Một số Giải pháp nhằm thu hút & sử dụng vốn ODA ở Việt nam - Pdf 12

Lời nói đầu
Đến nay, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo đã thu
đợc những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Chúng ta đang khơi dậy và phát
huy mạnh mẽ sức mạnh nội sinh, ra sức cần kiệm để đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đồng thời, chúng ta cũng cố gắng thu hút các
nguồn đầu t, viện trợ nớc ngoài và sử dụng chúng một cách hợp lý, kịp thời,
có hiệu quả.
Cũng giống nh các nớc đang phát triển khác, trong chủ trơng chính
sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nớc ta, nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) là một trong những nguồn vốn nớc ngoài có ý
nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, vốn ODA không thể thay thế đợc vốn trong n-
ớc, mà chỉ là chất xúc tác, tạo điều kiện để khai thác tối đa và có hiệu quả
mọi nguồn vốn phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá và hiệu đại hoá đất
nớc.
Hơn nữa, kinh nghiệm thu hút sử dụng vốn từ bên ngoài của nhiều nớc
trên thế giới cho thấy không phải lúc nào ODA cũng mang lại hiệu quả tốt.
ODA có hai mặt, nếu sử dụng khéo sẽ hỗ trợ thật sự cho công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội. Nếu ngợc lại sẽ dẫn đến hậu quả gánh nặng nợ nần khó trả
cho nhiều thế hệ. Trong một số trờng hợp, viện trợ đã không làm giảm đợc
tình trạng nghèo khổ, mà trái lại có khi nó còn làm trầm trọng thêm tình
trạng này do tệ quan liêu, tham nhũng, cũng nh việc xử lý và phân bổ không
hợp lý nguồn viện trợ ở các nớc nhận viện trợ. Vấn đề đặt ra là làm sao khai
thác đợc mặt tốt của ODA và đồng thời cũng hạn chế đợc tác động và hậu
quả không tốt của nó.
Đề tài: "Một số giải pháp tăng cờng thu hút và sử dụng vốn ODA ở Việt
Nam giai đoạn 2001 - 2005". Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm hệ
thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn vốn hỗ trợ phát triển
chính thức đồng thời đánh giá khái quát thực trạng quản lý và sử dụng nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức ở Việt Nam trong những năm qua. Trên cơ sở
đó đa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử
dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ở Việt Nam trong những năm

cộng đồng này đối với các nỗ lực cải cách kinh tế và mở cửa của chính phủ
Việt Nam .
b.Tình hình sử dụng vốn ODA .
ODA đợc sử dụng trong hầu hết các ngành kinh tế lớn của quốc gia ,
và tập trung chủ yếu vào các ngành nhằm phát triển hạ tầng kinh tế, kỹ thuật
và xã hội nh năng lợng, giao thông vận tải, y tế, giáo dục, thuỷ lợi, cấp thoát
nớc. Ngoài ra, một phần không nhỏ nguồn vốn ODA (chiếm khoảng 15%
tổng số vốn) đợc sử dụng dới dạng các hỗ trợ kỹ thuật nhằm tăng cờng năng
lực cho các cơ quan khác nhau của Chính phủ, tiến hành các cuộc nghiên cứu
chơng trình, dự án phát triển, nghiên cứu khoa học, khảo sát, điều tra cơ bản,
v.v. Các hỗ trợ kỹ thuật này trên thực tế đã có tác dụng quan trọng góp phần
cho cải cách kinh tế, phát triển thể chế, cải cách hành chính và đào tạo đội
ngũ cán bộ cho giai đoạn chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trờng.
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc việc sử dụng nguồn vốn ODA thời
gian này nói chung không đạt đợc chỉ tiêu, kế hoạch đề ra nên Việt Nam đã
bị rơi vào tình trạng không trả đợc nợ, bị mất t cách thành viên trong ADB,
WB, IMF và không đợc vay nợ khác.
Đặc biệt sau sự kiện Campuchia năm 1979 Mỹ cấm vận Việt Nam và
các t bản khác đóng cửa.
1. 2. Thời kỳ từ 1993 đến nay .
