LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác đều vướng vào vòng luẩn quẩn
của sự đói nghèo đó là đầu tư thấp dẫn đến năng suất lao động thấp kéo theo thu nhập
và tiết kiệm thấp nên đầu tư lại thấp. Vì thế các nước này luôn đi sau các nước phát triển
hàng trăm năm. Để thoát khỏi vòng đói nghèo đó cần phải có một cú huých từ bên ngoài
để thu hút vốn. Tự do hoá tài chính sẽ giúp các nước huy động được nguồn vốn nhàn rỗi
trong nước và nước ngoài, kích thích đầu tư giúp tăng trưởng kinh tế. Vì vậy việc xoá
bỏ kiềm chế tài chính tiến tới tự do hoá tài chính là một vấn đề cần thiết không chỉ riêng
đối với Việt Nam. Theo xu thế hội nhập toàn cầu thì tự do hoá tài chính là con đường
phải qua. Nhưng để tiến tới tự do hoá tài chính hoàn toàn không phải chỉ một sớm một
chiều là xong. Mà đó là cả một quá trình gian khó. Việc thực hiện ở mức độ nào và tiến
trình ra sao thì phải tuỳ thuộc vào điều kiện của từng nước.
Với đề tài này em muốn đề cập là "Kiềm chế tài chính - Tự do hoá tài chính, tự do
hoá tài chính ở các nước và bài học đối với Việt Nam" để xem tiến trình đổi mới và hội
nhập của đất nước được thực hiện như thế nào. Quá trình tự do hoá đã được thực hiện ở
đâu, với cơ chế lãi suất, chế độ tỷ giá ra sao, và Việt Nam đã thực hiện được chưa.
Với kiến thức hạn chế bài viết sẽ có nhiều sai sót mong thầy giúp đỡ và góp ý cho em.
Em chân thành cảm ơn !
1
PHẦN I
TỔNG QUAN VỀ KIỀM CHẾ TÀI CHÍNH
VÀ TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH
I. KIỀM CHẾ TÀI CHÍNH
I.1. Kiềm chế tài chính
Theo nghiên cứu E.Shaw và MCKINNON thì kiềm chế tài chính là một cơ chế tài
chính được đặc trưng bởi sự can thiệp quá mức của Nhà nước vào các hoạt động và các
quá trình tài chính. Cụ thể là Nhà nước ấn định mức lãi suất trần trực tiếp điều tiết quá
trình phân phối tín dụng, ưu tiên cho khu vực kinh tế quốc doanh và đặt ra tỷ lệ dự trữ
bắt buộc quá cao. Trong một chế độ bị kìm hãm như vậy lãi suất tiền gửi thực của động
sản, tiền tệ thường bị âm và khó mà dự đoán được khi nào xảy ra lạm phát cao và không
ổn định. Tỷ giá hối đoái cũng trở nên rất không chắc chắn, nó phá vỡ thị trường trong
nhiên các nước này vẫn tiếp tục duy trì chế độ tỷ giá cố định với tư cách là mỏ neo danh
nghĩa trong chương trình chống lạm phát của mình như Chilê và Urugoay năm 1978
Achentina năm 1991,...
Thứ ba, Chính phủ can thiệp, phân bổ tín dụng:
Chính phủ thường trợ cấp tín dụng cho các khu vực kinh tế Nhà nước và các
ngành Chính phủ muốn khuyến khích phát triển. Như năm 1986, Pakistan, 70% những
khoản cho vay mới là của ngân hàng quốc gia, và các ngân hàng chiếm ưu thế trong thế
giới ngân hàng tại Braxin, năm 1987 chương trình tín dụng Chính phủ chiếm hơn 70%
dư nợ tín dụng cho khu vực kinh tế công cộng và tư nhân. Như ở Nicaragua việc trợ cấp
tín dụng trực tiếp ngoài việc choán mất chỗ của các dự án đem lại mức hoàn vốn có tiềm
năng cao và kích thích sự bành trướng quan liêu của các tổ chức thu nhập tín dụng khác
nhau, còn mang lại nhiều hậu quả khác cho nền kinh tế như vấn đề đầu tư không thu lại
hiệu quả, nhu cầu tín dụng sẽ luôn luôn vượt trội nếu người ta không phải trả lại hoặc
nếu lãi suất cho vay thực là âm. Các khoản trợ cấp tín dụng vượt quá cho các ngành
nông nghiệp và một phần cho ngành công nghiệp đã duy trì rất nhiều hãng và trang trại
không có hiệu quả vẫn tiếp tục tồn tại. Thậm chí sự phát triển của các xí nghiệp có hiệu
quả tiềm tàng lại bị cản trở nghiêm trọng bởi vì tất cả các trang trại đã bóp méo bản chất
hoạt động của mình nhằm mục tiêu kiếm được các khoản trợ cấp tín dụng. Điều này đã
làm cho thâm hụt ngân sách tăng vì phải bù lỗ, tổng thu nhập quốc dân giảm, xuất khẩu
giảm, lạm phát tăng,...
