạnh tranh hoàn hảo trong nền kinh tế thị trường sẽ tạo ra hiệu
quả trong việc sử dụng nguồn lực con người, nguồn lực tự nhiên. Các thất bại của nền
kinh tế thị trường đó là: độc quyền (molopoly), ngoại ứng (externalities), sai lệch thông
tin (iminformation), hàng hoá công cộng (public goods), lạm phát, thất nghiệp, chênh
lệch phân phối thặng dư xã hội vv Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến bốn (4)
thất bại truyền thống của thị trường đó là: độc quyền (molopoly), hàng hoá công cộng
(public goods), ngoại ứng (externalities), sai lệch thông tin (iminformation) và một số
công cụ, chính sách cơ bản của Chính phủ nhằm giảm thiểu những thiệt hại do các thất
bại này gây ra.
Muc tiêu chính của bài viết này nhằm làm rõ những thiệt hại của 4 thất bại truyền thống
của kinh tế thị trường và các công cụ điều tiết cơ bản của Chính phủ nhằm hạn chế những
thiệt hại của các thất bại này gây ra co nền kinh tế. Để giải quyết các mục đích trên, trong
bài viết này chúng tôi sử dụng phương pháp mô hình hóa nhằm mô tả, phân tích các thất
dụ, cơ chế giá trần, giá sàn hoặc trợ giá đầu vào) hoặc khách quan nào đó từ phía thị
trường như thông tin không hoàn hảo, độc quyền hoặc ngoại ứng tích cực mà lượng cân
bằng không phải là Q* mà là Q
1
hoặc Q
2.
Vậy chúng ta chứng minh tại Q
1
hoặc Q
2
, thặng
dư của xã hội nhỏ hơn tại Q*.
Tại Q
1
, thặng dư của xã hội chỉ là a + b, phần c và d đã bị mất đi do sản xuất quá ít, hay
nói cách khác dừng sản xuất tại điểm khi mà tổng lợi ích của xã hội ΣMB
i
(điểm H) còn
cao hơn tổng chi phí của xã hội ΣMC
i
(điểm I) rất nhiều. Tại Q
2
, thặng dư xã hội sẽ là
(a+b+c+d) - e; sở dĩ phải trừ đi phần tam giác e bởi vì nền kinh tế đã sản xuất ra quá
nhiều sản phẩm so với mức cần thiết của xã hội, ở đó (điểm K) tổng chi phí của xã hội
ΣMC
i
lớn hơn nhiều so với tổng lợi ích biên của xã hội ΣMB (điểm L).
2. Độc quyền(molopoly)
Độc quyền mua, hay độc quyền bán đều dẫn tới thiệt hại cho người tiêu dùng và tựu
D
= ΣMB
i
Hình 1. Cân bằng thị trường hiệu quả lớn nhất
E
I
K
H
L
e
Mức sản lượng mà nhà độc quyền sản xuất luôn nhằm tối đa hoá lợi nhuận cho họ được
xác định là điểm giao giữa đường doanh thu biên (MR) và đường chi phí biên (MC) của
nhà độc quyền (lượng Q
đq
của người tiêu dùng mất đi là phần hình thang P
đq
P
ct
KI. Trong đó, phần hình chữ nhật
P
đq
P
ct
MI vào túi nhà độc quyền và phần tam giác MKI (phần gạch đen) là phần mất trắng
của nền kinh tế và xã hội (Dead weight loss). Kết luận: độc quyền bán giá cao hơn cạnh
tranh hoàn hảo, sản lượng cung ra thị trường ít hơn so với thị trường cạnh tranh hoàn hảo,
gây thiệt hại cho người tiêu dùng, phần thiệt hại này một phần vào túi nhà độc quyền và
phần khác là sự mất trắng của nền kinh tế và xã hội.
Để giảm thiểu những thiệt hại của độc quyền gây ra cho người tiêu dùng, nền kinh tế và
xã hội Chính phủ cần tiến hành một số công cụ chủ yếu sau đây:
- Ban hành các chính sách nhằm thiết lập một thị trường có sức cạnh tranh lớn (freeing,
facilitating and simulating markets).
