Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm ở Công ty
TNHH Thiết bị bán dẫn và đo lường điều biến độ
rộng xung Phát Minh- chi nhánh Hà Nội
tần(inverter), bộ điều khiển AC servo và TDK-LAMBDA chuyên về bộ nguồn
switching power supply, bộ lọc nhiễu(Noise Filter)… Được thành lập muộn hơn
so hai chi nhánh là chi nhánh TP Hồ Chí Minh và chi nhánh Đồng Nai nhưng đây
là một đơn vị hạch toán độc lập.Trong 2 năm hoạt động tại thị trường Miền Bắc
doanh số của chi nhánh liên tục tăng và đạt chỉ tiêu kế hoạch: Trong năm 2006
doanh thu của chi nhánh là 120 nghìn USD, năm 2007 là 500 nghìn USD đạt
80% chỉ tiêu đề ra. Doanh thu của chi nhánh chiếm 20% doanh thu toàn công ty.
Hiện nay, thị phần mà chi nhánh có được tại Miền Bắc là 3%, đây là một con số
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
3
rất khả quan mà doanh nghiệp có được. Trong chiến lược của mình công ty đã
xác định mục tiêu thị phần, thương hiệu, chất lượng dịch vụ tốt là cầu nối giữa
doanh nghiệp với khách hàng , vấn đề thoả mãn nhu cầu của khách hàng được
đặt nên hàng đầu. Đó là cách để giúp doanh nghiệp tiến đến gần khách hàng hơn
nữa.
Hiện nay, bên cạnh những thuận lợi mà chi nhánh có được thì chi nhánh
cũng gặp phải những khó khăn, vướng mắc nhất định: Mới xuất hiện tại thị
trường Miền Bắc nên vấn đề tìm kiếm khách hàng, đặc biệt là những khách hàng
thân thiện là không dễ dàng bởi tạo dựng được lòng tin ở họ là rất khó; hiện nay,
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thiết bị bán dẫn và đo lường
tại khu vực phía Bắc là gần 40 công ty và đang có chiều hướng tiếp tục gia tăng
trong thời gian tới; ngoài ra với diễn biến khá phức tạp của nền kinh tế Việt Nam
trong thời gian gần đây khiến cho các nhà đầu tư trở nên dè dặt hơn khi quyết
định rót vốn vào Việt Nam, nhiều dự án phải kéo dài thêm thời gian cũng là một
bất lợi cho chi nhánh khi không thể đẩy nhanh tiến độ tiêu thụ sản phẩm của
mình trong hiện tại và trong tương lai.
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm là mục tiêu hàng đầu của chi nhánh
nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Qua thời gian thực tập tại công ty em thấy vấn đề tiêu
thụ sản phẩm là mối quan tâm lớn nhất của công ty, cùng với nguồn tài liệu thu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
5
CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở CÔNG TY TNHH THIẾT BỊ BÁN DẪN
VÀ ĐO LƯỜNG ĐIỀU BIẾN ĐỘ RỘNG XUNG PHÁT MINH – CHI
NHÁNH HÀ NỘI
1.1. CÁC VẤN ĐỀ VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM:
1.1.1.Khái niệm:
1.1.1.1.Thị trường:
Theo quan niệm Marketing thị trường là nơi diễn ra các cuộc trao đổi
giữa người mua và người bán. Người mua là người có mong muốn, có khả năng
mua và sẵn sàng mua một sản phẩm nào đó. Người bán là người có khả năng
cung ứng và sẵn sàng cung ứng một sản phẩm nào đó.Như vậy, quy mô của thị
trường là phụ thuộc vào cầu của người tiêu dùng. Khi cầu của người tiêu dùng
về một sản phẩm nào đó là cao ( cầu về lương thực thực phẩm, cầu về đồ dùng cá
nhân…) thì quy mô của thị trường sẽ được mở rộng. Và ngược lại, quy mô thị
trường sẽ bị thu hẹp khi những nhu cầu đó giảm đi đáng kể.
1.1.1.2. Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm:
vào hàng hoá đó đã giảm đi đáng kể, cùng với đó là sự phá bỏ dần của các hạn
ngạch nhập khẩu. Doanh nghiệp nước ngoài cũng thuận lợi hơn khi đầu tư vào
thị trường Việt Nam bởi chính sách mở cửa đầu tư ngày càng hoàn thiện và thông
thoáng hơn( khuyến khích đầu tư ). Chính điều đó đã gây ra khó khăn cho các
doanh nghiệp Việt Nam .
