MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY - Pdf 12

Phạm Thị Như Mai, lớp 122_T10
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1
Phạm Thị Như Mai, lớp 122_T10
LỜI MỞ ĐẦU

Trên thế giới, các quốc gia dù chọn mô hình kinh tế tập trung bao cấp hay kinh tế
thị trường, nếu muốn phát triển vững mạnh đều phải quan tâm đến tam giác: tăng
trưởng, thất nghiệp, lạm phát. Đây là ba chỉ số quan trọng nhất trong việc đánh giá sự
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, chúng vừa đối lập nhau vừa liên kết chặt chẽ với
nhau.
Trong những thập niên gần đây, khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, bắt
đầu nền kinh tế thị trường đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt nhằm thu được lợi nhuận
cao và đứng vững trên trường quốc tế.Các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp nhà
nước phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế. Một trong
những vấn nổi cộm hiện nay chính là lạm phát. Lạm phát được coi là con quỷ gớm nhất
trên trái đất, ít nhất là xét trong triển vọng kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia. Lạm phát
một căn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp
đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian, trí tuệ mới có thể đạt được kết quả lạc quan bởi tính
chất hai mặt của nó. Một mặt nó kích thích nền kinh tế phát triển nếu tốc độ tăng
trưởng của nó phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, nếu tốc độ lạm phát
lên cao sẽ gây ra những biến động kinh tế hết sức nghiêm trọng như biến dạng cơ cấu
sản xuất về việc làm, thu nhập bất bình đẳng, tỉ lệ thất nghiệp tăng…Điều đó đòi hỏi
việc chống lạm phát không chỉ là việc của các doanh ngiệp mà còn là việc của chính
phủ. Ngày nay, cùng với sự phát triển đa dạng phong phú của nền kinh tế thì những
nguyên nhân lạm phát càng trở nên phức tạp hơn.
Vì vậy, trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát được rất nhiều người quan tâm,
nghiên cứu và đề xuất các phương án. Có thể nhận thấy, việc nghiên cứu lạm phát, tìm
hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát là hết sức cần thiết và có vai trò to

2.2.2. Tác động đến lĩnh vực sản xuất……………………………………… 12
2.2.3. Tác động đến lĩnh vực lưu thông……………………………………… 12
2.2.4. Tác động đến hoạt động ngân hàng………………………………… …13
2.2.5. Tác động đến chính sách kinh tế tài chính của nhà nước…………… 13
3. Giải pháp mà chính phủ đưa ra và những dự báo lạm phát thời gian tới
3.1. Giải pháp……………………………………………………………… 13
3.2. Dự báo lạm phát của các chuyên gia 14
Kết Luận…………………………………………………………………… 14
Tài liệu tham khảo 15
3
Phạm Thị Như Mai, lớp 122_T10
NỘI DUNG CHÍNH
1. Tổng quan về lạm phát
Trong những năm gần đây lạm phát và thất nghiệp luôn là hai vấn đề gây nhức nhối.
Lạm phát đã trở thành mối lo hàng đầu cho nền kinh tế các nước. Chính phủ các nước
luôn tìm mọi cách để có thể khống chế lạm phát ở mức an toàn. Vậy, lạm phát là gì?
Nó được xác định bằng cách nào? Và những nguyên nhân nào tạo ra nó?
1.1. Lý thuyết về lạm phát
1.1.1.Khái niệm về lạm phát
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo mức giá chung của nền kinh tế. Trong
nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi
so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so
với các loại tiền tệ khác. Tuy nhiên, nói chung lạm phát có thể hiểu là việc giá cả các
hàng hóa tăng lên so với mức giá ở thời điểm trước (vật giá leo thang). Phải hiểu đúng
việc tăng giá ở đây là gia tăng giá chung của hầu hết các hàng hóa và dịch vụ, không
phải của chỉ một số hàng hóa cá biệt. Việc tăng mức giá chung đồng nghĩa với sức mua
của đồng tiền giảm đi. Hay nói cụ thể hơn là với cùng một lượng tiền nhưng người tiêu
thụ mua được ít hàng hóa hơn so với trước đây.
1.1.2. Phân loại lạm phát
- Thiểu phát : Trong kinh tế học, thiểu phát là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp. Hiện tượng

cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bao hiểm cho công nhân, thuế… Khi giá cả
của một hay một vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp
chắc chắn cũng tăng lên, vì thế mức giá thành phẩm tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận,
cho nên mức giá chung hàng hóa tăng lên.
-Lạm phát do cơ cấu: với ngành kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền
công “danh nghĩa” cho người lao động. Vì xu thế chung, buộc các doanh nghiệp trong
các ngành kinh doanh không hiệu quả cũng phải tăng tiền công, điều đó buộc tăng giá
thành phẩm, làm tăng giá chung, dẫn đến lạm phát.
- Lạm phát do cầu thay đổi: Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng
nào đó, trong lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người
cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc, thì mặt hàng mà lượng cầu giảm
vẫn không giảm giá, trong khi lượng cầu tăng làm tăng giá. Kết quả là mức giá chung
tăng lên.
- Lạm phát do xuất khẩu: Khi xuất khẩu tăng dẫn đến tổng cầu cao hơn tổng cung, khi
đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong
nước giảm , khiến cho tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung, tổng
cầu mất cân bằng sẽ dẫn đến lạm phát.
- Lạm phát do nhập khẩu: khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng thì giá sản phẩm đó trong
nước cũng sẽ phải tăng lên, làm tăng mức giá chung, dẫn đến lạm phát.
-Lạm phát do tiền tệ: khi lượng cung tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn như
ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền khỏi mất giá,…cũng dẫn
đến lạm phát.
1.2. Thực trạng lạm phát ở việt nam trong những năm gần đây
1.2.1. Diễn biến lạm phát năm 2009
Thị trường giá cả lạm phát năm 2009 đặc trưng bởi sự kết hợp giữa các yếu tố mang
tính quy luật với các yếu tố bất thường không giống như dự tính ban đầu.
Sau một năm 2008 với lạm phát (CPI) xấp xỉ tới 20%, thì mục tiêu đề ra cho năm
2009 là dưới 15% đã là lý tưởng. Nhưng đến giữa năm chúng ta hoàn toàn có thể yên
5
Phạm Thị Như Mai, lớp 122_T10

năm 2009. Tuy nhiều chuyên gia đã dự báo rằng lạm phát năm 2010 nhều khả năng sẽ
cao hơn năm 2009, nhưng con số này đã vượt quá chỉ tiêu được Quốc hội đưa ra hồi
đầu năm gần 5%. Trong khi đó thì nếu tính bình quân theo tháng, chỉ số lạm phát năm
2010 tăng 9,19% so với năm 2009.
Biểu đồ chỉ số CPI cả nước năm 2010 , nguồn: www.cafef.vn
Từ biểu đồ trên, có thể thấy được, lạm phát tăng cao trong hai tháng đầu năm và 4
tháng cuối năm (đều tăng trên mức 1%). Hai tháng đầu năm CPI tăng cao nhưng nhanh
chóng giảm xuống ở tháng 3, và tiếp tục giảm mạnh đến mức gần 0% trong suốt 5
tháng tiếp theo, tuy nhiên từ tháng 9 đến hết năm CPI luôn trên 1% và các mức tăng
này đều đạt mức kỷ lục của 15 năm trở lại đây.
Tính chung trong cả năm 2010, giáo dục là nhóm tăng giá mạnh nhất trong giỏ hàng
hóa tính CPI, tăng gần 20%; đứng thứ 2 là hàng ăn với mức tăng 16,18%, tiếp sau đó là
nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 15,74%. Duy nhất chỉ có nhóm bưu chính viễn thông là
giảm gần 6% so với 2009.Chỉ số giá vàng tăng 36,72% trong khi chỉ giá USD chỉ tăng
7,63%. Về CPI các vùng miền, đáng ngạc nhiên là chỉ số CPI khu vực nông thôn tháng
12 tăng 2,04%, cao hơn 1,87% của khu vực thành thị.
1.2.3.Diễn biến lạm phát năm 2011
Cùng với đà tăng lạm phát năm 2010, theo Tổng cục thống kê chỉ số lạm phát CPI cả
năm 2011 đã tăng 18,58% so với năm 2010 và so với cùng kì tháng 12/2010, CPI cả
nước tăng 18,13%.
7
Phạm Thị Như Mai, lớp 122_T10
Biểu đồ chỉ số CPI cả nước từ tháng 2/2010 đến tháng 2/2011
Nguồn: www.tinnhanhchungkhoan.vn
Nếu đầu tháng giêng năm 2011, lạm phát Việt Nam khởi điểm 7% so với cùng kỳ
năm ngoái thì sau đó 3 tháng, cuối tháng 4/2011, Tổng cục thông kê chính thức thông
báo lạm phát hay chỉ số CPI nhảy vọt mức gần 18% so với cùng kì năm ngoái. Ta có
thể thấy được 4 tháng đầu năm chỉ số CPI tăng liên tục và lập đỉnh mới mức 3,32% ở
tháng 4, sau đó giảm mạnh xuống 1,09% ở tháng 6,sau đó tăng lại tới 1,17% ở tháng 7,
5 tháng còn lại giảm dần ở mức dưới 1%, thấp nhất là tháng 10 chỉ có 0,36%. Đường