- Dùng chính sách giá trần (ceiling price) nhằm ép nhà sản xuất bán giá thấp hơn P
đq
;
nhưng cũng cần lưu ý rằng mức giá không thể thấp hơn điểm J, vì nếu mức giá thấp hơn
điểm J thì nhà độc quyền sẽ lỗ và họ sẽ không chấp nhận, hoặc không cung. Cần lưu ý
rằng, trong trường hợp giả sử có thể ép giá của nhà độc quyền tới điểm J thì phần mất
AC
Đường cầu
MR
P
đq
P
không cạnh tranh trong sử dụng (ví dụ: lợi ích quốc phòng với người dân, lợi ích từ ngọn
hải đăng với các con tàu ). HHCC thuần tuý có ∑MB
i
> ∑MC
i
(tổng lợi ích biên lớn hơn so với tổng chi phí biên
cho tất cả người sử dụng hoặc hưởng lợi), nhưng MB
i
< ∑MC
i
(lợi ích biên mỗi cá nhân
nhỏ hơn nhiều so với tổng chi phí biên). Chính những đặc điểm trên dẫn tới hiện tượng sử
dụng lãng phí nguồn lực của xã hội, hoặc không có cá nhân nào cung vì không thể thu
phí. Trong trường hợp khi mà ∑MB
i
xh
Giá xã
h
ội bằng
P
cn
Giá cá
nhân b
ằng
Q
xh
lượng xã
h
ội cầu
Q
xh
lượng
c
ầu của cá
Hình 3. Mâu thuẫn lợi ích, chi phí cá nhân với lợi ích và chi phí xã
h
ội của h
àng hoá công c
ộng thuần tuý
dùng thì quyết định sản xuất hay tiêu dùng bao giờ cũng dựa vào điểm chi phí biên MC
bằng với lợi ích biên MB.
Chính phủ là người cung cấp hàng hoá công cộng thuần tuý cho xã hội; Giá của hàng hoá
công cộng cho mỗi cá nhân trong xã hội được tính là mức thuế phải trả. Nhưng mức giá
trong khi đó mức tối ưu hoá thặng dư của xã hội tại Q*
s
. Chính sự méo mó này đã tạo ra
sự mất trắng của xã hội (phần gạch chéo).
Giảm thiểu những thất bại do ngoại ứng tiêu cực gây ra, Chính phủ phải dùng các công
cụ như thuế ô nhiễm (thuế Pigou), chuẩn mức thải, thị trường giấy phép thải, xác định
quyền sở hữu khu vực thải. Nhằm nội hoá sự ô nhiễm của các hãng sản xuất gây ô nhiễm
tiêu cực, đưa chi phí ngoại ứng vào giá cả sản phẩm.
DW
P
s
MEC
Q*s
Qp
MPCMSC
P
p
Hình 4. Ngoại ứng tiêu cực làm sai lệch giá cả của thị trường cạnh tranh và giá xã hội
DWL
D
D là cầu thực sự nếu có thông tin đầy đủ và thông tin đúng, lượng cầu của xã hội se là Q*
và giá sẽ là P*; nhưng giả sử có sai lệch về thông tin, trong trường hợp sản phẩm được
quảng cáo quá mức cần thiết, làm cho người tiêu dùng tiêu dùng ở mức Q
u
với giá P
u
.
Điều này dẫn tới hai hậu quả: thứ nhất, tăng lượng cầu và tăng giá so với thực tế, giảm
P
S
a
P
u
P*
c
b
D
i
D
Q
Q
*
Q
rules); hình thành các thị trường bảo hiểm vv Tuỳ theo từng thất bại cụ thể, trong hoàn
cảnh cụ thể mà áp dụng các công cụ, chính sách cho phù hợp nhằm giảm thiểu những
thiệt hại cho nền kinh tế và xã hội./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Avinash K. Dixit. 1996. The making of economic policy: A transaction –Cost Politics Perspective
Edgar K. Browing and Jacquelene M. Browning. 1997. Public Finance and the Price System.
Third Edition. Macmillan and Lollier Macmillan Company. New York and London
Joseph E. Stiglitz. 1988. Economics of the Public Sector. Second edition. W.W. Norton &
Company. New York. London
Nguyễn Văn Song. 2005. Kinh tế công cộng. Nhà xuất bản Nông nghiệp - Hà Nội