Thị trường luôn luôn diễn biến đầy phức tạp, khó dự đoán nên khi
quyết định đầu tư vào đâu các doanh nghiệp phải tìm hiểu thật kỹ yếu tố kinh tế,
xã hội, nhu cầu của chính cư dân sống trong vùng đó.
1.1.3. Phân loại thị trường:
1.1.3.1. Phân theo địa lý:
Tùy theo quy mô và tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọn
vùng địa lý cho mình. Một doanh nghiệp có thể hoạt động trong một vùng địa lý
nhỏ hẹp nào đó( tỉnh, thành phố), một khu vực rộng lớn hơn( Miền Bắc, Miền
Trung, Miền Nam), một quốc gia( Việt Nam, Lào, Trung Quốc…) hay mở rộng
mạng lưới sang nhiều quốc gia khác tùy theo quy mô, tuỳ theo tính chất sản
phẩm mà mình có. Khi quyết định chọn đâu là thị trường mục tiêu, doanh nghiệp
cần phải hiểu thật rõ yếu tố chính trị- xã hội của khu vực đó( môi trường chính
trị, Pháp luật có thuận lợi doanh nghiệp mới tránh được mức độ rủi ro lớn trong
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
7
kinh doanh ); doanh nghiệp cần phải hiểu thu nhập, nhu cầu, tâm lý… của khách
hàng tại chính thị trường đó. Một yếu tố cũng vô cùng quan trọng để doanh
nghiệp quyết định nên đầu tư vào đâu đó là địa hình. Ở những vùng có mạng lưới
giao thông phát triển sẽ tập trung rất nhiều doanh nghiệp hoạt động ở đó, đặc biệt
là các doanh nghiệp lớn. Ngược lại, những vùng mà khó khăn cho công tác vận
chuyển sẽ có ít các khu công nghiệp hơn, các doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc
nhiều bởi chi phí vận chuyển là khá lớn. Ví dụ: những hãng sản xuất ôtô như
Toyota, Ford…thì khách hàng mà họ hướng tới đó là những người có thu nhập
cao nên các đại lý của họ thường đặt tại các thành phố lớn như Hà Nội, Tp Hồ
của sản phẩm, mẫu mã, chủng loại hơn là giá cả mà nhà sản xuất đưa ra chào
bán. Đối thị hiếu không chọn lọc mang tính chất đua đòi, a dua là chính. Thị hiếu
này dễ khai thác thông qua quảng cáo rộng khắp.Đối với ngành thời trang, chu kỳ
sống của sản phẩm thường ngắn bởi sự thay đổi liên tục của thị hiếu.
1.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ SẢN
PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1.Môi trường vĩ mô:
- Khái niệm:
Như chúng ta đã biết môi trường vĩ mô là những nhân tố nằm ngoài
ngành nhưng lại có sức ảnh hưởng lớn đến mức cầu của ngành đó và qua đó tác
động đến lợi nhuận của công ty trong suốt quá trình hoạt động. Những nhân tố
này biến động không ngừng tạo ra những cơ hội và thách thức với doanh nghiệp.
