Thực trạng khả năng cạnh tranh và giải pháp của ngành cà phê việt nam - Pdf 12

Lời Mở đầu
sau 15 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu to lớn và
quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo ra đợc khối lợng nông
sản không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nớc mà còn có giá trị xuất khẩu cao
mang về hàng tỉ đô la. Sản xuất nông nghiệp tăng trởng liên tục với tốc độ
cao và ổn định, hình thành những vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá với
quy mô lớn. Sự phát triển nhanh của ngành nông nghiệp đã nâng cao vị thế
của Việt Nam trên thị trờng quốc tế, góp phần đẩy nhanh tiến độ công
nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nớc. Là một trong những mặt hàng nông sản chủ
lực, cà phê Việt Nam có tốc độ phát triển rất cao, hàng năm thu về hàng trăm
triệu đô la từ việc xuất khẩu, mang lại nguồn thu nhập ổn định, thờng xuyên
cho một nhóm đông dân c ở nông thôn, trung du và miền núi. Tuy nhiên, bên
cạnh những thế mạnh của mình, ngành cà phê vẫn tồn tại những hạn chế ảnh
hởng đến khả năng cạnh tranh. Do đó, làm sao phát huy hết nội lực, hết lợi
thế để cà phê Việt Nam có thể đứng vững và phát triển trên thị trờng thế giới
vẫn là một câu hỏi bất cập cần có lời giải đáp.
đề tài Giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành cà
phê Việt Nam mà em chọn là một đóng góp nhỏ ý kiến của bản thân mong
góp phần giải quyết câu hỏi đó.
Tuy đây là lần đầu tiên tiếp cận với cách thức viết đề án môn chuyên
ngành, nhng dới sự hớng dẫn tận tình của cac th y, em đã hoàn thành đề án
này. Em xin chân thành cảm ơn thầy!
I. thực chất và các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh
tranh.
I.1 khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong
những đặc trng cơ bản của kinh tế thị trờng, là năng lực phát triển của kinh tế
thị trờng. Cạnh tranh có thể đợc hiểu là sự ganh đua nhau giữa các nhà doanh
nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng
1
cao vị thế của mình trên thị trờng, để đạt đợc một mục tiêu kinh doanh cụ

mục tiêu lợi nhuận, vị thế và an toàn. Cạnh tranh giữa các ngành tạo ra xu h-
2
ớng di chuyển của vốn đầu t sang các ngành kinh doanh thu đợc lợi nhuận
cao hơn và tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
3.3. Cạnh tranh sản phẩm.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trờng của các doanh
nghiệp, vấn đề sản phẩm bán tới tay khách hàng đợc coi trọng hàng đầu. Bởi
sản phẩm là đại diện cho thơng hiệu của doanh nghiệp, cho sự lớn mạnh
hoặc yếu kém trong lĩnh vực cung cấp mặt hàng cùng công cụ sử dụng. Cạnh
tranh về sản phẩm thờng đợc thể hiện qua các mặt:
Cạnh tranh về trình độ sản phẩm: tuỳ theo những sản phẩm khác nhau để
chúng ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau có tính chất quyết định
trình độ của sản phẩm. Doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnh tranh nếu
nh lựa chọn trình độ sản phẩm phù hợp với yêu cầu của ngời tiêu dùng.
Cạnh tranh về chất lợng: Tùy theo từng sản phẩm với đặc điểm khác nhau để
lựa chọn chỉ tiêu phản ánh chất lợng khác nhau. Nếu tạo ra nhiều lợi thế cho
chỉ tiêu này thì sản phẩm càng có nhiều cơ hội giành thắng lợi cạnh tranh
trên thị trờng.
Cạnh tranh về bao bì: Cùng với việc thiết kế bao bì cho phù hợp, doanh
nghiệp còn phải lựa chọn cơ cấu sản phẩm phù hợp, lựa chọn cơ cấu hàng
hóa và cơ cấu chủng loại hợp lý.
Cạnh tranh về nhãn mác, uy tín sản phẩm. Doanh nghiệp sử dụng công cụ
này để đánh trực tiếp vào trực giác của ngời tiêu dùng.
Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm. Sử dụng biện
pháp này, doanh nghiệp cần phải có những quyết định sáng suốt để đa ra một
sản phẩm mới hoặc dừng việc cung cấp một sản phẩm đã lỗi thời.
I.4. Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh.
4.1. Các nhân tố chủ quan.
4.1.1 Nhân tố con ngời
Con ngời ở đây phản ánh đến đội ngũ lao động. Đội ngũ lao động tác

về hàng hoá thiết yếu và hàng hoá cao cấp cũng tăng lên.