với xu hướng của các năm trước. Nhóm hàng lương thực tăng 3,26% ; thực phẩm tăng
8,14% thấp hơn nhiều số với mức tăng của năm trước. Trong khi đó, nhóm dịch vụ y tế
có chỉ số giá tăng mạnh ở mức 20,37%; chỉ số giá viễn thông vẫn tiếp tục ở mức giảm,
giảm 1,11%
1.2.5. Diễn biến lạm phát bốn tháng đầu năm 2013
Ngay đầu năm, từ tháng 1/ 2013 CPI đạt mức tăng 1,25% so với tháng trước, và tăng
7,07% so với cùng kỳ năm ngoái. Đặc biệt, trong đó nhóm hàng thuốc và dịch vụ y tế
gây sốc khi đạt mức tăng 7,4%, khi nhóm hàng này dường như không thay đổi với mức
9
Phạm Thị Như Mai, lớp 122_T10
tăng 0,14% (12/2012). Ngoài ra, mức tăng của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, may
mặc, mũ nón, giầy dép cùng với giá điện, giá giá dịch vụ khám chữa bệnh, học phí…
tăng lên cũng đã góp phần làm kéo mức CPI tăng lên.Chỉ số CPI tháng 2 chỉ tăng
1,32% so với tháng 1 và tăng 7,02% so cùng kỳ tháng 2/2012. Như vậy, dù là tháng tết,
nhu cầu tiêu dùng tăng 7-10% song lạm phát 2 tháng đầu năm không đáng lo ngại với
mức tăng 2,59% ( chỉ bằng khoảng 1/ 4 con số lạm phát của cả năm 2012). Trong
tháng 2 hầu hết các nhóm hàng hóa đều tăng, tăng đáng kể là nhóm hàng ăn và dịch vụ
tăng cao 2,28% so với tháng 1/2013, tăng 3,65% so với tháng 12/2012. Nhóm nhà ở và
vật liệu xây dựng tăng nhẹ 0,45%. Đáng ngạc nhiên, dù trong tháng cao điểm nhưng
nhóm giao thông chỉ tăng 0,81%so với tháng trước, nhóm thuốc và dịch vụ y tế cũng
chỉ tăng 0,58%, chỉ số giá vàng giảm nhẹ 0,33%, chỉ số giá USD tăng nhẹ 0,03%,
nhóm bưu chính viễn thông vẫn giảm. Theo Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, lạm
phát tháng 3 được kiểm soát ở mức thấp kỷ lục 0,19% so với tháng trước và chỉ tăng
6,64% so với cùng kỳ- mức thấp nhất kể từ năm 2005 (trừ năm 2009). Theo đó, lạm
phát quý I/ 2013 tăng 2,39% so với đầu năm và tăng 6,91% so với cùng kỳ năm ngoái-
là mức thấp nhất trong bốn năm trở lại đây. Sang tháng 4, lạm phát của Việt Nam được
coi là ổn định ở mức 6,61% so với cùng kỳ năm ngoái. Còn nếu tính theo tháng, mức
0,02% được coi là hầu như không tăng, sau khi đã giảm 0,19% hối tháng 3. Trong 11
nhóm hàng háo thuộc giỏ tính giá, chỉ số giá nhóm giao thông vẫn tăng mạnh, chỉ đứng
sau nhóm y tế (tăng 1,2%so với tháng 3); chỉ số nhóm lượng thực, thực phẩm vẫn

