TRƯỜNG ĐH KINH TẾ TP.HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ĐỀ TÀI
TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA
TÀI CHÍNH ĐẾN
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Tháng 3/2012
MỤC LỤC
1. Giới thiệu 4
2. Các kết quả nghiên cứu trước 5
3. Phương pháp nghiên cứu 10
3.1 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu của tác giả 10
3.1.1 Khung làm việc thực nghiệm 10
3.1.2 Dữ liệu và phương pháp 11
3.1.2.1 Dữ liệu 11
3.1.2.2 Phương pháp 13
PHỤ LỤC 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
TÓM TẮT
Kể từ giữa những năm 80, một số nước đang phát triển đã tự do hóa hệ thống tài chính của
họ. Sự tự do hóa này được đặc trưng bởi sự nới lỏng quyền hạn cho các lực lượng thị
trường trong việc quyết định lãi suất và phân bổ tín dụng. Một câu hỏi quan trọng cần được
giải quyết là liệu những cải cách tài chính đã và đang được áp dụng có dẫn đến một sự cải
tiến trong việc phân bổ các nguồn lực hay không.
Có một điều gây tò mò là trong khi các chính phủ đang gỡ bỏ các kiểm soát để hướng tới
một thị trường tự do thì các nhà kinh tế học lại tập trung nỗ lực nghiên cứu về hậu quả của
thông tin không hoàn hảo trong hệ thống thị trường. Tự do hóa tài chính nói chung liên
quan đến việc thay thế một hệ thống sai lầm sâu sắc đặc trưng bởi sự can thiệp của chính
phủ nặng nề với nhiều lỗ hổng khác nhau.
Trong kinh tế, tác động của các thị trường tài chính đang phát triển lên tăng trưởng kinh tế
luôn là vấn đề quan trọng từ trước đến nay. Và mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và tăng
trưởng kinh tế vẫn còn đang được thảo luận sôi nổi và chưa có một kết luận thông nhất nào
giữa các nhà kinh tế học về vấn đề này. Do đó, bài viết này nhằm kiểm định mối quan hệ và
mức độ tác động của tự do hóa tài chính đến tăng trưởng kinh tế ở thị trường Việt Nam
(VN).
1. Giới thiệu
Tự do hóa tài chính, hay là sự mở cửa của thị trường tài chính nội địa để cạnh tranh với thị
trường tài chính nước ngoài, là một tiến trình nhiều mặt bao gồm các thị trường phức tạp và
các định chế trung gian giữa người cho vay và người đi vay. Những chính sách tự do hóa
tài chính như thế bao gồm tự do hóa lãi suất, xóa bỏ phân bổ tín dụng chỉ đạo, tư nhân hóa
ngân hàng, tự do gia nhập vào lĩnh vực ngân hàng và tăng cường các quy định về quản trị
rủi ro (hedging).
Theo lý thuyết về tự do hóa tài chính, kiềm chế tài chính thông qua trần lãi suất giữ lãi suất
ở mức thấp và điều này không khuyến khích tiết kiệm với hậu quả là lượng tiền đầu tư
không có. Như vậy đầu tư bị hạn chế bởi các khoản tiết kiệm. Chất lượng đầu tư cũng thấp
phần trong ảnh hưởng của tự do hóa thị trường vốn. Cuối cùng, phản ứng tăng trưởng mạnh
nhất xuất hiện ở các quốc gia có định chế phát triển.
6
“Growth and Risk at the Industry Level: the Real Effects of Financial Liberalization”
(Andrei A. Levchenko., Romain Rancière, Mathias Thoenig) Bài viết phân tích tác động của
tự do hóa tài chính lên tăng trưởng kinh tế và biến động ở mức ngành công nghiệp trong
một mẫu lớn các quốc gia. Các tác giả ước tính các tác động của tự do hóa đến sản xuất,
việc làm, công ty, tích lũy vốn, và năng suất, sử dụng các biện pháp đo lường tự do hóa cả
trong thực tế và về pháp lí. Tự do hóa tài chính có một tác động đồng biến lên cả tăng
trưởng kinh tế và biến động của sản xuất công nghiệp. Tác động lên tăng trưởng đến từ sự
gia tăng các công ty, tích lũy vốn cao hơn, và sự mở rộng thị trường lao động. Tuy nhiên,
các tác giả không tìm thấy bất kì một tác động nào của tự do hóa tài chính đến năng suất.
Cuối cùng, tác động tăng trưởng của tự do hóa xxuất hiện tạm thời chứ không vĩnh viễn.