Lãi cho vay của ngân hàng cũng ảnh hởng đến sức cạnh tranh của doanh
nghiệp. Hiện nay có một phần không nhỏ vốn đầu t của doanh nghiệp trong
ngành là đi vay. Do đó khi lãi suất tăng lên sẽ dẫn tới chi phí sản xuất sản
phẩm của doanh nghiệp tăng và ngợc lại. Nh vậy, doanh nghiệp nào có lợng
vốn chủ sở hữu lớn xét về mặt nào đó sẽ thuận lợi hơn trong cạnh tranh và rõ
ràng năng lực cạnh tranh về tài chính của doanh nghiệp sẽ tốt hơn so với đối
thủ cạnh tranh.
4
Các nhân tố kinh tế ảnh hởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của sản
phẩm của doanh nghiệp trong các ngành. Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải
đánh giá đợc tác động của nó để tìm ra những cơ hội cũng nh thách thức.
4.2.2. Các nhân tố về chính trị pháp luật.
Các nhân tố về chính trị pháp luật là nền tảng quy định các yếu tố
khác của môi trờng kinh tế. Nền kinh tế ảnh hởng đến hệ thống chính trị nh-
ng ngợc lại hệ thống chính trị cũng tác động trở lại các hoạt động kinh tế.
Pháp luật và chính trị ổn định sẽ tạo ra một cơ chế chính sách trong hoạt
động sản xuất kinh doanh trong từng lĩnh vực cụ thể có đợc lợi thế cạnh
tranh trong xu thế toàn cầu hoá của thế giới.
Nói tóm lại, khi xem xét khả năng cạnh tranh của một ngành, của một
doanh nghiệp thậm chí kể cả của đối thủ cạnh tranh, cần phải xem xét đầy đủ
các nhân tố tác động, từ đó tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao khả
năng cạnh tranh của ngành hay của doanh nghiệp đó.
II. Thực trạng về thị trờng cà phê thế giới và ngành cà phê
Việt Nam
II.1. Tổng quan về thị trờng cà phê thế giới.
Nhìn lại sự phát triển thị trờng tiêu thụ cà phê thế giới cho thấy sau
thế chiến II, nhu cầu dùng cà phê ở nhiều quốc gia tăng lên nhanh chóng. Bắt
đầu từ Mỹ ở thập niên 1950-1960 khi những cựu chiến binh mang sở thích
uống cà phê về truyền bá trong quân đội và dân chúng, rồi dần dần phát triển

Với khoảng 1/4 dân số thế giới hiện uống cà phê thờng xuyên, triển
vọng tăng tiêu thụ cà phê trong những năm tới là rất khả quan. Tuy nhiên,
nếu không có hành động tích nào để đẩy mạnh, tốc độ tăng sẽ không có tiến
triển gì khá hơn những năm vừa qua. Và nếu cứ giữ mức tăng cha đầy 5%
mỗi năm hiện nay, có lẽ tới vụ 2005/06 mới hy vọng tổng lợng tiêu thụ đạt
mức 1190 triệu bao.
Brazil là nớc xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới chiếm khoảng 26%
tổng lợng xuất khẩu cà phê toàn cầu, chủ yếu là cà phê Arabica. Côlômbia
đứng thứ hai về xuất khẩu cà phê Arabica toàn cầu, chiếm khoảng 19%, chủ
yếu là loại cà phê Arabica dịu. Đứng thứ ba về xuất khẩu cà phê Arabica là
Guatêmala, chiếm khoảng 5% tổng sản lợng xuất khẩu cà phê toàn cầu.
Mỹ là nớc nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 29%
tổng sản lợng cà phê nhập khẩu. Đứng thứ hai là Đức với tỷ trọng khoảng
18% tổng lợng nhập khẩu. Nhập khẩu cà phê của Nhật Bản tăng nhanh, đa
Nhật Bản trở thành nớc đứng thứ ba thế giới về nhập khẩu cà phê trong
những năm qua với tỷ trọng khoảng 9% tổng lợng cà phê nhập khẩu toàn
cầu.
Do mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân cung-cầu, giá cà phê đã
liên tục giảm trong những năm gần đây, giảm xuống tới mức kỷ lục trong
năm 2002 chỉ bằng 1/3 mức giá bình quân của thập niên 60 ( tính theo giá
6
thực tế ). Theo dự báo của WB( ngân hàng thế giới ), giá cả hai loại cà phê
Rôbusta và Arabica đều tăng lên trong năm 2003 và sẽ tiếp tục tăng trong
năm 2004. Tuy nhiên, giá cà phê khó có thể tăng nhanh do nguồn cung vẫn ở
trong tình trạng d thừa. Về dài hạn, giá cà phê có thể hồi phục nhng chắc
chắn khó có thể trở lại mức giá kỷ lục của những năm 70 hay đầu thập niên
90 của thế kỷ 20.
II.2. Thực trạng ngành cà phê Việt Nam.