- Ngoài ra, những năm gần đây xuất hiện nhiều dịch bệnh lạ rất nguy hiểm, xuất hiện
từ gia súc, gia cầm, kèm theo thiên tai, thời tiết khắc nghiệt, làm cho người nông dân
nản lòng trong việc sản xuất, dẫn tới nguồn cung bị thiếu hụt.
Tuy nhiên, khó thuyết phục rằng đây là nguyên nhân chính của lạm phát, bởi vì các
yếu tố khách quan này nước nào cũng gặp phải, nhưng chỉ có Việt Nam là cao bất
thường.Vì vậy, lạm phát Việt Nam cơ bản là do nguyên nhân chủ quan.
2.1.2. Nguyên nhân chủ quan
- Về mặt tiền tệ, tín dụng: Cung tiền trong những năm gần đây có sức nới lỏng quá
mức là một trong số các nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát cao ở Việt Nam. Nếu
cuối năm 2000, tổng phương tiện thanh toán của Việt Nam chỉ dưới 60% GDP, trong
khi đó cuối năm 2010 đã lên đến trên 130% GDP (tổng dư nợ tín dụng trên 110%
GDP). Hơn hết, tốc độ cung tiền cao hơn tốc độ tăng GDP theo giá thực tế đã tồn tại
trong thời gian dài, cũng đã dẫn đến lạm phát 2010 và 2011 lại bị đẩy lên cao. Trong
năm 2011, lạm phát mục tiêu đề ra nhỏ hơn 7%, thấp hơn nhiều so với mức lạm phát
thực tế bình quân của 3 năm trước là 12,73%. Điều này, làm cho ngân hàng buộc phải
cắt giảm cung tiền, dẫn đến lãi suất cho vay và nợ xấu tăng cao, thanh khoản căng
thẳng…, nhưng lạm phát vẫn cao kỷ lục 18,13%, đây cũng là hệ quả của việc mở rộng
cung tiền quá mức và mức tăng trưởng quá cao trong giai đoạn trước đó. Đến năm
2012, nhờ
thực hiện đồng bộ hàng loạt giải pháp cùng với một số thuận lợi khác từ bên ngoài đã
làm cho lạm phát năm 2012 giảm đáng kể so với năm 2011.
- Chi phí đẩy : Việc ổn định và kiểm soát giá cả hàng hóa không tốt trước tác động
tăng giá từ nước ngoài cũng đã đẩy lạm phát tăng cao, dễ thấy nhất là mức giá vàng
của nước ta luôn cao hơn mức vàng thế giới từ 2 -5 triệu đồng.
- Do chính sách tài khóa: Trước khủng hoảng kinh tế năm 2008, Việt Nam đã thực
hiện chính sách kích cầu, do nguyên nhân cầu kéo, gây thêm áp lực đến mặt bằng giá,
đồng thời cũng làm tăng thâm hụt ngân sách.
- Chi tiêu công quá mức và ngân hàng nhà nước ở Việt Nam không có sự độc lập: chi
tiêu công là các khoản đầu tư của nhà nước vào các doanh nghiệp nhà nước (DNNN)-
những “ông lớn” cồng kềnh trong nền kinh tế Việt Nam ( tựa bài Những “ông lớn”