Thấy được tầm quan trọng của các nhân tố vĩ mô, các doanh nghiệp cần có công
tác dự báo thật chính xác sự biến động của môi trường vĩ mô để có một chiến
lược hợp lý cho chính mình.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
9
Các DN
nội bộ
Sản phẩm
thay thế
Nhà cung
cấp
Đối thủ
tiềm ẩn
Khách
hàng
Kinh tế
Nguồn:Giáo trình CLKD
1.2.1.1.Môi trường kinh tế chính trị:
1.2.1.1.1. Yếu tố kinh tế của môi trường vĩ mô:
1.2.1.1.1.1. Thu nhập:
Thu nhập sẽ quyết định rất nhiều đến địa vị kinh tế, địa vị xã hội,đến
phong cách sinh hoạt, trào lưu, thị hiếu và đến lối sống của mỗi cá nhân. Mỗi
người ngoài nhu cầu vật chất thì còn nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất là nhu
cầu cơ bản mà mỗi cá nhân, cá nhân chỉ có thể sống và tồn tại khi được đáp ứng
một mức nào đó của nhu cầu vật chất. Nhu cầu tinh thần sẽ được thể hiện rõ nét
khi mà thu nhập của họ ngày càng cao( nhu cầu được đi du lịch nhiều hơn, được
tiếp cận với dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục có chất lượng…).Khi thu nhập cao,
con người ngày càng có nhu cầu sử dụng những loại hàng hoá xa xỉ phẩm nhiều
hơn. Khách hàng không chỉ chú trọng đến số lượng sản phẩm mà còn chú trọng
đến chất lượng sản phẩm nhiều. Một sản phẩm có 3 cấp độ: Cấp độ ý tưởng( đó
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
10
là những lợi ích cơ bản mà sản phẩm đó mang lại cho khách hàng của mình ), cấp
độ thực hiện ( đó là đặc tính kỹ thuật, là bao gói, chỉ tiêu chất lượng, nhãn
hiệu,mẫu mã…), cấp độ bổ sung( các dịch vụ bảo hành, sửa chữa, lắp đặt…).Để
sản xuất ra những loại hàng hoá vừa bền, vừa đẹp, nhiều công dụng buộc các xí
Tỷ giá hối đoái được hiểu là sự so sánh về giá trị giữa đồng tiền trong
nước với đồng tiền của một quốc gia khác. Hàng hoá trong nước sẽ có sức cạnh
tranh lớn hơn nếu giá trị của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ là thấp hơn. Khi
hàng hoá trong nước trở nên dẻ hơn một cách tương đối với hàng hoá nước ngoài
thì người tiêu dùng sẽ có nhu cầu mua sắm hàng hoá trong nước hơn. Ngược lại,
sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước sẽ sụt giảm khi mà giá trị của đồng nội
tệ so với đồng ngoại tệ là gia tăng đáng kể. Đối với các doanh nghiệp mà chi phí
sản xuất, doanh thu được tính bằng ngoại tệ ( tính bằng đồng USD, đồng JPY…)
thì sự biến động không ngừng giữa USD/ VNĐ, JPY/ VNĐ…làm cho doanh
nghiệp khó có thể xác định một cách chính xác được lợi nhuận mà mình có được
trong năm là bao nhiêu. Trong thời gian qua, sự biến động khó lường của đồng
USD theo chiều hướng xấu đã khiến nhiều doanh nghiệp ngưng mở rộng quy mô
sản xuất, nhiều dự án phải kéo dài thêm thời gian bởi chi phí vật liệu xây dựng
tăng lên một cách đột ngột khiến cho các nhà thầu lo ngại.
1.2.1.1.1.4. Tỷ lệ lạm phát:
Lạm phát có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của một nền kinh tế.
Với những nền kinh tế đang trong thời kỳ của sự phát triển nhanh rất dễ gặp phải
lạm phát. Lạm phát khiến cho giá trị của đồng tiền biến đổi không lường và tỷ lệ
lãi suất liên tục tăng theo thời gian. Chính điều đó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp. Lạm phát cao làm cho việc đầu tư trở
nên may rủi hơn bao giờ hết. Một quốc gia có mức lạm phát cao hơn tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế thì đương nhiên quốc gia đó tăng trưởng là âm.Trong năm
2007, Việt Nam tăng trưởng là 8.5% còn lạm phát là 12.3%. Theo thống kê,
trong quý I của năm 2008 tốc độ tăng của GDP là gần 7.4%, trong khi đó lạm
phát cao. Giá tiêu dùng tháng 12/2007 tăng 2.91% so tháng trước. So với tháng
12/2006 giá năm 2007 tăng 12.63%, giá tiêu dùng bình quân năm 2007 tăng so
năm 2006 là 8.3%. Giá tiêu dùng trong tháng 3 năm 2008 đã tăng 9.19% so với
tháng 12 của năm 2007. Trong năm 2007 nước ta tiếp tục phát triển ổn định theo
chiều hướng tích cực và hội nhập ngày càng sâu rộng và đầy đủ hơn. Toàn cầu
hoá và hội nhập kinh tế quốc tế gắn tự do thương mại sẽ được đẩy nhanh hơn.
hình doanh nghiệp mà các doanh nghiệp này thường thiếu vốn của ngân hàng do
thiếu tài sản thế chấp. Chính phủ có thể tiến hành các hình thức trợ giúp các
doanh nghiệp như xây dựng các quỹ bảo lãnh tín dụng hoặc dựa vào hiệu quả dự
án kinh doanh mà coi như đó là tài sản thế chấp. Mức thuế suất đối với các doanh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
13
nghiệp này cũng được áp dụng một cách hợp lý để các doanh nghiệp có thể phát
triển tốt.
