------ Đề án kinh tế chính trị
Một số biện pháp nhằm tiếp
tục đẩy mạnh cổ phần hóa
trong một bộ phận doanh
nghiệp nhà nước ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
LỜI MỞ ĐẦUSắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp nhà nước là
một trong những yêu cầu bức thiết của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Thực tiễn
hoạt động của Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hàng chục năm qua cho thấy
mặc dù Doanh nghiệp nhà nước được giao phó vai trò chủ đạo song hoạt động của
thiết. Đó cũng chính là lý do mà em chọn đề tài “Một số biện pháp nhằm tiếp tục
đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá trong một bộ phận Doanh nghiệp nhà nước ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu môn học Kinh tế chính trị
với mong muốn sẽ hiểu hơn về tiến trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở
nước ta. Từ đó thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ của bản thân cần phải làm gì để
góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
Là một sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường, với vốn kiến thức còn hạn chế,
chắc chắn bài viết của em còn nhiều sai sót. Vì thế em rất mong được sự chỉ bảo,
hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn An Ninh để đề án của em được hoàn thiện
hơn. Em xin chân thành cảm ơn thầy. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC CỔ PHÂN HOÁ MỘT BỘ PHẬN DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC Ở NƯỚC TA.
1. Tính tất yếu phải cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước ở nước
ta.
của chúng ta có một nguyên nhân quan trọng là nền kinh tế có điểm xuất phát thấp.
- Phát triển kinh tế đòi hỏi xoá bỏ bao cấp đổi với Doanh nghiệp nhà nước.
Hiện nay mối quan hệ giữa Nhà nước và các Doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn
không rõ ràng. Nhà nước không nắm rõ ở mỗi thời điểm tổng số doanh nghiệp của
mình là bao nhiêu, chứ chưa nói đến các chỉ tiêu phức tạp như vốn nằm ở đâu, tăng
giảm như thế nào, hiệu quả sử dụng ra sao? Để duy trì doanh nghiệp kém hiệu quả,
SV: Hoμng ThÞ Trang
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
Nhà nước đã sử dụng hàng loạt các biện pháp bao cấp trực tiếp và gián tiếp như :
xoá nợ, khoanh nợ, tăng vốn, ưu đãi tín dụng, tính chi phí không đầy đủ… và cuối
cùng, không ai biết Doanh nghiệp nhà nước nuôi xã hội hay xã hội phải nuôi Doanh
nghiệp nhà nước. Không nên quên rằng Doanh nghiệp nhà nước là phương tiện chứ
không phải mục đích. Không thể lấy tiền của dân chúng để nuôi một vài doanh
nghiệp thua lỗ triền miên, nhưng đã được các cơ quan chủ quản hà hơi tiếp sức hết
đợt này đến đợt khác, với lý do cố vực dậy, lý do bảo vệ người lao động. Nhưng
tiền bao cấp cho doanh nghiệp chính là thuế mà dân chúng đóng góp, trong đó có
không ít người còn sống trong cảnh đói nghèo. Nhà nước phải là của toàn dân chứ
không phải của riêng các Doanh nghiệp nhà nước, và Nhà nước cần hành động vì
lợi ích của toàn dân chứ không phải chỉ riêng lợi ích của những người trong Doanh
nghiệp nhà nước.
- Cạnh tranh với khu vực tư nhân. Yêu cầu đổi mới còn xuất phát từ việc
cạnh tranh với khu vực tư nhân đang hồi sinh nhanh chóng. Mặt khác, trong quá
trình hội nhập, Doanh nghiệp nhà nước không phải chỉ cạnh tranh với các doanh
nghiệp tư nhân trong nước mà với cả các doanh nghiệp tư nhân rất mạnh của nước
ngoài. Cạnh tranh trong nước và quốc tế không chấp nhận việc Nhà nước giữ độc
quyền cho các doanh nghiệp của mình. Cạnh tranh bình đẳng đòi hỏi không chỉ xoá
bỏ độc quyền mà cả bao cấp.
