Biện pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - Pdf 31

Lời mở đầu
Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp nhà nớc là
một trong những yêu cầu bức thiết của Đảng và Nhà nớc ta hiện nay. Thực tiễn
hoạt động của Doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam hàng chục năm qua cho thấy
mặc dù Doanh nghiệp nhà nớc đợc giao phó vai trò chủ đạo song hoạt động của
chúng có nhiều điểm bất cập. Doanh nghiệp nhà nớc chiếm phần vốn đầu t chủ
yếu từ ngân sách. Đội ngũ cán bộ có đào tạo, cán bộ quản lý có năng lực cũng
tập trung chủ yếu trong các Doanh nghiệp nhà nớc. Các Doanh nghiệp nhà nớc
chiếm lĩnh những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế nh dầu khí, vận tải, bu
chính, điện, khai khoáng và nhiều ngành, lĩnh vực khác nh bảo hiểm, ngân
hàng Tuy nhiên, với nhiều thế mạnh nh vậy song Doanh nghiệp nhà nớc vẫn
cha thực sự phát huy tốt vai trò của nòng cốt của chúng trong việc làm cho kinh
tế Nhà nớc thực sự đóng vai trò chủ đạo. Đa số các Doanh nghiệp nhà nớc làm
ăn thua lỗ, gây thất thoát tài sản của Nhà nớc một cách nghiêm trọng. Những vụ
tham nhũng điển hình đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến Doanh nghiệp
nhà nớc. Chính vì vậy, từ trớc đến nay, vấn đề sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệp
nhà nớc để loại hình doanh nghiệp này trở thành động lực chủ yếu của nền kinh
tế luôn luôn đợc Đảng và Nhà nớc ta chú trọng. Sắp xếp, đổi mới Doanh nghiệp
nhà nớc càng trở nên cấp bách khi đất nớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và
thế giới. Một trong những giải pháp đổi mới Doanh nghiệp nhà nớc đợc thực
hiện có hiệu quả và mang lại nhiều thay đổi triệt để trong cấu trúc tổ chức và
hoạt động của Doanh nghiệp nhà nớc là cổ phần hoá. Cổ phần hoá đợc bắt đầu
triển khai cách đây 15 năm với những bớc đi thử nghiệm và sau đó là sự triển
khai rộng khắp trên cả nớc. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, cổ phần hoá
vẫn cha mang lại những kết quả mong muốn.
Mặc dù hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nớc đợc cổ phần hoá đã
chứng tỏ tác dụng to lớn của nó song thực tế số Doanh nghiệp nhà nớc đợc cổ
1
phần hoá ít hơn nhiều so với yêu cầu đặt ra. Chính vì vậy, việc nghiên cứu cổ
phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc, tìm đợc những hạn chế của nó, để đa ra các