Sự sụp đổ của hàng loạt các nớc Đông âu ảnh hởng mạnh mẽ tới nền
kinh tế của các nớc nhận viện trợ đặc biệt trong đó có Việt Nam.
Trong bối cảnh thế giới nh thế, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
năm 1986 Chính phủ Việt Nam đã thay đổi đờng lối phát triển kinh tế, đặc
biệt là chính sách đối ngoại, Chính phủ đã mở cửa làm bạn với các nớc trên
thế giới.
Công cuộc cải cách và mở cửa do Chính phủ khởi xớng đem lại các
kết quả tích cực: tăng trởng kinh tế cao và ổn định trong một thời gian dài
(cho đến trớc cuộc khủng hoảng tài chính Châu á), thu hút đầu t nớc ngoài
mạnh mẽ, sự phát triển nhanh chóng của các thành phần kinh tế và tăng thu

Cam kết 1,810 1,940 2,260 2,430 2,400 2,200 2,210 2,400 17,540
Thực hiện 0,413 0,725 0,737 0,900 1,00 1,242 1,350 1,650 8.017
Nguồn: Báo cáo tình hình ODA năm 2000 của Vụ Kinh tế Đối ngoại- Bộ Kế
hoạch &Đầu t
-Mức giải ngân ODA bình quân 1 năm trong thời kỳ1996 - 2000 ớc
đạt khoảng 1,1 tỷ USD, nh vậy mới đạt khoảng hơn 70% kế hoạch đề ra cho
thời kỳ 5 năm này(theo kế hoạch 1996 - 2000, cần thực hiện 7 - 8 tỷ USD
vốn ODA).
-Số lợng các nhà tài trợ trong giai đoạn vừa qua đã tăng lên đáng kể.
Theo đánh giá của UNDP, hiện nay đang có trên 45 nhà tài trợ song phơng và
đa phơng chính thức hoạt động tại Việt Nam. Ngoài ra còn có trên 350 các tổ
chức phi chính phủ (NGO).
Sắp xếp theo giá trị ODA cam kết tại Hội nghị Nhóm t vấn năm 1999,
hiện có 11 nhà tài trợ lỡn xếp theo thứ tự là;Nhật bản, WB, Ngân hàng Phát
triển Châu á; các tổ chức LHQ; Pháp; Tây Ban Nha; Cộng hoà Liên bang
Đức; Thuỵ Điển: ôxtrâylia; Đan Mạch; Uỷ ban châu âu.
Trong số các nhà tài trợ nói trên Nhật Bản, WB, Ngân hàng Phát triển
Châu á, đã nổi lên là ba nhà tài trợ hàng đầu và tổng số vốn ODA giải ngân
thời kỳ 1993 - 1998 chiếm hơn 45% tổng tất cả các khoản giải ngân trong
thời kỳ này.
-Hình thức cung cấp ODA trong thời gian qua khá phong phú, trên đại
thể có thể chia thành hai nhóm lớn:
Nhóm 1: Bao gồm các chơng trình với những hoạt động trong một lĩnh
vực cụ thể, ví dụ: Chơng trình dân số và sức khoẻ sinh sản; Chơng trình nớc
sạch và vệ sinh môi trờng nông thôn... Các tổ chức LHQ thờng cung cấp
ODA dới dạng các chơng trình với một chu kỳ nhất định, ví dụ Chơng trình
dân số và sức khẻo sunh sản của UNFPA chu kỳ 1996 2000...
Chơng trình cũng còn đợc cung cấp gắn với khung Chính sách để hỗ
trợ thực hiện các biện pháp cải cách kinh tế. Ví dụ, Chơng trình hỗ trợ phát
triển khu vực t nhân (sáng kiến Miyazawa), Chơng trình công nghiệp và quản

ODA vốn vay. Có nhận xét rằng trong ODA vốn vay nhiều nhà tài trợ áp
dụng các điều kiện có ràng buộc (phải mua thiết bị, vật t, dịch vụ t vấncủa n-
ớc cung cấp ODA vốn vay).