Tóm lại, áp lực phát triển kinh tế thị trường đặt dấu chấm hỏi lớn đối với các
kinh doanh, nhu cầu vốn điều lệ và chia ra thành cổ phần. Đánh giá lại tài sản của
doanh nghiệp, quyết định mức vốn Nhà nước giữ cần nắm giữ và rao bán rộng rãi
phần còn lại. Qua đó làm thay đổi cơ cấu sở hữu, huy động tiền vốn, xác lập cụ thể
những người tham gia làm chủ, được chia lợi nhuận và chuyển Doanh nghiệp nhà
nước thành Công ty cổ phần, thuộc sở hữu của tập thể cổ đông và chuyển sang hoạt
động theo Luật của doanh nghiệp.
Song để hiểu rõ thực chất của cổ phần hoá, cần thấy rằng trong công ty cổ
phần, trên cơ sở vốn điều lệ được chia ra thành nhiều phần, thì quyền lợi và trách
nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh cũng được phân ra thành những đơn vị
có cơ cấu sở hữu. Sở dĩ cổ phần hoá có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của các
Doanh nghiệp nhà nước là do qua cổ phần hoá, cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp đã
thay đổi, dẫn tới cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm đối với kết
quả sản xuất kinh doanh cũng thay đổi theo, từ đó tạo ra một cơ cấu động lực có chủ
thể rõ ràng và hợp lực mới mạnh mẽ hơn; đồng thời chuyển doanh nghiệp sang vận
hành theo cơ chế quản lý mới, tự chủ, năng động hơn, nhưng có sự giám sát rộng rãi
và chặt chẽ hơn.
SV: Hoμng ThÞ Trang
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
Cho nên, thực chất cổ phần hoá nói chung là giải pháp tài chính và tổ chức,
dực trên chế độ cổ phần nhằm đổi mới cơ chế và cơ cấu phân chia quyền lợi và
trách nhiệm gắn chặt với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cổ phần
hoá theo phương thức hiện hành là giải pháp nhằm làm thay đổi cơ cấu sở hữu, dẫn
tới thay đổi cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm từ chỗ chỉ có Nhà
nước nắm quyền và chịu trách nhiệm chuyển sang chia sẻ kết quả kinh doanh, cả
quyền lợi và trách nhiệm, lợi nhuận và rủi ro cho những người tham gia góp vốn, do
đó tạo ra động lực, trách nhiệm và hiệu quả doanh nghiệp.
Trên cơ sở mục đích của cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước là nhằm chuyển
doanh nghiệp từ một chủ sở hữu sang doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu, cổ phần hoá
nước ít quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp nhà nước nơi
mình đang làm việc. Lý do đơn giản là họ vẫn có lương ngay cả khi Doanh nghiệp
nhà nước đã bên bờ phá sản. Rõ ràng, vấn đề lợi ích, đặc biệt là lợic ích sở hữu
trong Doanh nghiệp nhà nước chính là cội nguồn của những căn bệnh mà chúng gặp
phải.
Cải cách Doanh nghiệp nhà nước có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau
như: bán Doanh nghiệp nhà nước, cho thuê Doanh nghiệp nhà nước, cải cách cơ chế
quản lý Doanh nghiệp nhà nước… Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước chỉ là một
trong những giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp nhà nước.
Tuy nhiên thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thập kỷ vừa qua cho
thấy cổ phần hoá là giải pháp phù hợp với nền kinh tế nước ta trong giai đoạn phát
triển hiện nay.
Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam bắt đầu được thực hiện thí
điểm thí điểm từ năm 1990. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chương trình này là
Quyết định số 143/HĐBT ngày 10-5-1990 của Hội đồng bộ trưởng và sau đó được
thực hiện với quy mô rộng hơn. Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường được Đại
hội Đảng lần thứ VI (1986) khởi xướng đã tạo ra những điều kiện để cải cách triệt
để hơn đối với Doanh nghiệp nhà nước, thông qua việc cổ phần hoá chúng. Sở dĩ cổ
phần hoá được coi là giải pháp triệt để vì nó giải quyết được căn nguyên của những
yếu kém trong tổ chức quản lý và hoạt động của Doanh nghiệp nhà nước – đó là vấn
đề sở hữu. Những giải pháp cải cách Doanh nghiệp nhà nước khác chỉ động chạm
đến cơ chế quản lý theo hướng tăng cường quyền tự chủ của của Doanh nghiệp nhà
nước trong một hoặc một số lĩnh vực cụ thể. Cổ phần hoá doanh nghiệp chấp nhận
sự dung hoà của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong bản thân các thực thể
kinh tế vĩ mô mà trước hết là trong các doanh nghiệp. Cổ phần hoá Doanh nghiệp
SV: Hoμng ThÞ Trang
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
nhà nước là giải pháp làm thay đổi kết cấu sở hữu của chúng, điều mà trước đổi mới
SV: Hoμng ThÞ Trang
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
ấy là gì? Căn cứ vào tình hình thực tế ở Việt Nam, Doanh nghiệp nhà nước được
chọn lựa cổ phần hoá phải có đủ ba điều kiện sau đây:
- Là những doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Không thuộc diện những doanh nghiệp cần thiết giữ 100% vốn đầu tư
Nhà nước.