2.1. Về sản xuất.
Cây cà phê đầu tiên đợc đa vào Việt Nam từ năm 1870, mãi đến đầu

ngạch xuất khẩu hàng năm. Ngay cả những thị trờng khó tính nh Mỹ, Đức,
Bỉ cũng dần bị cà phê Việt Nam chinh phục.
5 nớc nhập khẩu cà phê đứng đầu niên vụ 2000/01:
STT tên nớc sản lợng trị giá tỷ phần so với
tổng XK (%)
1 Bỉ 138.603 57.974.984 15.85
2 Mỹ 137.501 59.371.585 15.72
3 Đức 134.321 60.054.805 15.36
4 Tây Ban Nha 73.852 31.666.889 8.44
5 ý 62.559 27.796.789 7.15
( số liệu theo trang web : vicofa.com )
2.2. Về công nghệ.
Sau 1975, khi đi vào phát triển sản xuất cà phê, chúng ta mới có một
ít xởng chế biến cũ kỹ, chắp vá. ở phía bắc có một số xởng chế biến ở Đồng
Giao, Phủ Quỳ với thiết bị lắp đặt từ năm 1960-1962 do CHDC Đức chế tạo.
ở phía nam có một số xởng của các doanh điền cũ nh Rossi, Delphante để lại
công suất không lớn. Cùng với việc mở rộng diện tích trồng cà phê, chúng ta
cũng đã bắt tay vào xây dựng các xởng chế biến mới, bắt đầu từ những thiết
bị lẻ, rồi đến các dây chuyền sản xuất sao chép theo mẫu của Hang-xa nh
nhà máy 1/5 Hải Phòng, nhà máy A74 Bộ Công Nghiệp ở Thủ Đức-TpHCM.
Những năm gần đây, nhiều công ty, nông tròng đã xây dựng các xởng chế
biến mới khá hoàn chỉnh với thiết bị nhập từ CHLB Đức, Brazil. Một loạt
hơn chục dây chuyền chế biến cà phê của hãng Pinhalense-Brazil đợc đa vào
Việt Nam. Tiếp đó lại xuất hiện nhiều xởng lắp ráp thiết bị do cơ sở công
nghiệp Việt Nam chế tạo mô phỏng có cải tiến công nghệ của Brazil. Nh thế
so với thời gian trớc đây thì hiện tại vấn đề công nghệ trong sản xuất và chế
biến cà phê đã đợc quan tâm chặt chẽ hơn.
2.3. Về nguyên liệu.
Về nguyên liệu, nhờ có điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi và đất
đai màu mỡ, phì nhiêu nên đã tạo điều kiện cho các giống cà phê phát triển

thấy, trong những năm gần đây, Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một
trong những nớc sản xuất cà phê hàng đầu thế giới, chiếm lĩnh đợc một thị
phần đáng kể, có mặt trên 50 quốc gia, là nguồn thu ngoại tệ quan trọng sau
thủy hải sản và gạo. Có đợc những thành tựu ấy là do ngành cà phê Việt Nam
đã có những lợi thế to lớn, giúp ngành phát triển.
3.1.1. Lợi thế khách quan.
Việt Nam có thế mạnh về trồng cây cà phê do điều kiện đất đai và
khí hậu thuận lợi. Đất đỏ bazan, rất thích hợp với cây cà phê, đợc phân rộng
khắp lãnh thổ, trong đó tập trung nhiều ở hai vùng Tây Nguyên và Đông
9
Nam Bộ với diện tích hàng triệu ha. Khí hậu nhiệt đới gió mùa , lợng ma
phân bố đều các tháng trong năm , nhất là các tháng cà phê sinh trởng. Cây
cà phê cần hai yếu tố cơ bản là đất và nớc thì cả hai yếu tố ấy đều có ở Việt
Nam.
Hơn nữa với nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công lại rẻ và năng
xuất lao động cao đã góp phần giảm chi phí đầu vào, tạo điều kiện hạ giá
thành sản phẩm. Nhờ đó giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của cà phê Việt
Nam trênthị trờng quốc tế. Ngoài ra, do nhu cầu tiêu dùng cà phê trên thế
giới tăng nhanh nên sản phẩm cà phê cũng ngày càng đợc tiêu thụ mạnh.
3.1.2. Lợi thế chủ quan.
Với môi trờng chính trị ổn định đợc cả thế giới công nhận, đã tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp nớc ngoài yên tâm khi làm ăn với Việt Nam.
Đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc đã tạo môi trờng thuận lợi để phát
triển sản xuất và xuất khẩu cà phê. Nh chính sách giao quyền sử dụng ruộng
đất, vờn cây cho ngời lao động đã nâng ý thức làm chủ lên cao, nhờ đó vờn
cây đợc chăm sóc tốt, đầu t thâm canh tăng cao, đất đai đợc sử dụng triệt để.