Bài “Financial development and economic growth: a cointegration approach” cho thấy
rằng mặc dù có rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện kể từ những năm 1990 để quan sát
mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, mỗi nghiên cứu chỉ tìm thấy
những kết quả có ý nghĩa trong những khoảng thời gian nhất định. Và rằng các nhà kinh tế
đã thừa nhận tác động của sự phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên họ
không có ý kiến chung về nguyên nhân của nó, có nghĩa là liệu rằng sự phát triển tài chính
kéo theo sự tăng trưởng kinh tế hay sự tăng trưởng kinh tế dẫn đến tài chính phát triển. Ví
dụ, Hicks (1969) và Schumpeter (1912) ủng hộ rằng tài chính phát triển kéo theo tăng
trưởng kinh tế. Ngược lại với ý kiến này, Robinson (1952) cho rằng, trong điều kiện các
quy định tài chính cùng loại, sự tăng trưởng kinh tế tạo ra một nhu cầu và hệ thống tài
chính tự động phản hồi lại nhu cầu đó, dẫn đến sự phát triển của hệ thống tài chính
(Levine,1997).
“Decomposing the Effects of Financial Liberalization: Crises vs. Growth” (Romain
Ranciere, Aaron Tornell, Frank Westermann) Tác giả tìm ra rằng tăng trưởng trực tiếp của
bổ giữa các khối doanh nghiệp và các ngành.
Rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tự do hóa tài chính giúp cải thiện chức năng của hệ
thống tài chính, tăng khả năng của các quỹ và cho phép đa dạng hóa rủi ro xuyên quốc gia.
Ví dụ, Obstfeld (1998) lập luận rằng các thị trường vốn quốc tế có thể đầu tư lượng tiết
8
kiệm của thế giới vào các khu vực có năng suất cao, không phân biệt nơi chốn. Stulz
(1999) và Mishkin (2001) cho rằng tự do hóa tài chính thúc đẩy tính minh bạch và trách
nhiệm, giảm các lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức, đồng thời làm dịu đi vấn đề thanh
khoản trong thị trường tài chính. Hơn nữa, họ tranh luận rằng thị trường vốn quốc tế có thể
giúp hạn chế các nhà làm chính sách, những người có thể bị cám dỗ khai thác thị trường
vốn bị giam cầm trong nước. Những người khác thậm chí còn cho rằng tự do hóa tài chính
và phát triển tài chính tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế. Cùng với sự gia tăng của
những người ủng hộ việc kiềm chế, nhóm ủng hộ bãi bỏ các quy định cũng ngày càng nhiều
thêm.
Về mặt kiểm định thực nghiệm, (Ogun, 1986; Oshikoya năm 1992; Seck và El Nil, năm
1993; Matsheka năm 1998; Allen và Ndikumana, 2000) đã không đo lường được những
thay đổi thể chế dần dần mà tự do hóa tài chính đem đến. Một số nghiên cứu như Allen và
Ndikumana (2000) và Aziakpono (2004) đã sử dụng tỷ lệ giữa khả năng thanh khoản trên
GDP như là một thước đo làm trung gian tài chính, nhưng biến này không đưa ra bất cứ dấu
hiệu nào cho các chính sách tự do hóa tài chính cụ thể ở các quốc gia khác nhau. Các
nghiên cứu khác như Seck và El Nil (1993), Oshikoya (1992), và Matsheka (1998) sử dụng
lãi suất thực như một thước đo tự do hóa tài chính nhưng biến này chỉ nắm bắt được một
phần của tự do hóa tài chính – bãi bỏ các quy định về lãi suất. Tự do hóa tài chính không
chỉ bao gồm việc bãi bỏ các quy định về lãi suất mà còn liên quan đến các chính sách khác.
Gibson và Tsakalatos (1994, p.596) và Demetriades và Luintel (1996, p.366) lưu ý rằng
việc nghiên cứu chỉ dựa vào lãi suất thực sẽ dễ gặp vấn đề biến bị bỏ qua.
Bhatia và Khatkhate (1975) sử dụng đồ thị tương quan để kiểm tra mối quan hệ giữa tăng
do hóa khác và dễ xuất hiện vấn đề biến bị bỏ qua (Gibson và Tsakalatos,1994, trang 596;
Demetriades, Luintel, 1996, trang 366).
Bài nghiên cứu“Financial Liberalisation Policies and Economic Growth: Panel Data.