-Cơ cấu sắp xếp ODA về mặt địa lý ngày càng trở nên cân đối hơn,
phù hợp với u tiên và chú trọng của Chính phủ Việt Nam về phát triển nông
nghiệp, nông thôn và xoá đói giảm nghèo. Theo UNDP, tỷ lệ nguồn vốn
ODA giải ngân cho các khu vực ngoài thành phố chính tăng từ29% năm 1995
lên 52% năm 2000.
Tóm lại trong thời kỳ 1993 - 2000 chiến lợc và chính sách phát triển
kinh tế, xã hội của Việt Nam đã giành đợc sự dồng tình và hỗ trợ của cộng
đồng tài trợ quốc tế thông qua việc cung cấp viện trợ phát triển cho Việt
Nam. Việc sử dụng ODA trong thời gian qua phù hợp với những u tiên phát
triểncủa Chính phủ Việt Nam và về cơ bản có hiệu quả và đóng góp tích cực
cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
2.Đánh giá về cơ cấu ODA.
2.1.Đánh giá về cơ cấu ODA theo ngành.
Bảng 3:Cơ cấu ngành trong tổng giá trị các Hiệp định đã ký kết
thời kỳ 1993-2000
Ngành Tỷ lệ (%)
Tổng số
100
Năng lợng điện
24,22
Giao thông vận tải
27,49
Nông, lâm, thuỷ sản, thuỷ lợi
12,74
Y tế, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học
11,87
Cấp, thoát nớc

ODA đã ký kết đợc sử dụng cho ngành điện, trong đó có 5 nhà máy điện lớn
(Phú mỹ 1, Phú Mỹ 2, Hàm Thuận - đa Mi, Sông Hinh, Phả lại 20 có tổng
công suất lắp đặt chiếm hơn 705 tổng công suất điện Việt Nam dự kiến phát
triển trong 5 năm1996 2000, tổng công suất phát điện sẽ tăng thêm 3403
MW, bằng tổng công suất cả nớc từ trớc cho tới năm 1995. Ngoài phát triển
nguồn điện, hệ thống đờng dây tải điện và lới điện phân phối, các trạm biến
thế cũng đợc quan tâm. Một số dự án dã hoàn thành hiện đang có tác dụng
tích cực, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân.
(ii) Khoảng 27,5% (3,4 tỷ USD là giá trị nguồn vốn ODA trong tổng
số vốn ODA ký kết đợc sử dụng cho nhiều công trình giao thông chủ chốt
của nền kinh tế Việt Nam nh Quốc lộ 1, Quốc lộ 5, Quốc lộ 18, xây dựng cầu
mỹ thuận, cải tạo cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn, nhiều cầu trên Quốc lộ 1A
và đờng sắt Thống Nhất, phát triển giao thông nông thôn Cứa tạo nâng cấp
khoảng 3100 Km đờng tỉnh lộ và khoảng 14000 Km đờng nông thôn, làm
mời đợc 70 câù lớn với tổng chiều dài là 15634 m. Nhiều công trình, dự án
đã hoàn thành đang phát huy tác dụng tích cực, phục vụ nhu cầu thiết thực
của ngời dân (cơ hội tăng thu nhập cho ngời dân, đẩy nhanh quá trình tiêu
thụ sản phẩm và tiếp cân nhanh với các dịch vụ xã hội cơ bản).
(iii) Phát triển nông nghiệp, nông thôn và miền núi (bao gồm cả thuỷ
sản): tổng giá trị nguồn vốn ODA đạt 1,6 tỷ USD, chiếm 12,74%tổng giá trị
nguồn vốn ODA ký kết. Nguồn vốn ODA đợc thực hiện thông qua một loạt
các dự án phát triển cà phê, chè; trồng rừng; xây dựng các cảng cá; phát triển
chăn nuôi; thực hiện chơng trình xoá đói giảm nghèo và phát triển cơ sở hạ
tầng ở nhiều tỉnh nghèo. Một số hệ thống thuỷ lợi lớn ở miền Bắc, miền
Trung và miền Nam đang đuợc khôi phục và phát triển Nhìn chung các ch -
ơng trình, dự án, đặc biệt là các dự án xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát
triển cơ sở hạ tầng ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, thời gian qua đã
thực sự đem lại những lợi ích trực tiếp cho những ngời dân nghèo trên khắp
cả nớc, cải thiện đáng kể đời sống văn hoá và tinh thần của đồn bào.