Ngoài ra ngay từ năm 1994, thủ tớng chính phủ đã chỉ đạo thành lập quỹ hỗ
trợ hay bảo hiểm ngành cà phê. ( Văn bản số 140/TB ngày 1/11/1994 của văn
phòng chính phủ). Các năm sau chính phủ liên tiếp chỉ đạo và yêu cầu Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì và phối hợp với Bộ Tài chính,

chao đảo, ách tắc, việc tiêu thụ của các hộ sản xuất gặp nhiều khó khăn. Giá
bán ra không bù đắp đủ chi phí sản xuất, lợng hàng tồn nhiều gây nên ứ đọng
vốn.
Một dẫn chứng thực tế là niên vụ 1999-2000. Khi thị trờng cà phê thế
giới giảm mạnh đã gây ra những ảnh hởng lớn đến thị trờng cà phê trong n-
ớc. Theo báo cáo của Tổng công ty cà phê Việt Nam, trong 9 tháng đầu năm
2000, toàn Tổng công ty đã xuất khẩu đợc lợng cà phê bằng 255.3% so cùng
kỳ năm 1999, nhng kim ngạch xuất khẩu chỉ bằng 131.6%, chủ yếu do giá
xuất khẩu cà phê (FOB) giảm mạnh và liên tục từ đầu năm 2000, tính ra giá
xuất khẩu bình quân 9 tháng đầu năm 2000 chỉ bằng 51.6% so với mức giá
bình quân cùng kỳ năm 1999 ( 709.8/1376 USD/tấn ). Cụ thể là ( FOB Việt
Nam ): tháng 1/2000 đạt mức 850-900 USD/ tấn; đến tháng 3/2000 xuống
còn 700-750 USD/ tấn; trong khoảng cuối quý 2/2000 giá đứng ở mức 700-
720 USD/ tấn, nhng sang đầu quý 3 giảm xuống còn 600-650 USD/ tấn. Có
thể nói, đây là mức giá thấp nhất trong vòng 8 năm từ năm 1992 cho đến
năm 2000. Tình hình thực tế đó đã gây ra những khó khăn thua thiệt to lớn
cho cả ngời sản xuất và các nhà kinh doanh xuất khẩu cà phê Việt Nam.
Cũng theo số liệu báo cáo của Tổng công ty cà phê Việt Nam, trong 9 tháng
đầu năm 2000, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh xuất khẩu cà phê đã
11
phải chịu lỗ xấp xỉ 84 tỷ đồng; trong khi đó, lợng cà phê tồn kho tính đến
đầu tháng 10/2000 là xấp xỉ 30000 tấn.
Qua nhìn nhận lại niên vụ cà phê 1999-2000 trên đây có thể khẳng
định lại tính bền vững của ngành cà phê cha cao, còn phụ thuộc nhiều vào
thị trờng thế giới
3.2.2. Cơ cấu cây trồng thiếu hợp lý.
Cơ cấu cây trồng không hợp lí, tập trung quá nhiều vào cà phê Robusta là
loại cà phê phải cạnh tranh với những nớc có bề dày kinh nghiệm và thị trờng
xuất khẩu ổn định nh Brazil,Achentina, Indonesia Cha quan tâm đến mở
rộng diện tích cà phê Arabica, loại cà phê có khả năng cạnh tranh mạnh hơn,

biến khô vẫn đợc dùng phổ biến ( khoảng 80% sản lợng ). Phơng pháp này
cho hơng vị cà phê không bằng phơng pháp ớt. Mặt khác lại phụ thuộc nhiều
vào thời tiết, tốn nhiều công phơi đảo, đòi hỏi diện tích kho và sân phơi lớn.