Evidence from Sub-Saharan Africa” của Babajide Fowowe có ưu điểm là tác giả phát triển
10
các nghiên cứu trước bằng cách xây dựng 2 chỉ số xem xét bản chất của quá trình tự do hóa
tài chính. Hai chỉ số này cùng với biến giả đại diện cho tự do hóa tài chính được đưa vào
phương trình tăng trưởng. Nghiên cứu của tác giả do đó sẽ cung cấp một phân tích sâu sắc
hơn về mối quan hệ giữa tăng trưởng và các chính sách tự do hóa tài chính cụ thể ở các
nước tiểu vùng Sahara Châu Phi (SSA), và những phân tích như vậy thì chưa có ở các bài
nghiên cứu thực nghiệm gần đây.
Dựa trên kết quả đó, bài nghiên cứu này nhằm mục đích trả lời cho câu hỏi rằng Tự do hóa
tài chính liệu rằng có thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hay không, và ở mức độ nào.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu của tác giả
3.1.1 Khung làm việc thực nghiệm
Khung thực nghiệm được dựng nên từ những nghiên cứu gần đây về tác động của sự phát
triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế ví dụ như Beck et al. (2000) mà tỷ lệ tăng trưởng của
thu nhập trên đầu người được hồi quy với sự phát triển tài chính và một tập hợp thông tin
điều kiện. Trong thể loại nghiên cứu này, các đặc điểm chung của phương trình tốc độ tăng
trưởng được đưa ra dưới đây:
Với: Y = tỷ lệ tăng thu nhập bình quân trên đầu người
FL= đo lường mức độ tự do hóa tài chính
X
n
= tập hợp các thông tin điều kiện
lường các giai đoạn khác nhau của quá trình bãi bỏ quy định và xây dựng các định chế.
12
Công việc của tác giả là xác định 5 chỉ số chính dịch chuyển theo tự do hóa tài chính. Đó
là: tư nhân hóa và tái cấu trúc ngân hàng, tự do hóa lãi suất, các quy định bảo đảm
(hedging), bãi bỏ tín dụng chỉ định và tự do gia nhập ngành ngân hàng. Tác giả sau đó phân
bổ cho mỗi biến giá trị 0 trước khi tự do hóa. Sau khi tự do hóa, các chỉ số lấy giá trị từ 1 và
tăng lên tùy thuộc vào tiến độ đạt được cho mỗi chính sách tự do hóa cụ thể. Tác giả có
được 1 ma trận 5 biến cho mỗi quốc gia và sau đó áp dụng phương pháp phân tích thành
phần chính. Các tác giả sử dụng các thành phần chủ yếu đầu tiên cho mỗi nước làm chỉ số
về tự do hóa, và cho tất cả các nước ngoại trừ Nigeria (58.8%) và Mauritius (56.9%) các
chỉ số thành phần đầu tiên này chiếm ít nhất 65% tổng số mức biến đổi. Chỉ số tự do hóa tài
chính thứ 2 (FINDEX2) cũng đo lường tính tiến triển của tự do hóa tài chính. 5 chỉ số
tương tự của tự do hóa dùng cho chỉ số đầu tiên được sử dụng nhưng trong trường hợp này
mỗi phương pháp được chỉ định giá trị 0 trước khi tự do hóa và 1 sau khi tự do hóa. Điều
này tạo ra 1 ma trận 5 biến giả và chỉ số là sự bổ sung của các biến cho mỗi năm.
FINDUMMY, biến giả cho tự do hóa tài chính, chỉ ngày bắt đầu quá trình tự do hóa tài
chính của các nước. Biến giả lấy giá trị 0 trước tự do hóa và 1 sau khi tự do hóa.