(iv) Nguồn vốn ODA đã hỗ trợ đáng kể, chiếm 11,87% (tơng đơng 1,4

chóng tăng lên tới 56% (741 triệu USD) vào năm 1999 và đạt trên 60% năm
2000. Điều đó phù hợp với những dự kiến to lớn của Chính phủ đề ra trong
Chiến lợc Phát triển Kinh tế -Xã hội 10 năm (2001-2010) cũng nh chiến lợc
của các ngành trong thập kỷ tới .Mặc dù đã tăng cờng đáng kể các dịch vụ cơ
sở hạ tầng trong những năm 1990, song mức tiêu thụ năng lợng, cơ sở hạ tầng
về thông tin liên lạc và các dịch vụ thông tin của Việt Nam vẫn dới mức
trung bình của các nớc có thu nhập thấp.
Với 3,4 tỷ USD (27,5% nguồn vốn ODA), ngành giao thông vận tải lại
đợc xếp thứ hai về mức đầu t kinh phí ODA trong năm 2000. Không dới 85%
các chơng trình do một số ít nhà tài trợ cung cấp, cụ thể là JIBIC (95 triệu
USD), ADB (61 triệu USD) và WB (50 triệu USD). Cả ba nhà tài trợ này đều
giải ngân nhiều hơn so với năm 1998. Đại bộ phận các khoản đầu t này vẫn
đợc tập trung cho các công trình xây dựng đờng quốc lộ số 1, 5 và 18 cũng
nh các chơng trình khôi phục cầu, nh trên quốc lộ 1A và đờng sắt Thống
nhất. Tuy nhiên, hệ thống đờng nông thôn sử dụng trong mọi điều kiện thời
tiết hiện còn trong tình trạng kém phát triển và vẫn cha đợc các nhà tài trợ
quan tâm nhiều.
Ngành năng lợng chiếm hơn một nửa nguồn vốn đầu t cho các công
trình cơ sở hạ tầng lớn. Lợng ODA giải ngân cho lĩnh vực này trong năm
2000 là 3tỷ, chiếm 24% tổng nguồn vốn ODA. Các dự án ODA chủ yếu tập
trung cho việc xây dựng các nhà máy. Những công trình đầu t này thờng đi
kèm với các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật nhằm cải thiện và tăng cờng năng lực
các hệ thống cung cấp điện. Phần lớn các nguồn vốn ODA này thuộc về các
dự án của Nhật Bản.
Bên cạnh các ngành giao thông, năng lợng, ngành thuỷ lợi cũng là một
ngành đợc đầu t kinh phí ODA cao trong năm 2000 (12,74%).
Lĩnh vực nớc sạch và vệ sinh môi trờng vẫn thờng đợc cung cấp 1/8
tổng nguồn vốn ODA vào giữa những năm 1990, song tỷ trọng ODA cho lĩnh
vực này đã giảm xuống còn 5% vào cuối thập kỷ. Tuy nhiên, mức giải ngân
tuyệt đối từ năm 1998 trở về trớc khá ổn định (khoảng 50 triệu USD) nhng đã

ODA lớn thứ ba, chỉ ít hơn một chút so với lĩnh vực phát triển nông thôn.
Năm 1999, lĩnh vực phát tiển con ngời lại đợc xếp ở vị trí thứ hai với mức
đầu t là 207 triệu USD (16% tổng nguồn vốn ODA hàng năm). Trong năm
2000 lĩnh vực phát triển con ngời có mức giải ngân 1,4 tỷ USD (11,87%). Lý
do chính là mức chi tiêu rất lớn cho việc cải tạo bệnh viện Bạch Mai, trong
đó JICA viện trợ không hoàn lại 33 triệu USD. Hầu hết nguồn vốn tài trợ
trong lĩnh vực phát triển con ngời đợc phân bổ cho y tế (107 triệu USD) và
Giáo dục - Đào tạo(85 triệu USD). Số kinh phí còn lại (khoảng 15 triệuUSD)
đợc chi cho một loạt các phân ngành phát triển xã hội, nh luật pháp xã hội và
quản lý hành chính, nhà ở, văn hoá, phòng chống tội phạm và lạm dụng ma
tuý, phát triển các phơng tiện thông tin đại chúng. Trong giai đoạn
1993-2000, mỗi lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo và y tế tiếp nhận khoảng 0,5 tỷ
USD tiền viện trợ, trong đó hầu hết đợc cung cấp dới dạng viện trợ không
hoàn lại phục vụ cho mục đích hợp tác kỹ thuật độc lập .