Hiện nay, ở nớc ta chế biến cà phê vẫn chủ yếu ở quy mô gia đình ( 80% sản
lợng cà phê ). vì thế, tính đồng bộ kém, thiết bị chế biến đơn giản, chủ yếu là
các máy xát nhỏ. Hiện tại, cả nớc mới có 50 dây chuyền chế biến công
nghiệp, trong đó có 14 dây chuyền nhập ngoại ( một của Anh và 3 của
Brazil), số còn lại đợc chế tạo trong nớc với tổng công suất 100000 tấn nhân/
năm ( công suất mỗi dây chuyền từ 1-4 tấn/ giờ ). Từ những thực tế trên đây,
mặc dù chất lợng vốn có của cà phê vối ( Robusta ) trồng ở nớc ta đợc đánh
giá cao: chất lợng thử nếm có 35% rất tốt; 50% tốt; 10% ở mức trung bình và
chỉ có 5% là loại trung bình kém. Song trên thực tế, chất lợng cà phê nhân
suất khẩu của Việt Nam lại không thể hiện những chỉ tiêu trên. Mấy năm gần
đây, tỷ lệ cà phê xuất khẩu loại I ở nớc ta chỉ đạt mức dới 20%. Ngoài các
nguyên nhân trên, chất lợng cà phê xuất khẩu của ta bị giảm sút do sự đầu t
cho công nghệ sau thu hoạch cha tơng xứng với tốc độ tăng nhanh của sản l-
ợng. Thêm vào đó, giá thành sản xuất cà phê ở nớc ta so với các nớc là tơng
đối cao( tới hàng triệu đồng/tấn ).Giá thành sản xuất tại các doanh nghiệp
thuộc Tổng công ty Cà phê Việt Nam là khoảng 13-15 triệu đồng/tấn; ở khu
vực t nhân giá thành khoảng dới 10 triệu/tấn. Có thực tế này là do khấu hao
cơ bản và xây dựng hạ tầng chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành. Chi phí về
chế biến có sự dao động lớn ( từ 800-1800đ/kg ) phụ thuộc vào quy mô, loại
hình và mức độ trang bị. Theo ý kiến của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê,
vấn đề đánh giá chất lợng cà phê của nớc ta cũng có nhiều bất cập với các
tiêu chuẩn quốc tế, gây ảnh hởng không nhỏ tới hiệu quả xuất khẩu. Cách
tính lỗi của tiêu chuẩn Việt Nam quy định theo %, trong khi tiêu chuẩn thị
trờng kỳ hạn Luân Đôn tính lỗi theo cách đếm. Tiêu chuẩn Việt Nam quy
định kích cỡ hạt trên sàng số 16 ( 6.3 mm ), trong khi nhiều khách nớc ngoài
lại yêu cầu cà phê loại kích thớc trên sàng là số 18 ( tức 7.15 mm ). Những
13

t. Thật thế, ngời trồng cà phê ở Việt Nam đa phần là các hộ nông dân nghèo
và vốn họ đầu t chủ yếu là vốn vay ngân hàng, phải trả lãi suất. Do đó việc
đầu t cho sản xuất có phần hạn chế, ảnh hởng đến sản lợng và chất lợng cà
phê. Cho dù có nhiều doanh nghiệp lớn tham gia vào kinh doanh cà phê thì
14
khả năng tài chính vẫn cha đủ mạnh để có thể trang bị máy móc thiết bị hiện
đại phục vụ cho sản xuất. Thế nên, vốn đầu t luôn là vấn đề đáng quan tâm,
có ảnh hởng rất lớn. Việc tìm giải pháp hỗ trợ vốn là rất quan trọng cho
ngành cà phê ở các tỉnh nói riêng và toàn quốc nói chung. Tuy nhiên, thực
hiện đợc các giải pháp hỗ trợ vốn không phải là công việc dễ dàng. Đây vẫn
là vấn đề bất cập đòi hỏi cần có giải pháp hợp lý. Trớc tình hình mất giá của
cà phê trong một thời gian dài, hiệp hội các nớc xuất khẩu cà phê ( ACPC )
yêu cầu các nớc thành viên giữ lại 20% lợng cà phê xuất khẩu ở mỗi nớc
nhằm cân bằng cán cân cung cầu, kích cho giá cà phê quốc tế tăng lên. Để
bù lỗ cho ngời sản xuất và kinh doanh cà phê, nớc đứng đầu thế giới về xuất
khẩu cà phê là Brazil bỏ ra 100 triệu USD, Colombia cũng chi tới 60 triệu
USD. Việt Nam cũng có chủ trơng ủng hộ quyết định của ACPC và đang tìm
giải pháp hỗ trợ cho ngời trồng cà phê trong nớc nh khoanh nợ cho ngời
nông dân, lập các dự án cho nông dân vay phân bón với lãi suất u đãi. Tuy
nhiên, những chơng trình hỗ trợ đó ít thu đợc kết quả khả quan. Ngời trồng
cà phê cho biết, các dự án cho nông dân vay phân bón với giá u đãi với điều
kiện phải trả trớc một khoản tiền, ngời nghèo nếu muốn vay cũng khó có tiền
ứng trớc nên đành chịu. Hơn nữa, các chơng trình hỗ trợ này thờng do cán bộ
địa phơng điều hành việc phân phối và thu nợ nên họ cũng có tâm lý ngại
những hộ nghèo vì sợ sau này họ không trả đợc tiền phân bón. Thế nên khó
khăn thì vẫn trồng chất, ngời nông dân nghèo vẫn là ngời chịu thiệt nhất khi
thị trờng cà phê khủng hoảng. Đảm bảo sự công bằng hợp lý trong hỗ trợ,
đầu t vốn cũng là vấn đề cần bàn tới.