Bảng 3 và 4 cung cấp 2 chỉ số của tự do hóa tài chính. Bảng 3 tóm tắt chỉ số FINDEX2 và
mỗi ô chỉ ra các phương pháp tự do hóa tài chính diễn ra trong từng năm cụ thể. Các tác giả
quan sát được một số đặc điểm thú vị của tự do hóa tài chính ở các nước khác nhau. Đầu
tiên, tác giả thấy rằng ở một số quốc gia như Botswana, Kenya, Malawi và Zambia tiến bộ
vượt bậc trong quá trình tự do hóa tài chính với nhiều biện pháp khác nhau được thực hiện
qua nhiều năm khác nhau. Ngược lại, một số nước khác như Cote d’Ivoire, Gambia, Mali,
Uganda, và Zimbabwe thì tiến bộ ít hơn khi thực hiện nhiều phương pháp tự do hóa trong
cùng 1 năm. Thứ hai, từ bảng số liệu tác giả thấy rằng đến năm 2000, hầu hết các nước đã
tiến hành cải cách tài chính đáng kể như là bằng chứng cho việc họ đã có ít nhất 4 lần thực
hiện các biện pháp tự do hóa tài chính. Quan sát từ bảng 3 chỉ ra rằng một số nước như
cùng lúc kiểm soát các vấn đề kinh tế lượng có thể phát sinh từ biến giải thích là thu nhập
bình quân đầu người ban đầu. Phép tính này liên quan đến việc ước lượng các phương trình
theo từng mức độ và khác biệt. Đối với các phương trình levels các giá trị trễ của tất cả các
biến giải thích được sử dụng như biến công cụ trong khi đối với các phương trình sai phân,
tác giả sử dụng các giá trị trễ theo cấp độ của tất cả các biến giải thích làm biến công cụ.
Hai phương trình levels và sai phân sau đó sẽ được kết hợp lại để đưa cho hệ thống ước
lượng GMM. Các biến công cụ này được gọi là các biến nội bộ bởi vì chúng dựa trên sự
xác đinh trước đó của các biến giải thích và tác giả kiểm định tính hợp lý của chúng bằng
kiểm định Sargan và kiểm định tính nhất quán bằng cách sử dụng kiểm định tương quan
chuỗi second-order.
15
3.1.3 Dữ liệu và phương pháp sử dụng trong bài nghiên cứu này
Trong bài nghiên cứu này, tôi sử dụng phương pháp phân tích định tính để làm rõ mối quan
hệ giữa tự do hóa tài chính. Sau đó sử dụng kiểm định thực nghiệm để kiểm tra lại kết quả
dựa trên những nhân tố đã có ở Việt Nam.
Phương trình tác động của các nhân tố tự do hóa tài chính đến tăng trưởng được trình bày
như sau:
GDP
t
= a
0
+ a
1
RATE
t
+ a
năm. Tỷ lệ tăng trưởng GDP trên
đầu ngừoi bằng Log của giá trị
GDP trên đầu người.
RATE
Lãi suất tiền
gửi bình quân
12 tháng (%)
Website Ngân hàng Nhà
nước
TRADE
Tỷ lệ xuất
nhập khẩu so
với GDP (%)
Tổng cục thống kê +
Datastream
Tổng giá trị xuất nhập khẩu chia
cho GDP
FDI
Tỷ lệ vốn đầu
tư trực tiếp
nước ngoài
so với GDP
(%)
Tổng cục thống kê +
Website bộ Tài chính
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là dòng
vốn ròng chảy vào với quyền trực
tiếp quản lý trong dài hạn đối với
một doanh nghiệp được đặt trong
Các biến được đo lường theo từng quý, trong thời gian từ 1997 đến 2010. Mô hình được sử
dụng là OLS cơ bản, chạy bằng chương trình Eview để xác định các hệ số a
0
, a
1
, a
2
, a
3
, a
4,
a
5
nhằm làm rõ mức ảnh hưởng của các nhân tố đặc trưng cho thị trường tài chính đến tăng
trưởng kinh tế.
Ở đây biến INV của tác giả đã được thay bằng biến FDI. Trong lý thuyết về tự do hóa tài
chính, đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Nó tạo ra
giá trị, giảm tỉ lệ thất nghiệp, làm cho việc chuyển giao công nghệ được dễ dàng và từ đó
kích thích tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu gần đây nhất đã tập trung vào mối quan hệ
giữa các chính sách tự do hóa tài chính, FDI và tăng trưởng kinh tế. Có rất nhiều nghiên
cứu gần đây đã ủng hộ cho quan điểm về tác động tích cực của FDI như là một biện pháp
của tự do hóa tài chính đến tăng trưởng kinh tế. Ruxanda. G and Muraru. A (2010) dùng
các phương trình dựa trên những bằng chứng thu thập được để lý giải mối quan hệ hai
chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Har Wai Mun and Teo Kai Lin (2008) sử dụng dữ
liệu chuỗi thời gian từ 1970 – 2005 ở Malaysia để phát hiện ra mối quan hệ đồng biến giữa
tăng trưởng kinh tế và FDI. Nghiên cứu của Ayanwale.A (2007) cho thấy FDI ở Nigeria có
mối quan hệ đồng biến với tăng trưởng kinh tế, mặc dù mối quan hệ này về mặt tổng quan
là không đáng kể. Ghosh Roy. A and Van den Berg. H.V (2006) sử dụng dữ liệu chuỗi thời
doanh có hiệu quả.