Chính những đặc trưng trên đã làm cho môi trường cạnh tranh không bình đẳng.
Nó không kích thích được tự do cạnh tranh lành mạnh, bỏ qua sự điều chỉnh của các quy
luật cung cầu, quy luật kinh tế.
3
I.3. Ưu nhược điểm của kiềm chế tài chính
Để đạt được mong muốn của Nhà nước về nguồn tài chính, để đảm bảo một tỉ lệ
tăng trưởng cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp cũng như các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
khác nên Nhà nước thực hiện kiềm chế tài chính đã đưa nền kinh tế phát triển theo đúng
hướng, đúng mục đích của mình nhưng hậu quả cơ bản của việc theo đuổi chính sách tài
chính kiềm chế lại chính là những hạn chế về tăng trưởng kinh tế, những mất ổn định
4
Ngân sách Nhà nước luôn là giới hạn mềm. Lạm phát và sự biến động của tỷ giá là
không thể kiểm soát nổi. Hệ thống tài chính không được phát triển và không thể thực
hiện được vai trò và chức năng trong việc điều tiết và tạo vốn thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế. Thị trường tài chính hoặc là không có hoặc là hết sức manh mún, phân tán
và đầy rủi ro.
Qua những hạn chế trên đây thì việc xoá bỏ kiềm chế tài chính tiến tới tự do hoá
tài chính là con đường phải qua, là việc nên làm để thúc đẩy việc huy động những
nguồn vốn nhàn rỗi kích thích đầu tư, tăng trưởng kinh tế tham gia vào quá trình hội
nhập, toàn cầu hoá.
II. TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH
II.1. Tự do hoá tài chính
Trong 3 xu hướng tự do hoá cơ bản (tự do hoá giá cả, tự do hoá thương mại và tự
do hoá tài chính) thì tự do hoá tài chính thường là bước cuối cùng khó khăn nhất, lâu dài
nhất và cũng nguy hiểm nhất. Hiện nay IMF cũng như WB lấy học thuyết tự do hoá tài
chính làm kim chỉ nam đổi mới tài chính trên toàn cầu. Họ nhận định "Tự do hoá tài
chính thành công là bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược tăng trưởng kinh tế
của mỗi nước".
Vậy tự do hoá tài chính là gì? Đó là giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước vào các
giao dịch tài chính. Các hoạt động tài chính được tự do thực hiện theo tín hiệu thị
trường. Bản chất của tự do hoá tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế thị trường.
Các dòng vốn được tự do lưu chuyển đến bất cứ đâu tuỳ thuộc ý muốn của nhà đầu tư
mà không gặp bất cứ sự ngăn cản phi kinh tế nào. Điều này hoàn toàn phù hợp với trọng
tâm đổi mới là nâng cao hiệu quả đầu tư mà chúng ta đã lựa chọn. Các dòng vốn ở đây
bao gồm cả vốn đầu tư của khu vực quốc doanh và tư nhân, vốn trong nước và vốn nước
ngoài, đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Kết quả của tự do hoá tài chính được thể hiện
bằng tỷ số giữa tiền mở rộng (tiền mặt và tiền gửi trong hệ thống Ngân hàng thương
mại) trên thu nhập quốc dân, tỷ lệ này của các nước Châu Á trung bình là 60% của Châu
Phi chỉ có 20%.
Tự do hoá tài chính được phân làm hai cấp độ:
phần thúc đẩy Chính phủ các nước chủ nhà cải tiến phương pháp quản lý vĩ mô nền kinh
tế và thay đổi cách thức can thiệp vào thị trường đồng thời thúc đẩy việc hoàn thiện
hành lang pháp lý và hệ thống kiểm tra, giám sát của Chính phủ đối với những lĩnh vực
dịch vụ này.
Các nhà nghiên cứu lập luận rằng sở dĩ tự do hoá tài chính có tác động tích cực
đến nền kinh tế chính là nhờ tác động lợi thế của kinh tế quy mô do vậy các tổ chức tài
chính có thể hạ giá thành phục vụ. Bên cạnh đó việc loại bỏ yếu tố độc quyền tăng
cường sự cạnh tranh là nhân tố có tính quyết định trong việc nâng cao chất lượng dịch
vụ, đa dạng hoá các loại hình sản phẩm và mở rộng cơ hội lựa chọn cho người tiêu dùng
phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn.
Một nghiên cứu ở Mỹ nhằm xem xét tác động của cải cách trong lĩnh vực ngân
hàng theo hướng mở của thị trường vào những năm 1970 và 1980 cho thấy việc cải cách
6
đó đã góp phần làm tăng trưởng khoảng 0,5 đến 1,2% tổng sản phẩm quốc nội trong
khoảng thời gian 10 năm sau khi cải cách được thực hiện.