Tuy nhiên, giải quyết đợc vấn đề cho vay thì vấn đề trả nợ lại là
chuyện cũng cần phải xem xét. Trờng hợp vay vốn đối với cà phê Đăk Lăk là

khi có tiền vẫn không trả cho ngân hàng mà sử dụng vào việc khác, trong khi
đó ngân hàng không đủ nguồn vốn cần thiết để tiếp tục cho những doanh
nghiệp và hộ sản xuất khác vay. Thứ hai, đến nay các ngân hàng thực hiện
chủ trơng miễn và hoàn lãi cho các hộ nông dân trong việc vay chăm sóc cà
phê niên vụ trớc vẫn cha nhận đợc số tiền cấp bù từ Chính phủ. Thứ ba, hầu
hết các doanh nghiệp kinh doanh cà phê đã vay vốn ngân hàng hiện nay đều
có tình hình tài chính rất xấu, tuy giá cà phê có phần đợc cải thiện, nhng các
doanh nghiệp vẫn tiếp tục thua lỗ, trong khi thời hạn trả nợ đợc khoanh đã
gần kề ( 01/8/2004 ) nên tình hình thu hồi nợ của các ngân hàng chắc chắn
sẽ gặp không ít khó khăn. Thứ t , tình trạng chây ỳ không trả nợ, chỉ trông
vào các chính sách của Nhà nớc trong một số khách hàng cũng ảnh hởng
không nhỏ đến công tác thu hồi nợ của các ngân hàng. Thứ năm, một số
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cà phê của Nhà nớc thuộc diện giải thể,
16
phá sản theo Quyết định 261/QĐ-TTg đang còn d nợ vay tại các ngân hàng
rất lớn, trong khi cân đối giữa các khoản phải trả( chủ yếu là những khoản
vay ngân hàng không có tài sản bảo đảm ) với trị giá tài sản còn lại và các
khoản đợc thu của các doanh nghiệp có sự chênh lệch rất lớn, do đó nguy cơ
rủi ro mất vốn của các ngân hàng thơng mại là khó tránh khỏi nếu không có
các biện pháp thu hồi.
Từ những thực tế trên, có thể thấy vấn đề nguồn vốn đầu t cho ngành
cà phê còn rất nhiều bất cập, đòi hỏi phải có biện pháp giải quyết hợp lí, kịp
thời, sớm giúp ngành khắc phục khó khăn, đẩy mạnh cạnh tranh quốc tế.
3.2.6. Cha trú trọng đến thị trờng nội địa.
Tuy cha có một thống kê chính thức nào về lợng cà phê tiêu thụ
trong nớc, song theo một số nghiên cứu độc lập thì con số này có thể dao
động từ 30 ngàn đến 70 ngàn tấn một năm, một con số cha thể gọi là lớn đối
với một nớc 80 triệu dân. Trong khi tập trung lớn cho thị trờng xuất khẩu,
ngành cà phê Việt Nam đã bỏ ngỏ thị trờng nội địa, một bãi phù sa màu mỡ
cho các nhà đầu t nớc ngoài. Các đại gia thế giới đang tràn vào với những th-

Với những thực tế đã đợc dẫn chứng ở trên, có thể khẳng định lại
rằng vốn đầu t có tầm quan trọng to lớn đến mọi mặt hoạt động của ngành cà
phê Việt Nam và chất lợng sản phẩm. Do đó, tìm và tạo nguồn vốn luôn là
vấn đề đợc đặt lên hàng đầu. Đối với Nhà nớc, bên cạnh các hình thức trực
tiếp, thì cần có sự hỗ trợ gián tiếp cho nông nghiệp. Kinh nghiệm hiện đại
hoá nông nghiệp ở một số nớc nh Đài Loan, Thái Lan cho thấy ngoài những
chơng trình đầu t trực tiếp về giao thông, thuỷ lợi, điện khí hoá, tín dụng
( hiện nay chúng ta đã và đang thực hiện từng bớc những chơng trình này),
thì đầu t gián tiếp cũng tỏ ra có hiệu quả. Đầu t gián tiếp là những chính sách
u đãi về thuế khoá, bán điện, xăng dầu vật t Hiệu quả của chính sách này sẽ
làm hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh.Bên cạnh đó, Nhà nớc
cũng nên giao một phần các nguồn vốn trong đó có vốn xây dựng cơ bản,
vốn định canh, định c, xoá đói giảm nghèo cho các doanh nghiệp kinh doanh
cà phê ( một lực lợng tích cực tham gia vào các chơng trình kinh tế xã hội tại
các vùng sản xuất cà phê ), và tạo điều kiện cho ngành cà phê đợc sử dụng
một phần nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) để xây dựng cơ sở
hạ tầng.
Đối với các doanh nghiệp, cần tăng cờng huy động vốn và vay
ngân hàng, nhanh chóng cổ phần hoá các doanh nghiệp cà phê để huy động
vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân c. Giải pháp này cần u tiên bán cổ phiếu
cho ngời lao động trực tiếp tham gia sản xuất, chế biến cà phê.