Hệ thống tài chính không được phát triển và không thể thực hiện được những chức năng
trong việc điều tiết và tạo vốn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
19
Thị trường tài chính có thể không có hoặc manh mún, phân tán và đầy rủi ro, lạm phát
và tỷ giá biến động không thể kiểm soát được
4.1.1.2 Tự do hóa tài chính
Khái niệm
Tự do hóa tài chính thực chất là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là xoá bỏ sự kiểm soát
của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống này hoạt
động tự do theo quy luật thị trường.
Nội dung
Tự do hóa tài chính trong nước
Mục đích của tiến trình tự do hoá tài chính trong nước là để tạo điều kiện cho các dòng vốn
có thể tự do di chuyển đến khu vực hiệu quả nhất trong phạm vị quốc gia mà không bị vấp
phải các rào cản phi kinh tế nào. Bao gồm:
Tự do hoá các dịch vụ ngân hàng
Bãi bỏ kiểm soát tín dụng hay tự do hoá hoạt động tín dụng
Tạo môi trường bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng trong nước
Tự do hóa tài chính quốc tế
Mục đích của tự do hoá tài chính quốc tế là để hội nhập thị trường tài chính trong nước với
thị trường tài chính quốc tế, đề luồng vốn có thể di chuyển tự do trên phạm vi quốc tế. Bao
gồm:
Mở cửa khu vực ngân hàng
Tự do di chuyển luồng vốn
Tự do hoá tỷ giá và thị trường ngoại hối
do hoá tài chính
Giảm
dự trữ
bắt
buộc
Bỏ
kiểm
soát lãi
suất
Đa
dạng
hoá sở
hữu
Tăng
cạnh
tranh
Bỏ tín
dụng
chỉ
định
Cải cách thương mại
Qu
ả
n lý t
ỷ
giá h
ố
dòng chảy vốn chủ sở hữu ổn định hơn sơ với nợ vay – đã được xác định.
Trong bất kì trường hợp nào, dòng chảy nợ danh mục đầu tư mang đến tình trạng xấu, đặc
biệt là từ khi sự không phù hợp giữa tiền tệ và tăng trưởng liên quan đến nợ nước ngoài bị
xem như là yếu tố tương đối quyết định của rất nhiều cuộc khủng hoảng ở các thị trường
mới nổi.
Dòng chảy danh mục đầu tư vốn chủ sở hữu
Tầm quan trọng ngày càng gia tăng của dòng chảy danh mục đầu tư vốn chủ sở hữu đã thúc
đẩy rất nhiều nhà nghiên cứu kiểm định tác động tăng trưởng của tự do hóa thị trường vốn
chủ sở hữu. Hầu hết các bài nghiên cứu về vấn đề đang gia tăng đột biến này đều cho rằng
dòng chảy danh mục đầu tư vốn chủ sở hữu có một tác động tích cực và đáng kể đến tăng
22
trưởng của sản lượng đầu ra. Cho dù tác động tăng trưởng được ước tính (trong dữ liệu kinh
tế vĩ mô) của các nhân tố khác – đặc biệt là các cải cách khác đi kèm với tự do hóa tài chính
– có kéo dài hay không, theo quan điểm của tác giả, là một câu hỏi mở. Mặt khác, ngày nay
đang nổi lên các bằng chứng vi mô (dữ liệu về công ty và ngành công nghiệp) ủng hộ cho
các bằng chứng vĩ mô. Một số các bài viết này cũng cung cấp các tài liệu về các kết quả
thực nghiệm của các kênh lý thuyết khác nhau liên kết tự do hóa thị trường vốn đến tăng
trưởng kinh tế - bao gồm thông qua những gia tăng trong đầu tư và tăng trưởng năng suất
tổng hợp TFP.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tầm quan trọng có liên quan của dòng chảy FDI đã gia tăng đáng kể trong những năm gần
đây, làm cho nó trở thành hình thức quan trọng nhất của tài chính quốc tế tư nhân đối với
các nền kinh tế thị trường mới nổi. Có một giả định quan trọng trong lý thuyết rằng FDI
mang lại nhiều lợi ích hơn tất cả các loại dòng chảy tài chính khác, ngoài việc tăng vốn cổ
phần trong nước, nó còn có 1 tác động tích cực đến năng suất thông qua việc chuyển giao
kỹ thuật và các kĩ năng quản lý chuyên môn. Ngoài ra người ta cũng lập luận rằng FDI có
xu hướng ít biến động nhất trong tất cả các loại dòng chảy vốn, khiến cho các quốc gia ít bị
các vấn đề về điều hành.