Trong một vài năm gần đây chiều hớng giải ngân trong lĩnh vực y tế
đã dần dần chuyển từ tiêm chủng và các chơng trình phòng chống bệnh khác
- với mức tài trợ 11 triệu USD trong năm 2000- sang xây dựng chính sách và
lập kế hoạch cho các ngành với mức tài trợ giờ đây lên tới gần 18 triệu USD.
Có lẽ chiều hớng này cũng phản ánh thành công của các chơng trình quốc gia
về chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nh chiến dịch tiêm chủng .Mặc dù có mức
thu nhập bình quân đầu ngời thấp, song các chỉ số về sức khoẻ của Việt Nam
có thể so sánh với các nớc có thu nhập trung bình .Song không thể phủ nhận
tình trạng bất bình đẳng khá lớn ở nông thôn và những vấn đề nghiêm trọng
mà Việt Nam vẫn phải đối mặt (xem ngân hàng thế giới /ADB/UNDP,2000).
Ngoài ra trong năm 1999 - 2000, mức viện trợ cho các hoạt động chăm sóc
sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình cao hơn 2- 3 lần so với 2 năm tr-
ớc đó. Một phần lớn kinh phí hỗ trợ cho lĩnh vực này do ADB, WB và Đức
cung cấp. Đối với ngành y tế nói chung ,các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc,
đặc biệt là WHO, UNFPA và UNICEF, đã cung cấp hơn 14 triệu USD trong
năm 2000, trong đó có một phần kinh phí do một số nhà tài trợ song phơng

nông thôn, trong đó phần lớn do WB, JIBIC và Pháp cung cấp. Về viện trợ
không hoàn lại, các tổ chức thuộc LHQ tài trợ cho một số dự án xoá đói giảm
nghèo trực tiếp ở các vùng nông thôn, nh các tỉnh Hà Giang, Quảng Trị và
Trà Vinh. Những dự án này có mối liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với Ch-
ơng trình quốc gia về Xoá đói Giảm nghèo và Chơng trình Hỗ trợ 1.878 xã
nghèo của Chính phủ. Mục tiêu của Chính phủ là xoá bỏ tình trạng đói kinh
niên vào năm 2005 và giảm tỷ lệ nghèo từ 17% năm 2000 xuống còn 5% vào
năm 2005, dựa trên chuẩn nghèo mới của Bộ Lao động, Thơng binh và Xã
hội. Nếu tính gộp tất cả những dự án này trong lĩnh vực phát triển vùng lãnh
thổ, thì mức giải ngân lên tới 101 triệu USD trong năm 2000.
ODA đợc giải ngân trực tiếp cho ngành nông nghiệp ở mức dới 84
triệu USD. Sáu dự án lớn nhất là những dự án vay vốn về thuỷ lợi và phòng
chống lũ lụt của ADB và WB, dự án mía đờng do Pháp và Tây Ban Nha hỗ
trợ, các dự án viện trợ không hoàn lại của Đan Mạch nhằm tăng cờng sản
xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo, và của Na-uy nhằm tăng cờng công tác
quản lý dịch hại tổng hợp trong lĩnh vực bảo vệ thực vật. Ngành Lâm nghiệp
và Thuỷ sản cũng đợc rất nhiều nhà tài trợ song phơng quan tâm.