Một chính sách khác như chính sách thuế. Ở Việt Nam hiện nay có 10
sắc thuế: Thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất -
nhập khẩu, thuế thu nhập của doanh nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế
chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, thuế tài nguyên, thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao. Việc đánh thuế cần dựa trên những nguyên tắc nhất định
của nó: tính công bằng và tính hiệu quả.Công bằng được thể hiện ở công bằng
ngang và công bằng dọc. Điều này sẽ tạo ra tính hợp lý và những người chịu thuế
cảm thấy công bằng hơn khi thực hiện nghĩa vụ của mình trước pháp luật. Tính
hiệu quả được thể hiện ở chỗ đánh mức thuế suất khác nhau đối với các loại hàng
hoá khác nhau( mức thuế suất cao đối với các loại hàng hoá có mức cung và cầu
ít co giãn như: rượu, thuốc lá, đất đai…Nhưng cũng cần phải chú ý, đối với sản
phẩm có cầu ít co giãn như lương thực nếu đánh thuế cao sẽ ảnh hưởng đến nhu
cầu và mức sống của số đông dân cư; mức thuế suất thấp hơn với các loại hàng
hoá mà có cung và cầu co giãn lớn )
- Tính kịp thời của chính sách:
Một chính sách được ban hành đúng thời điểm sẽ có tác động rất lớn
đến sự phát triển của KT – XH của một quốc gia. Một ví dụ cho tính kịp thời của
chính sách là vấn đề lạm phát: Một trong những thành công lớn của đất nước
trong thời kỳ đổi mới là đã khống chế và đẩy lùi được mức lạm phát kỷ lục. Năm
1986, mức lạm phát là 714% và kéo dài trong suốt 2 năm tiếp theo( đây là mức
từng thời kỳ nhất định. Chính phủ sẽ điều tiết nền kinh tế thông qua các công cụ
của mình như: Thuế, tín dụng, trợ giá…Chính phủ sẽ tiến hành điều tiết thông
qua việc ban hành các hệ thống chính sách và điều hành chính sách đó.
- Ban hành hệ thống các chính sách:
Chính phủ sẽ ban hành các chính sách để điều tiết hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Các chính sách mà chính phủ ban hành sẽ tạo ra
ảnh hưởng nhất định đối với một doanh nghiệp, có thể là ảnh hưởng tích cực như
chính sách khuyến khích xuất khẩu với mức thuế suất thấp hoặc tiêu cực như
tiến hành đánh thuế môi trường( điều này ảnh hưởng lớn đối với các doanh
nghiệp sản xuất như: nhà máy sản xuất giấy, sợi…mức độ ô nhiễm mà nhà máy
này gây ra là lớn.Nhưng xét cho cùng thì những chính sách đó đều đem lại mục
đích tốt đẹp cho xã hội như việc đánh thuế môi trường buộc các doanh nghiệp
phải tìm cách lượng phế thải của mình hoặc thay đổi công nghệ, dây chuyền sản
xuất của mình.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
15
- Điều hành chính sách:
Khi chính sách được ban hành, chính phủ sẽ tiến hành điều hành
chính sách đó. Việc điều hành chính sách nhằm giúp doanh nghiệp kiểm soát
được mức độ thực hiện của các doanh nghiệp, mặt khác nó giúp cho chính phủ
thấy được tính hiệu quả mà chính sách đó mang lại( thông thường một chính sách
khi ban hành theo thời gian sẽ bộc lộ nhiều thiếu xót và chính phủ phải tiến hành
sửa đổi, bổ sung ).