4.1.3 Tác động của tự do hóa tài chính đến tăng trưởng và biến động kinh tế vĩ mô
4.1.3.1 Tác động đến tăng trưởng
Một trong những trường phái tân cổ điển đơn giản nhất đã cho thấy rằng sự tự do hóa dòng
vốn đã dẫn đến dòng chảy vốn từ các nền kinh tế giàu có sang các nền kinh tế thiếu vốn, và
sau đó, lợi nhuận từ dòng vốn này sẽ cao hơn. Các dòng vốn này bổ sung cho lượng tiết
kiệm nội địa bị hạn chế ở các nền kinh tế thiếu vốn và, bằng cách giảm chi phí sử dụng vốn,
làm gia tăng đầu tư. Một số loại dòng chảy tài chính có thể tạo ra sự lan tỏa công nghệ và là
một kênh để hấp thụ các hình thức quản lý và tổ chức chuyên môn khác từ các nền kinh tế
tiên tiến.
24
Ngoài ra, cũng có thể có nhiều kênh gián tiếp khác mà sự tự do hóa dòng vốn có thể tác
động đến tăng trưởng. Nó có thể thúc đẩy sự chuyên môn hóa bằng cách cho phép chia sẻ
rủi ro thu nhập mà nhờ đó lại có thể gia tăng tính năng suất và cả tăng trưởng. Dòng chảy
tài chính có thể thúc đẩy sự phát triển của ngành tài chính trong nước, và bằng cách áp đặt
kỷ luật lên các chính sách vĩ mô, dẫn đến các chính sách ổn định hơn.
4.1.3.2 Tác động lên sự bất ổn kinh tế vĩ mô
Các tác động của tự do hóa dòng vốn lên sự bất ổn ở đầu ra về lý thuyết là không rõ ràng.
Về nguyên tắc, tự do hóa dòng vốn cho phép các nước thiếu vốn có thể đa dạng hóa khỏi
tình trạng sản xuất lạc hậu mà chủ yếu dựa trên nông nghiệp và lệ thuộc vào các tài nguyên
thiên nhiên. Điều này sẽ làm giảm bất ổn kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, ở giai đoạn cao hơn của
sự phát triển, hội nhập tài chính và thương mại đồng thời có thể cho phép gia tăng sự
chuyên môn hóa dựa trên những xem xét về lợi thế so sánh. Điều này có thể làm cho các
quốc gia dễ bị tổn thương trước các cú sốc công nghiệp.
Tuy nhiên, lý thuyết có một dự đoán mạnh mẽ về mối quan hệ giữa hội nhập tài chính và sự
bất ổn trong mức tiêu thụ. Kể từ khi người tiêu dùng, và rộng hơn nữa, là nền kinh tế trở
nên e ngại với rủi ro, lý thuyết tiêu dùng cho thấy thị trường tài chính nên được dùng để đối
tăng hội nhập tài chính giữa các quốc gia có liên quan tới tăng trưởng đầu ra là không chắc
chắn, vì nó phụ thuộc vào bản chất của các cú sốc và các đặc trưng riêng biệt. Trong bất kì
trường hợp nào, sự hội nhập tài chính, về lý thuyết, sẽ giúp các quốc gia đa dạng hóa các
rủi ro riêng có, và do đó, dẫn đến mối tương quan mạnh hơn về tăng trưởng của đầu ra giữa
các quốc gia. Như vậy, song song với việc bàn luận về độ bất ổn, lý thuyết kinh tế đã có
một kết luận rõ ràng bằng cách nào hội nhập tài chính ảnh hưởng đến mỗi tương quan mức
tiêu thụ giữa các quốc gia nhưng không ảnh hưởng đến mối tương quan của sản lượng đầu
ra hay thu nhập.
Tóm lại, có một giả thuyết mạnh mẽ trong tự do hóa tài chính rằng tự do hóa dòng vốn tốt
cho tăng trưởng và, mặc dù tác động của nó đến độ bất ổn của sản lượng đầu ra là không rõ
ràng, nó vẫn dẫn đến sự giảm trong biến động của lượng tiêu thụ (và gia tăng mối tương
quan của sự biến động trong lượng tiêu thụ giữa các quốc gia.