2.2.4.Hỗ trợ về thể chế và chính sách đứng ở vị trí thứ t, chiếm
6%tổng mức giải ngân ODA trong năm 2000. Hình thức ODA này có ý nghĩa
quan trọng để hỗ trợ Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng theo
định hớng xã hội chủ nghĩa cũng nh hội nhập với nền kinh tế thế giới. Sự hỗ
trợ này chủ yếu nhằm tăng cờng cải cách hành chính và quản lý kinh tế. Với
mức giải ngân 45 triệu USD trong năm 2000, ADB là nhà tài trợ lớn nhất
trong lĩnh vực này. Gần nh toàn bộ kinh phí (43 triệu USD) đợc cung cấp
trong khuôn khổ của chơng trình cho vay vốn thuộc lĩnh vực tài chính của
ADB. Thuỵ Điển và UNDP đứng ở vị trí thứ hai với mức viện trợ không hoàn
lại của mỗi bên là 5 triệu USD. Các dự án giải ngân lớn nhất của Thuỵ Điển
bao gồm chơng trình cải cách kinh tế về chính sách thuế và quản lý thuế,
thiết lập quỹ đào tạo và các dịch vụ t vấn, và hỗ trợ Ban Tổ chức Chính phủ
hiện đại hoá hệ thống quản lý nhân sự đối với công chức. UNDP hỗ trợ một

hầu hết là viện trợ không hoàn lại. Một khoản viện trợ kỹ thuật nhất định đợc
gắn với các chơng trình đầu t, nh khoản tài trợ cho việc xây dựng các báo cáo
nghiên cứu khả thi và các báo cáo khác trong ngành năng lợng, giao thông
vận tải và phát triển công nghiệp. Khoản viện trợ này đợc coi là loại hình hỗ
trợ kỹ thuật gắn với đầu t, và mức đầu t ODA dới hình thức này đã giảm
xuống còn 1% trong tổng nguồn vốn ODA của năm 2000. Tuy nhiên, một
phần trong số này có thể sẽ đợc tính vào tổng kinh phí của các dự án đầu t.
Cuối cùng, mức cứu trợ khẩn cấp và viện trợ lơng thực đã giảm cả về giá trị
tuyệt đối cũng nh giá trị tơng đối và cũng chỉ chiếm 1% trong tổng nguồn
vốn ODA.
3.2.Hỗ trợ giải ngân nhanh.
So với năm 1999 hỗ trợ giải ngân nhanh giảm 1/3, với mức chi khoảng
75 triệu USD. Các dự án giải ngân nhanh thờng cho các cơ quan Trung ơng
của Việt Nam vay vốn để rồi các cơ quan này cho vay lại. Các chơng trình
giải ngân nhanh vì mục đích chung có phạm vi hoạt động rộng cũng giống
nh chơng trình ESAF (hay PRGF mới ) và SAC nhằm xây dựng một môi tr-
ờnh kinh tế vĩ mô thuận lợi, trong khi các chơng trình giải ngân nhanh ở các
ngành tập trung vào lĩnh vực đặc biệt nh tín dụng nông thôn hay khu vực tài
chính. Trong khi vẫn cha có các chơng trình ESAF/PRGF và SAC, thì nguồn
vốn ODA giải ngân nhanh chủ yếu là các khoản vay hỗ trợ cho các ngành.
Khoản giải ngân lớn nhất trong năm 2000 (gần 43 triệu USD) đợc thực hiện
trong khuôn khổ chơng trình thuộc khu vực tài chính của ADB.
Chơng trình này nhằm tăng mức tiết kiệm và nâng cao tính hiệu quả
trong việc phân bổ nguồn lực thông qua khuyến khích cạnh tranh và tăng c-
ờng áp dụng cơ chế thị trờng. Khoản giải ngân lớn thứ hai (25 triệu USD) liên
quan tới khoản cho vay tín dụng của WB phục vụ cho ngời dân ở các vùng
nông thôn nhằm cải thiện điều kiện sống của họ. Tổng mức giải ngân của
loại hình ODA này phần nào thấp hơn so với năm 1998 và năm 1999 do mức
giải ngân của chơng trình tín dụng nông thôn cuả ADB giảm đi và chơng
trình trả nợ của WB nhằm giải quyết khoản nợ thơng mại tồn đọng của khu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status