tình trạng khủng hoảng trầm trọng kéo dài. Từ khi chuyển sang kinh tế thị tr-
ờng, trong điều kiện nền kinh tế tăng trởng nhanh, bất chấp mọi nỗ lực đổi mới,
hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nớc có khá hơn nhng hiệu quả vẫn rất
thấp. Bên cạnh đó việc sử dụng các nguồn lực kém hiệu quả, khả năng cạnh
tranh thấp đòi hỏi các Doanh nghiệp nhà nớc phải có những đổi mới một cách
căn bản. Nếu không chúng sẽ thất bại trong cạnh tranh, trong điều kiện hội
nhập hiện nay.
Yêu cầu đổi mới Doanh nghiệp nhà nớc.
- Phát triển kinh tế và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm.
Doanh nghiệp nhà nớc nắm trong tay phần lớn những nguồn lực của nền kinh tế
nh tài nguyên thiên nhiên, vốn và nhân lực. Tuy nhiên hầu hết các doanh nghiệp
lại sử dụng lãng phí không hiệu quả các nguồn lực khan hiếm. Điều này chỉ ra
trớc tơng lai không sảng sủa của nền kinh tế. Tốc độ tăng trởng cao của nền
kinh tế trong những năm qua không có nghĩa là mọi việc của chúng ta đang tiến
3
triển tốt đẹp. Các tổ chức kinh tế thế giới đã cảnh báo không ít lần là tốc độ tăng
trởng cao của chúng ta có một nguyên nhân quan trọng là nền kinh tế có điểm
xuất phát thấp.
- Phát triển kinh tế đòi hỏi xoá bỏ bao cấp đổi với Doanh nghiệp nhà n-
ớc. Hiện nay mối quan hệ giữa Nhà nớc và các Doanh nghiệp nhà nớc hoàn
toàn không rõ ràng. Nhà nớc không nắm rõ ở mỗi thời điểm tổng số doanh
nghiệp của mình là bao nhiêu, chứ cha nói đến các chỉ tiêu phức tạp nh vốn nằm
ở đâu, tăng giảm nh thế nào, hiệu quả sử dụng ra sao? Để duy trì doanh nghiệp
kém hiệu quả, Nhà nớc đã sử dụng hàng loạt các biện pháp bao cấp trực tiếp và
gián tiếp nh : xoá nợ, khoanh nợ, tăng vốn, u đãi tín dụng, tính chi phí không
đầy đủ và cuối cùng, không ai biết Doanh nghiệp nhà nớc nuôi xã hội hay xã
hội phải nuôi Doanh nghiệp nhà nớc. Không nên quên rằng Doanh nghiệp nhà
nớc là phơng tiện chứ không phải mục đích. Không thể lấy tiền của dân chúng
để nuôi một vài doanh nghiệp thua lỗ triền miên, nhng đã đợc các cơ quan chủ
quản hà hơi tiếp sức hết đợt này đến đợt khác, với lý do cố vực dậy, lý do bảo vệ

chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp cho những ng-
ời khác. Những ngời này trở thành sở hữu doanh nghiệp theo tỷ lệ tài sản mà họ
sở hữu trong doanh nghiệp cổ phần hoá. Xét dới góc độ này thì cổ phần hoá dẫn
tới sự xuất hiện không chỉ của công ty cổ phần trên nền tảng của doanh nghiệp
đợc cổ phần hoá. Bản chất của cổ phần hoá nh đã nêu ở trên không phải cũng đ-
ợc hiểu đúng trong thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật về cổ phần hoá.
Có quan điểm đồng nhất cổ phần hoá với t nhân hoá hay có quan điểm cho rằng
cổ phần hoá chỉ liên quân đến Doanh nghiệp nhà nớc.
Nhìn bề ngoài, cổ phần hoá là quá trình xác định lại mục tiêu phơng hớng
kinh doanh, nhu cầu vốn điều lệ và chia ra thành cổ phần. Đánh giá lại tài sản
của doanh nghiệp, quyết định mức vốn Nhà nớc giữ cần nắm giữ và rao bán
rộng rãi phần còn lại. Qua đó làm thay đổi cơ cấu sở hữu, huy động tiền vốn,
xác lập cụ thể những ngời tham gia làm chủ, đợc chia lợi nhuận và chuyển
Doanh nghiệp nhà nớc thành Công ty cổ phần, thuộc sở hữu của tập thể cổ đông
và chuyển sang hoạt động theo Luật của doanh nghiệp.
5
Song để hiểu rõ thực chất của cổ phần hoá, cần thấy rằng trong công ty cổ
phần, trên cơ sở vốn điều lệ đợc chia ra thành nhiều phần, thì quyền lợi và trách
nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh cũng đợc phân ra thành những đơn
vị có cơ cấu sở hữu. Sở dĩ cổ phần hoá có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của
các Doanh nghiệp nhà nớc là do qua cổ phần hoá, cơ cấu sở hữu của doanh
nghiệp đã thay đổi, dẫn tới cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm
đối với kết quả sản xuất kinh doanh cũng thay đổi theo, từ đó tạo ra một cơ cấu
động lực có chủ thể rõ ràng và hợp lực mới mạnh mẽ hơn; đồng thời chuyển
doanh nghiệp sang vận hành theo cơ chế quản lý mới, tự chủ, năng động hơn,
nhng có sự giám sát rộng rãi và chặt chẽ hơn.
Cho nên, thực chất cổ phần hoá nói chung là giải pháp tài chính và tổ
chức, dực trên chế độ cổ phần nhằm đổi mới cơ chế và cơ cấu phân chia quyền
lợi và trách nhiệm gắn chặt với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cổ phần hoá theo phơng thức hiện hành là giải pháp nhằm làm thay đổi cơ cấu