18
Về phía ngân hàng cần nghiên cứu cho các doanh nghiệp vay vốn
với lãi suất u đãi để các doanh nghiệp ổn định đợc chân hàng xuất khẩu.
Ngoài ra, ngân hàng cũng quan tâm giải quyết cho nông dân vay để mở rộng
sản xuất. Thành lập hệ thống tín dụng nông thôn để hỗ trợ vốn kịp thời cho
nông dân bằng cách thành lập các ngân hàng thơng mại cổ phần, xây dựng
các chi nhánh ngân hàng nông nghiệp tại các vùng cà phê trọng điểm. Thêm
nữa , nên giảm bớt thủ tục hành chính rờm rà, gây lãng phí thời gian và tiền
bạc trong việc giải quyết vay hay hỗ trợ vốn.

khích thơng mại của các nớc ASEAN ( gồm 15 mặt hàng nông-lâm-thuỷ sản,
trong đó có mặt hàng cà phê ) để từ đó xây dựng tiêu chuẩn chất lợng chung
phù hợp với tiêu chuẩn chất lợng của WTO, tham gia luồng hàng cùng loại
của các nớc ASEAN vào thị trờng thế giới.
Việc bố trí cơ cấu giống hợp lý là hết sức cần thiết nhằm tăng năng
suất, nâng cao chất lợng và phòng chống sâu bệnh. Bên cạnh đó, cần có
chính sách khuyến khích nghiên cứu các giống mới có năng suất và chất l-
ợng cao, đồng thời nâng việc quản lý cây trồng và quy hoạch. Trong thời
gian tới, công tác giống cần phát triển theo các hớng xây dựng cơ cấu giống
phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng, từng bớc tăng diện tích cà phê
chè ở miền Bắc và miền Trung. Cần tạo điều kiện cho các trung tâm giống về
vốn và thiết bị, tạo cơ hội cho cán bộ nghiên cứu tiếp cận với các trung tâm
giống của các nớc trong khu vực và thế giới. Tăng cờng công tác khuyến
nông thông qua Hiệp hội cà phê Việt Nam phối hợp với Tổng công ty cà phê
Việt Nam thực hiện việc đào tạo tập huấn kĩ thuật trồng và chăm sóc cà phê,
có sự phối hợp giúp đỡ của Cục Khuyến nông và Cục Bảo vệ thực vật Bộ NN
và PTNT cũng nh các trung tâm, chi cục của từng địa phơng. Công tác bảo vệ
thực vật là không thể thiếu trong quá trình gieo trồng, chăm bón cây cà phê.
Trớc hết các nhà sản xuất cà phê cần hợp tác với trung tâm bảo vệ thực vật để
triển khai chơng trình phòng trừ sâu bệnh cho câu trồng. Nhà nớc có biện
pháp tích cực để điều hành công tác nhập khẩu phân bón nhanh, đúng chủng
loại, từng bớc khuyến khích ngời dân sử dụng phân bón hữu cơ thay thế phân
bón hoá học, tăng hiệu quả cây trồng, giảm ô nhiễm môi trờng, tiết kiệm chi
phí phân bón trong sản xuất.
Ngoài ra, đội ngũ lao động kỹ thuật lành nghề đóng vai trò quan
trọng trong nâng cao năng suất và chất lợng sản phẩm. Các doanh nghiệp cà
phê phải có kế hoạch tuyển dụng và thờng xuyên bồi dỡng, tạo điều kiện để
đội ngũ này đợc phát triển. Đây là một việc làm quan trọng có tính chiến lợc
cao. Bởi chỉ có đợc một đội ngũ cán bộ lao động cao mới biết sử dụng tốt các
thiết bị máy móc, biết tạo ra sản phẩm chất lợng với năng suất cao, giá thành

Việt Nam phải sớm thành lập doanh nghiệp cơ khí thiết bị chế biến để sản
xuất và cung ứng các máy móc thiết bị chuyên dùng trong công nghiệp cà
phê. Đồng thời cần tập trung đầu t vào xây dựng nhà máy chế biến cà phê
hoà tan tại các vùng sản xuất cà phê lớn, cà phê hoà tan có giá trị xuất khẩu
cao, giá cả ổn định, bảo quản lâu dài.
2.5. Xây dựng hệ thống đồng bộ giữa các khâu.
21
Để cải thiện hệ thống thu mua phân phối cà phê, các doanh nghiệp
cà phê cần tập trung cải tiến cách thức tổ chức thu mua cho phù hợp với từng
vùng, từng loại cà phê, trớc khi thu hoạch nên có những đầu t cho nông dân
một cách hợp lý, khi thu hoạch cần tập trung cao độ về vốn thu mua cà phê
để thanh toán ngay cho nông dân. Bên cạnh đó cũng cần xây dựng một hệ
thống kho tàng phục vụ cho công tác chế biến bảo quản cà phê ngay từ đầu
nhằm giữ cho chất lợng cà phê ngày càng cao, đảm bảo đủ chân hàng phục
vụ tốt cho xuất khẩu.