1.2.1.2. Môi trường luật pháp:
Môi trường pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường nào
đó buộc phải tuân thủ pháp luật mà quốc gia đó đặt ra( đặc biệt là các doanh
nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư của nước ngoài thì việc tìm
tạo ra sự thay đổi tích cực trong quan niệm xã hội về doanh nghiệp, củng cố lòng
tin cho các nhà đầu tư.
- Đơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp, bãi bỏ hàng trăm giấy phép
kinh doanh và quy định pháp luật không phù hợp về điều kiện kinh doanh và
thiết lập một hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh Nghiệp đã tạo
bước đột phá về cải cách hành chính góp phần nâng cao tính thống nhất, nhất
quán và bình đẳng.
- Tạo sân chơi bình đẳng không phân biệt đối xử đối các loại hình doanh
nghiệp dẫn đến rất nhiều doanh nghiệp chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh
Nghiệp.
- Phát triển đáng kể sức cạnh tranh, một nhân tố không thể thiếu trong nền
KTTT đặt ra yêu cầu thúc đẩy phát triển không chỉ thị trường sản phẩm, dịch vụ
mà còn thị trường khác.
- Quyền tự do kinh doanh được thừa nhận và bảo đảm kết hợp với thay đổi
tích cực của hệ thống pháp luật về kinh doanh tạo điều kiện tích cực để chủ động
hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều hạn chế cần giải quyết:
+ Tác động của Luật Doanh Nghiệp chưa đều giữa các khu vực, còn nhiều
rào cản đối doanh nghiệp sau khi đăng ký kinh doanh nhất là trong huy động vốn
và tiếp cận được với mặt hàng kinh doanh, trong tính thuế và nộp thuế.
+ Sự phối hợp giữa Nhà Nước chưa đều còn một số văn bản chưa ban
hành. Các văn bản về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh
doanh vẫn chưa tập hợp thành hệ thống thẩm quyền, thủ tục và điều điện cấp giấy
phép kinh doanh còn bất cập.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
17
+ Cơ quan đăng ký kinh doanh của cả TW, tỉnh còn yếu chưa hoàn thành
nhiệm vụ, quản lý nhà nước còn lúng túng.
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
18
đó sẽ phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu đó để bù đắp cho phần bị hao hụt. Dưới
ánh sáng của khoa học và công nghệ đã làm cho nền kinh tế chuyển hướng từ
phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu( bởi sự ra đời của những
máy móc, thiết bị mới với công suất cao hơn cho phép tiết kiệm hơn nguồn
nguyên liệu…) Khoa học và công nghệ sẽ giúp các doanh nghiệp gia tăng sức
cạnh tranh của mình. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh
nghiệp nào cũng mong muốn tối đa hoá lợi nhuận. Muốn vậy, các doanh nghiệp
cần phải tối đa hoá doanh thu và tối thiểu hoá chi phí đầu vào. Doanh nghiệp sẽ
bán được nhiều sản phẩm hơn khi mà chất lượng sản phẩm được nâng cao hơn(
nhiều tính năng hơn, bền hơn…), bao bì, mẫu mã được cải thiện và bắt mắt hơn.
Tất cả sẽ thành hiện thực khi có sự tác động mạnh mẽ của khoa học và công
nghệ. Doanh nghiệp sẽ đủ sức và sẵn sàng tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị
trường khi có trong tay những bí quyết công nghệ và vị thế của họ sẽ được nâng
cao( sự gia tăng thị phần so với đối thủ cạnh tranh ).
1.2.2. Môi trường vi mô( môi trường ngành ):
Sơ đồ 2: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp: Nguồn: Giáo trình CLKD
1.2.2.1.Đối thủ cạnh tranh (các công ty trong ngành):
Đây là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hoạt động trong ngành.
Các doanh nghiệp cần hiểu rằng đối thủ cạnh tranh thực tiếp của mình chính là
các doanh nghiệp trong ngành. Tính chất của cuộc cạnh tranh có gay gắt hay
không phụ thuộc nhiều vào cấu trúc của ngành( số lượng, quy mô của các doanh
Cạnh tranh
n
ội
Đối với những doanh nghiệp hoạt động trong ngành này thường có quy mô nhỏ
và họ không có trong tay sức mạnh của thị trường nên buộc các doanh nghiệp
phải chấp nhận mức giá của thị trường.