khá nhiều ý kiến khác nhau về những kết quả hạn chế của các biện pháp cải
cách Doanh nghiệp nhà nớc đã thực hiện trớc đây. Tuy nhiên có thể nhận thấy
dễ dàng đợc thừa nhận khá rộng rãi là Doanh nghiệp nhà nớc thực tế không có
chủ nhân thực sự. Nhà nớc cũng là thực thể trừu tợng. Các cán bộ, công nhân
trong Doanh nghiệp nhà nớc ít quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
Doanh nghiệp nhà nớc nơi mình đang làm việc. Lý do đơn giản là họ vẫn có l-
ơng ngay cả khi Doanh nghiệp nhà nớc đã bên bờ phá sản. Rõ ràng, vấn đề lợi
ích, đặc biệt là lợic ích sở hữu trong Doanh nghiệp nhà nớc chính là cội nguồn
của những căn bệnh mà chúng gặp phải.
Cải cách Doanh nghiệp nhà nớc có thể tiến hành bằng nhiều cách khác
nhau nh: bán Doanh nghiệp nhà nớc, cho thuê Doanh nghiệp nhà nớc, cải cách
cơ chế quản lý Doanh nghiệp nhà nớc Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc chỉ
là một trong những giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp
nhà nớc. Tuy nhiên thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của nớc ta trong thập kỷ
vừa qua cho thấy cổ phần hoá là giải pháp phù hợp với nền kinh tế nớc ta trong
giai đoạn phát triển hiện nay.
7
Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam bắt đầu đợc thực hiện thí
điểm thí điểm từ năm 1990. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chơng trình này là
Quyết định số 143/HĐBT ngày 10-5-1990 của Hội đồng bộ trởng và sau đó đợc
thực hiện với quy mô rộng hơn. Việc chuyển sang nền kinh tế thị trờng đợc Đại
hội Đảng lần thứ VI (1986) khởi xớng đã tạo ra những điều kiện để cải cách
triệt để hơn đối với Doanh nghiệp nhà nớc, thông qua việc cổ phần hoá chúng.
Sở dĩ cổ phần hoá đợc coi là giải pháp triệt để vì nó giải quyết đợc căn nguyên
của những yếu kém trong tổ chức quản lý và hoạt động của Doanh nghiệp nhà
nớc đó là vấn đề sở hữu. Những giải pháp cải cách Doanh nghiệp nhà nớc
khác chỉ động chạm đến cơ chế quản lý theo hớng tăng cờng quyền tự chủ của
của Doanh nghiệp nhà nớc trong một hoặc một số lĩnh vực cụ thể. Cổ phần hoá
doanh nghiệp chấp nhận sự dung hoà của nhiều thành phần kinh tế khác nhau
trong bản thân các thực thể kinh tế vĩ mô mà trớc hết là trong các doanh nghiệp.

Nh vậy, không phải tất cả các Doanh nghiệp nhà nớc cần phải đổi mới
bằng giải pháp cổ phần hoá, mà chỉ có một bộ phận doanh nghiệp. Bộ phận
doanh nghiệp ấy là gì? Căn cứ vào tình hình thực tế ở Việt Nam, Doanh nghiệp
nhà nớc đợc chọn lựa cổ phần hoá phải có đủ ba điều kiện sau đây:
- Là những doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Không thuộc diện những doanh nghiệp cần thiết giữ 100% vốn đầu t
Nhà nớc.
- Có phơng án kinh doanh hiệu quả.
Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp lớn (Tổng công ty Nhà nớc) cũng có
thể thực hiện cổ phần hoá theo phơng thức phát hành cổ phiếu theo quy định
nhằm thu hút thêm vốn để phát triển sản xuất trong khi vẫn giữ nguyên giá trị
tài sản hiện có của doanh nghiệp. Theo tinh thần nghị quyết 28/CP các doanh
nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có tổng số vốn từ 300 tỷ đồng trở
xuống và có số lao động dới 1000 ngời, không kể số lao động làm hợp đồng
theo thời vụ. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ dễ xác định giá trị tài sản
hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn mà còn phù hợp với sức mua của cán bộ
công nhân viên tại nhiệm sở và trong ngành.
9
3. Mục tiêu cổ phần hoá một bộ phận Doanh nghiệp nhà nớc
Đại hội Đảng lần thứ VIII (1986) đã khẳng định Triển khai tích cực và
vững chắc việc cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc để huy động vốn, tạo thêm
động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả làm cho tài sản Nhà nớc
ngày càng tăng lên chứ không phải t nhân hoá
Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính Phủ về việc chuyển
một số Doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần đã nêu rõ: chuyển Doanh
nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần nhằm các mục tiêu:
- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội trong nớc và nớc ngoài để đầu t đổi mới công nghệ tạo thêm việc
làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu Doanh
nghiệp nhà nớc.