- Có phương án kinh doanh hiệu quả.
Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp lớn (Tổng công ty Nhà nước) cũng có thể
thực hiện cổ phần hoá theo phương thức phát hành cổ phiếu theo quy định nhằm thu
hút thêm vốn để phát triển sản xuất trong khi vẫn giữ nguyên giá trị tài sản hiện có
của doanh nghiệp. Theo tinh thần nghị quyết 28/CP các doanh nghiệp vừa và nhỏ là
những doanh nghiệp có tổng số vốn từ 300 tỷ đồng trở xuống và có số lao động
dưới 1000 người, không kể số lao động làm hợp đồng theo thời vụ. Các doanh
nghiệp vừa và nhỏ không chỉ dễ xác định giá trị tài sản hơn các doanh nghiệp có
quy mô lớn mà còn phù hợp với sức mua của cán bộ công nhân viên tại nhiệm sở và
trong ngành.
3. Mục tiêu cổ phần hoá một bộ phận Doanh nghiệp nhà nước
Đại hội Đảng lần thứ VIII (1986) đã khẳng định “Triển khai tích cực và vững
chắc việc cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước để huy động vốn, tạo thêm động lực
thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả làm cho tài sản Nhà nước ngày càng tăng
lên chứ không phải tư nhân hoá”
Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính Phủ về việc chuyển
một số Doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần đã nêu rõ: chuyển Doanh
nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần nhằm các mục tiêu:
- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội trong nước và nước ngoài để đầu tư đổi mới công nghệ tạo thêm việc
làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu Doanh
tài sản của doanh nghiệp, người chủ ấy cùng với người đại diện Nhà nước ở doanh
nghiệp quản lý điều hành hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả nhất. Hơn
nữa, việc huy động thêm vốn chỉ là phương tiện thiết yếu để đạt tới mục tiêu nâng
cao hiệu quả kinh tế mà thôi. Nếu không được quản lý sử dụng tốt số vốn được huy
động đó cũng không thể mang lại hiệu quả mong đợi.
Theo những lập luận trên, mục tiêu hàng đầu có là thúc đẩy nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh trên cơ sở đảm bảo vai trò làm chủ thực sự của những người sở
hữu tài sản. Huy động thêm vốn bằng cổ phần và phát hành cổ phần là điều kiện cần
SV: Hoμng ThÞ Trang
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
thiết để tạo thành những người chủ đích thực của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu
vào sử dụng vốn hiện có và huy động vốn thêm.
Cổ phần hoá một bộ phận Doanh nghiệp nhà nước chỉ là một chủ trương lớn
của Đảng va Nhà nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương
khoá VII đã nêu rõ: “Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành
công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới”.
Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 17/3/1995 của Bộ chính trị đã nêu “thực hiện
từng bước vững chắc việc cổ phần hoá một bộ phần doanh nghiệp không cần Nhà
nước đầu tư 100% vốn. Tuỳ tính chất, loại hình doanh nghiệp mà tiến hành bán một
tỉ lệ cổ phần cho công nhân viên chức làm việc tại doanh nghiệp để tạo động lực
bên trong trực tiếp thúc đẩy phát triển và bán cổ phần cho tổ chức hay cá nhân ngoài
quốc doanh để thu hút vốn, mở rộng quy mô kinh doanh”. Như vậy, Nghị quyết của
Đảng chỉ ra mục tiêu, đồng thời cũng nêu khái quát hình thức, mức độ cổ phần hoá
Doanh nghiệp nhà nước.
4. Tiền đề để cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước.
- Điều kiện và môi trường pháp lý về cơ bản đã được xác lập đặt tất cả các
doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường. Việc thực hiện “thương mại hoá”
các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế là tiền đề