Cầu về sản phẩm cũng là một yếu tố rất quan trọng quyết định đến tính
chất của cuộc cạnh tranh. Khi cầu sản phẩm đang ở giai đoạn tăng trưởng thì sức
ép cạnh tranh sẽ được giảm đi đáng kể bởi các công ty đạt được doanh thu lớn và
quy mô của ngành được mở rộng. Khi cầu về sản phẩm giảm ( do thị hiếu của
người tiêu dùng thay đổi hay do họ có nhu cầu tìm đến những sản phẩm thay thế
khác cũng thoả mãn mức độ thoả dụng của họ ) sẽ dẫn đến một cuộc chiến gay
gắt hơn giữa các công ty bởi các công ty muốn tăng trưởng buộc họ phải lấy đi
thị phần của các công ty khác. Lúc này, một cuộc chiến về giá rất dễ xảy ra và
các doanh nghiệp thường cố gắng đưa ra những sản phẩm mới thay thế sản phẩm
đó khi nó đang ở giai đoạn suy thoái.
Sự tồn tại của các rào cản rút lui là một yếu tố không thể thiếu khiến
cho cuộc cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn. Rào cản rút lui bao gồm: thứ nhất là
rào cản về mặt cam kết với người lao động( khi quyết định phá sản buộc doanh
nghiệp sẽ phải bồi thường một khoản lớn tiền lương cho người lao động khi mà
hợp đồng của họ với công ty chưa kết thúc ), thứ hai là vấn đề uy tín, vị thế thị
trường, thứ ba là rào cản về mặt thiết bị, máy móc mang tính đặc thù của ngành(
các thiết bị này chuyên dùng để sản xuất ra một sản phẩm nào đó, khi chúng
được đưa vào ngành khác không thể sử dụng được nên công ty không thể bán
chúng. Công ty sẽ chịu một khoản thiệt hại lớn từ máy móc, thiết bị này ). Thứ tư
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
20
là do sức ép từ phía chính phủ và người lao động. Có những doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh thua lỗ nhưng buộc vẫn phải giữ lại. Thứ năm là do ràng buộc
về mặt chiến lược, nhất là những ngành mang tính chất bổ trợ lẫn nhau.
1.2.2.2. Nhà cung cấp:
đó khiến cho các doanh nghiệp trong ngành luôn tìm cách hạn chế một mức tối
đa đối thủ tiềm ẩn của mình. Số lượng đối thủ tiềm ẩn sẽ nhiều khi mà ngành đó
là đang hấp dẫn. Ở Việt Nam, thị trường viễn thông đang phát triển rất sôi nổi.
Xét trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp điện thoại di động ngoài những hãng lớn
như Nokia, Samsung, Motorola…còn nhiều hãng nữa cũng tham gia vào thị
trường. Dự báo trong thời gian tới, các hãng sản xuất điện thoại di động của
Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc… sẽ tham gia vào thị trường Việt Nam nhiều.
Sự tồn tại của các rào cản ra nhập ngành sẽ làm giảm bớt đối thủ tiềm
ẩn. Các rào cản ra nhập ngành gồm có rào cản về mặt kỹ thuật( đó là các trang
bị, phương tiện kinh tế, các bí quyết công nghệ…), rào cản về mặt thương mại,
mặt tài chính, rào cản về nguồn lực quý hiếm( nguồn nguyên liệu quý hiếm ) và
cuối cùng là sự phản kháng của các đối thủ hiện tại. Các doanh nghiệp muốn
tham gia vào thị trường đòi hỏi phải có tiềm lực tài chính để có đủ sức cạnh
tranh. Rào cản về mặt thương mại cũng rất quan trọng bởi các doanh nghiệp
muốn tạo dựng hình ảnh, uy tín của mình buộc sản phẩm của họ phải được kiểm
chứng qua thời gian. Khi khách hàng đã trở nên khá thân thiết với sản phẩm của
doanh nghiệp rất khó để có thể thuyết phục họ dung sản phẩm khác. Đối với thị
trường xe gắn máy ở Việt Nam, người tiêu dùng đã quá quen thuộc với dòng xe
của các hãng lớn như Honda, Yamaha bởi chất lượng, dịch vụ, mẫu mã. Một điều
khá quan trọng khiến doanh nghiệp gần gũi với khách hàng hơn đó là công tác
PR( hãng xe Honda đã làm rất tốt điều này ).