thôi. Nếu không đợc quản lý sử dụng tốt số vốn đợc huy động đó cũng không
thể mang lại hiệu quả mong đợi.
Theo những lập luận trên, mục tiêu hàng đầu có là thúc đẩy nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở đảm bảo vai trò làm chủ thực sự của những
ngời sở hữu tài sản. Huy động thêm vốn bằng cổ phần và phát hành cổ phần là
điều kiện cần thiết để tạo thành những ngời chủ đích thực của doanh nghiệp phụ
thuộc chủ yếu vào sử dụng vốn hiện có và huy động vốn thêm.
Cổ phần hoá một bộ phận Doanh nghiệp nhà nớc chỉ là một chủ trơng lớn
của Đảng va Nhà nớc. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung -
ơng khoá VII đã nêu rõ: Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện
thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới.
Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 17/3/1995 của Bộ chính trị đã nêu thực hiện
từng bớc vững chắc việc cổ phần hoá một bộ phần doanh nghiệp không cần Nhà
nớc đầu t 100% vốn. Tuỳ tính chất, loại hình doanh nghiệp mà tiến hành bán
một tỉ lệ cổ phần cho công nhân viên chức làm việc tại doanh nghiệp để tạo
động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy phát triển và bán cổ phần cho tổ chức hay
cá nhân ngoài quốc doanh để thu hút vốn, mở rộng quy mô kinh doanh. Nh
vậy, Nghị quyết của Đảng chỉ ra mục tiêu, đồng thời cũng nêu khái quát hình
thức, mức độ cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc.
11
4. Tiền đề để cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc.
- Điều kiện và môi trờng pháp lý về cơ bản đã đợc xác lập đặt tất cả các
doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trờng. Việc thực hiện thơng mại hoá
các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế là
tiền đề cơ bản và cần thiết để từng bớc thực hiện cổ phần hoá các Doanh nghiệp
nhà nớc.
- Chính Phủ đã nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề cổ phần hoá
các Doanh nghiệp nhà nớc và quyết tâm thực hiện. Điều này thể hiện ở việc ban
hành các văn bản luật và dới luật nhăm thực hiện chơng trình cổ phần hoá
Doanh nghiệp nhà nớc nh luật công ty, quyết định 315 và 330 về sắp xếp lại sản

hiện công việc cổ phần hoá các Doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam.
- Ngoài ra, ngày nay chúng ta còn có những điều kiện thuận lợi để đẩy
mạnh cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc. Đó là những khó khăn gặp phải trong
thời gian đầu thực hiện thí điểm cổ phần hoá đã dần đợc khắc phục, có thể kể
đến nh chúng ta đã có một thị trờng chứng khoán thực sự, tuy cha phát triển sôi
động nh các nớc phát triển và khu vực, nhng đó cũng là môi trờng để thực hiện
cổ phần hoá. Các Doanh nghiệp nhà nớc hiện nay hầu hết đều trang bị máy
móc, công nghệ hiện đại, khả năng cạnh tranh cao do đó có thể tiến hành cổ
phần hoá các doanh nghiệp này. Bên cạnh đó tình hình chính trị quốc gia ổn
định tạo niềm tin thu hút các nhà đầu t nớc ngoài
Với những tiền đề nh thế thì quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc
của chúng ta đã diễn ra nh thế nào? Chúng ta đã làm đợc những gì và còn hạn
chế gì? Để từ đó có biện pháp thích hợp thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình cổ
phần hoá.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status