Ngoài ra, việc hoàn thiện hệ thống tổ chức các doanh nghiệp cà phê
có tác dụng quan trọng đến phát triển ngành. Các doanh nghiệp sẽ thiết lập
hệ thống marketing chuyên nghiên cứu về thị trờng sản phẩm, giá cả và có
kế hoạch quảng cáo khuyến mại cho phù hợp. Còn lại các doanh nghiệp vừa
và nhỏ sẽ đóng vai trò nh các vệ tinh chuyên tổ chức thu mua, chế biến và
cung ứng hàng xuất khẩu. Để đạt đợc điều này các doang nghiệp xuất khẩu
và các doang nghiệp làm nhiệm vụ cung ứng hàng xuất khẩu phải gắn bó với
nhau chặt chẽ, có kế hoạch phân chia lợi nhuận cụ thể. Các doanh nghiệp lớn
có trách nhiệm đầu t, hỗ trợ về vốn, cơ sở hạ tầng, những giải pháp cải tiến
chất lợng, mẫu mã sản phẩm cho ngời sản xuất và các doanh nghiệp làm
nhiệm vụ cung ứng, ngợc lại các doanh nghiệp vừa và nhỏ có trách nhiệm
cung ứng hàng đảm bảo đúng chất lợng, mẫu mã theo yêu cầu xuất khẩu và
đúng thời gian, địa điểm, có nh vậy thì việc sản xuất, chế biến, xuất khẩu cà
phê mới hoạt động có hiệu quả, việc thâm nhập thị trờng thế giới chắc chắn
sẽ có những biến đổi mạng mẽ.

luật lệ mua bán công bằng, công khai. Mua bán trên thị trờng kỳ hạn giúp
nông dân có thể bảo hộ giá, đề phòng trờng hợp giá bị sụt giảm, tạo điều
kiện cho các nhà xuất khẩu cà phê có công cụ hạn chế, phòng chống rủi ro,
tăng cờng cạnh tranh trên thị trờng kỳ hạn Ngoài ra, các cơ quan ngoại
giao ở nớc ngoài phải có nhiệm vụ hỗ trợ phát triển kinh tế trong nớc thông
qua việc cung cấp hiểu biết về đặc điểm thị trờng ( luật pháp, chính sách
kinh tế thơng mại, các hiệp định mà Việt Nam đã ký, tập quán thị trờng, các
đối thủ cạnh tranh, hỗ trợ các vấn đề pháp lý trong tranh chấp thơng mại ).
Tổ chức tốt, chặt chẽ hệ thống thông tin sẽ giúp ngành cà phê Việt Nam vững
vàng hơn trên con đờng hội nhập quốc tế, luôn chủ động và sẵn sàng.
2.7. Quan tâm hơn đến thị trờng nội địa.
Theo Vicofa, một trong những giải pháp cho tình trạng cung cao
hơn cầu hiện nay nằm ở chính thị trờng nội địa. Đây cũng chính là điều mà
những cờng quốc sản xuất cà phê lớn trên thế giới nh Brazil, Pêru đã làm
thành công. Bà Đào thị Mùi, Tổng th ký Vicofa nhìn nhận rằng, kích cầu
trong nớc là một mục tiêu mà Vicofa cần đạt đến. Bởi cũng nh Brazil,
23
Malaysia, doanh nghiệp Việt Nam phải học tập các nớc chính là tiêu thụ nội
địa của họ rất lớn, nhờ đó giảm bớt số lợng cà phê d thừa. Hiện nay, Vicofa
đang khuyến khích các hội viên mở rộng cửa hàng và tuyên truyền cho việc
tiêu thụ cà phê đến những thành phố nhỏ và các tỉnh xa xôi Với hớng đi biết
nhìn xa trông rộng, Vinacafe ( Nhà máy cà phê Biên Hoà ) đã đi vào thị tr-
ờng cà phê tan và từng bớc giành lại thị phần trong nớc. Năm 2000, Vinacafe
đã nâng công suất lên 10 lần so với trớc và giành lại 45% thị phần cà phê nội
địa. Chất lợng và tên tuổi của Vinacafe đợc khẳng định. Bụt chùa nhà đã
thiêng , sản phẩm cà phê hoà tan mang thơng hiệu Vinacafe từ vô danh
tiểu tốt, lọt thỏm trong tên tuổi của các đại gia ngoại nhập, giờ đây đã trở
thành niềm tự hào cho một sản phẩm made in Việt Nam. Trớc các đối thủ
từ bên ngoài, sức cạnh tranh của Vinacafe không chỉ ở chất lợng sản phẩm
mà còn là lợi thế từ tâm lý ngời tiêu dùng-một trong những lợi thế sân nhà.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status