1.2.2.5 Sản phẩm thay thế:
Sản phẩm thay thế được hiểu là những sản phẩm của ngành khác
nhưng lại có khả năng thoả mãn cùng một nhu cầu với sản phẩm hiện tại của
ngành như chè là sản phẩm thay thế của café, bia là sản phẩm thay thế của
rượu…Đối với một doanh nghiệp chuyên sản xuất và cung ứng loại sản phẩm mà
có nhiều sản phẩm thay thế thì họ sẽ phải chịu một áp lực khá lớn. Lợi nhuận, thị
phần của công ty sẽ sụt giảm đáng kể nếu người tiêu dùng thay đổi sở thích của
mình (thay vì uống café họ chuyển sang uống chè và các loại nước giải khát
ngành và từ đối thủ tiềm ẩn. Cocacola, Pesi là hai hãng sản xuất nước nước ngọt
hàng đầu thế giới, uy tín và tên tuổi của họ đã được khẳng định từ rất lâu.
1.2.3.4. Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực:
Nguồn nhân sự là không thể thiếu đối với doanh nghiệp. Ngày nay, các
doanh nghiệp bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nguồn nhân sự( chất
lượng lao động là trình độ, kỹ năng, sức khoẻ, tác phong, tinh thần, thái độ, tính
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
23
kỷ luật trong lao động ). Đối với một doanh nghiệp, công tác quản lý nhân sự là
vô cùng quan trọng . Quản lý nhân sự sẽ giúp cho doanh nghiệp đảm bảo một số
lượng thích hợp những người lao động với trình độ và kỹ năng và được tuyển vào
làm đúng vị trí nhằm phát huy tối đa năng lực mà mình có.
1.3. SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM Ở CÔNG TY TNHH THIẾT BỊ BÁN DẪN VÀ ĐO LƯỜNG ĐIỀU BIẾN
ĐỘ RỘNG XUNG PHÁT MINH - CHI NHÁNH HÀ NỘI
1.3.1.Do ngành nghề kinh doanh và chức năng của công ty:
1.3.1.1. Ngành nghề kinh doanh:
+ Mua bán thiết bị máy móc ngành công nghiệp, đo lường, điện tử, bán dẫn
(không tái chế phế thải, phi mạ điện, gia công cơ khí tại trụ sở).
+ Đại lý mua bán, ký gửi hàng hoá ( doanh nghiệp chỉ kinh doanh khi có
đủ điều kiện theo quy định của pháp luật).
+ Dịch vụ kỹ thuật: thiết kế và lắp đặt các hệ thống tự động, hệ thống hoạt
động đồng bộ nhiều biến tần và các dự án về nguồn điện… theo yêu cầu của
khách hàng; bảo trì, sửa chữa các loại máy móc thiết bị đo lường, biến tần, bộ
nguồn, UPS của tất cả các nhãn hiệu khác trên thế giới( với quy trình sửa chữa
chuyên nghiệp, kỹ thuật viên nhiều kinh nghiệm được đào tạo bởi YASKAWA
ENGINEERING & NEMIC- LAMBDA dưới sự giám sát của các chuyên gia
Nhật Bản tại công ty cùng sự hỗ trợ của các thiết bị đo lường chính xác cao độ,
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
CỦA CÔNG TY TNHH THIẾT BỊ BÁN DẪN VÀ ĐO LƯỜNG ĐIỀU
BIẾN ĐỘ RỘNG XUNG PHÁT MINH - CHI NHÁNH HÀ NỘI
TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY VÀ CHI NHÁNH:
2.1.1. Ngày thành lập:
Công ty TNHH thiết bị bán dẫn và điều biến độ rộng Phát Minh là một
doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thành lập vào 12/2003 với tên giao dịch
quốc tế là:” P.W.M Semiconductor & instruments Co., Ltd.” Khi mới thành lập
trụ sở chính của công ty được đặt tại 197 Nguyễn Thái Bình- Quận 1- Thành Phố
Hồ Chí Minh- Việt Nam. Đến cuối năm 2007 công ty chuyển trụ sở chính về