Năm 1997 Bộ trưởng ngân khố Mỹ - Rober E. Rubin đưa ra kế hoạch nhằm hiện
đại hoá hệ thống dịch vụ tài chính ở Mỹ và phác thảo những lợi ích của kế hoạch dựa
trên những tính toán thực tế như sau:
• Thời gian trước đây khi chúng ta cho phép cạnh tranh mạnh hơn trong lĩnh vực
dịch vụ tài chính, người tiêu dùng đã được hưởng những lợi ích đáng kể. Năm 1995 giới
tiêu dùng Mỹ chi phí vào khoảng 300 tỷ đô la vào các hoạt động bảo hiểm, dịch vụ ngân
hàng và môi giới chứng khoán. Giả sử rằng do kết quả cạnh tranh của kế hoạch hiện đại
hoá hoạt động dịch vụ tài chính mà chi phí dịch vụ đối với người tiêu dùng có thể giảm
đi 1% thì cũng đã tiết kiệm được khoảng 3 tỷ đô la một năm. Tuy nhiên dựa trên những
cơ sở thực tế tỷ lệ tiết kiệm chi phí hoàn toàn có thể đạt đến mức 5%, tức là vào khoảng
15 tỷ đô la một năm - một con số hoàn toàn không nhỏ đối với nền kinh tế.
Người ta tiến hành nghiên cứu tương tự như vậy đối với Châu Âu và Châu Mỹ
cũng chỉ ra rằng ngành ngân hàng có thể giảm bớt chi phí nâng cao lợi nhuận khoảng từ
20 đến 50% thông qua việc nâng cao hiệu quả của các loại dịch vụ được cung cấp. Các
cơ quan quản lý và kiểm soát ngân hàng quốc gia cũng có thể nâng cao hiệu quả với
khủng hoảng tài chính ngân hàng. Việc cải cách hệ thống tài chính và tự do hoá tài
chính có chăng chỉ lật tẩy và làm trầm trọng thêm những yếu kém trong thể chế và các
chính sách tài chính vĩ mô vón dĩ đã tiềm ẩn và do đó làm tăng thêm rủi ro của việc dẫn
dắt đến khủng hoảng tài chính. Những cải cách tài chính theo hướng mở cửa đã diễn ra
ở những nước này thực chất không gây cản trở hoặc làm phương hại đến lợi ích thực thụ
mà chỉ góp phần phơi bày những điểm yếu của hệ thống tài chính nội địa trước những
điều kiện của hệ thống tài chính quốc tế mà thôi.
Các nhà nghiên cứu đã xác định nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính
ngân hàng trên thế giới là: sự không ổn định có tính vĩ mô như sự thất thường của hoạt
động thương mại, tính áp đặt trong chính sách tỷ giá và lãi suất, sự bùng nổ của hoạt
động cho vay, sự sụt giá tài sản, sự du nhập vốn một cách ồ ạt sự chuẩn bị chưa kỹ để
tiến hành mở cửa và sự không tuân thủ tính logic và trình tự của những cải cách tài
chính.
Vậy tự do hoá tài chính chỉ làm tăng thêm khả năng gây khủng hoảng tài chính còn
nguyên nhân sâu sa của cuộc khủng hoảng tài chính lại chính là những yếu kém tiềm ẩn
của hệ thống ngân hàng, sự thiếu lành mạnh của hệ thống chính sách quản lý vĩ mô, sự
thiếu vắng của một chế độ giám sát kiểm tra có hiệu quả và sự sai lệch trong đường lối
cải cách.
Hai là, Làm phương hại mục tiêu chiến lược của quốc gia vì tài chính thường coi
là công cụ quản lý chiến lược và lĩnh vực đặc biệt vẫn được nắm giữ bởi Nhà nước để
tập trung thực hiện những mục đích quan trọng của một quốc gia. Việc mở cửa thị
trường tài chính có thể có nguy cơ làm xao nhãng hoặc thiếu tập trung trong việc điều
hành để thực hiện những mục tiêu đó vì các tổ chức doanh nghiệp nước ngoài sẽ không
quan tâm đến một mục đích nào khác hơn là mục đích lợi nhuận. Đặc biệt trong điều
kiện hệ thống tài chính nội địa có khả năng cạnh tranh kém, nền tài chính có nguy cơ bị
thống trị bởi các tổ chức doanh nghiệp tài chính nước ngoài thì quyền lực kiểm soát
khống chế và điều chỉnh thị trường tài chính của Nhà nước sẽ dần bị thu hẹp lại. Hơn
nữa việc mở cửa thị trường tài chính nếu không được chuẩn bị kỹ lưỡng có thể sẽ dẫn
8
đến nhiều hiện tượng tiêu cực, thiếu lành mạnh như: lừa đảo, phá sản, đổ vỡ,... gây thiệt