2.2.3. Tác động đến lĩnh vực lưu thông: Lạm phát thúc đẩy việc đầu cơ tích trữ dẫn
đến sự khan hiếm hàng hóa. Các doanh nghiệp cảm thấy việc đầu tư vào sản xuất rất
khó đoán và rủi ro hơn nhiều so với việc đầu tư vào lưu thông.Vì vậy, có quá nhiều
doanh nghiệp đầu tư vào lưu thông làm cho lĩnh vực này trở nên hỗn loạn. Tiền trong
tay những người vừa mới bán hàng lập tức bị đẩy vào kênh lưu thông, tốc độ lưu thông
tiền tệ tăng vọt, đẩy lạm phát tăng theo.
2.2.4. Tác động đến hoạt động ngân hàng: Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng,
thương mại và ngân hàng bị thu hẹp. Số người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất
nhiều, ảnh hưởng mạnh đến hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng thiếu vốn cho vay,
trong khi lãi suất thấp do lạm phát khiến cho lượng người muốn vay rất nhiều. Do đó
mà chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn chế trông thấy, và hoạt động của hệ thống ngân
hàng cũng không còn ổn định nữa.
12
Phạm Thị Như Mai, lớp 122_T10
2.2.5. Tác động đến chính sách kinh tế tài chính của nhà nước: Khi lạm phát xảy ra
nhà nước khó phân biệt doanh nhiệp nào làm ăn tốt hay yếu kém. Hơn nữa, lạm phát
làm cho nhà nước thiếu vốn, do đó, nhà nước không còn đủ năng lực cung cấp tiền cho
các khoản được dành cho phúc lợi xã hội…dẫn đến các khoản này bị cắt giảm, còn
việc hỗ trợ vốn, đầu tư của một số ngành, lĩnh vực bị thu hẹp hoặc hủy bỏ.Việc thâm
hụt ngân sách do lạm phát làm cho các mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống xã hội
sẽ không có điều kiện để thực hiện.
3. Giải pháp mà chính phủ đưa ra và những dự báo lạm phát thời gian tới
3.1. Giải pháp
Để kiềm chế mức lạm phát tăng quá cao trong những năm sắp tới, chính phủ cũng đã
đưa ra các giải pháp chung như sau:
- Một là, giảm bớt lượng tiền trong lưu thông bằng cách thực hiện chính sách thắt chặt
tiền tệ.
- Hai là, cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân
sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ
thâm hụt ngân sách.

quốc gia trên thế giới. Và lạm phát cũng đã làm đau đầu không ít chuyên gia kinh tế,
các nguyên thủ quốc gia trong việc dự tính lạm phát, cũng như tìm ra các giải phát
hoàn hảo cho việc kiềm chế lạm phát. Chính sách về lạm phát luôn có tầm quan trọng
hàng đầu trong chính sách kinh tế Việt Nam cũng như các nước khác.Việc giữ và phát
huy hiệu quả những thành quả kinh tế trong các năm qua, nhất là trong vấn đề kiềm chế
lạm phát buộc nhà nước cần phải đưa ra những biện pháp lâu dài, chứ không chỉ trong
ngắn hạn, như thế nền kinh tế vĩ mô trong nước mới có thể ổn định được.
Vì thời gian có hạn, và năng lực cũng như hiểu biết của một sinh viên như em chưa
thực sự có khả năng phân tích hết mọi vấn đề về lạm phát ở Việt Nam trong những
năm qua, cho nên bài tiểu luận này chỉ dừng lại ở mức khái quát một số vấn đề về lạm
phát ở Việt Nam. Em mong qua đề tài này sẽ tạo được cái nhìn khái quát về vấn đề lạm
phát ở Việt Nam , về những nguyên nhân dẫn đến lạm phát ở nước ta, cũng như tác
động của nó, và các chính sách mà nhà nước ta đã đặt để kiềm chế lạm phát
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Đo lường và phân loại lạm phát. Trí Tuệ Doanh Nhân
[http: trituedoanhnhan.com/index.php/355/]
2, Nhật Bình. Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát ở Việt Nam. HDHMoney
[http: ndhmoney.vn/ /đau-la-nguyen-nhan-chinh-dan-đen-lam-phat-o-viet-na]
3, Trí An. Nhận diện những “virus” gây lạm phát ở Việt Nam.CAFEF
[http: cafef.vn › Kinh tế vĩ mô - Đầu tư ]
4, Năm 2009:GDP tăng 5,32%, lạm phát chỉ 6,88%. Báo mới
[http: www.baomoi.com › Kinh tế]
5, Anh Quân. Lạm phát bình quân 12 tháng năm 2009 là 6,88%. CAFEF
[http: cafef.vn › Kinh tế vĩ mô - Đầu tư]
6, Năm 2010,lạm phát cả nước ở mức 11,75%. VTC News
[http: vtc.vn › Kinh tế]
14
Phạm Thị Như Mai, lớp 122_T10
7, Nguyễn Hiền. Dự báo hai kịch bản lạm phát năm 2010. Dân Trí
[http: dantri.com.vn › Kinh doanh]

15
Phạm Thị Như Mai, lớp 122_T10
21, Đo lường và phân loại lạm phát. Trí Tuệ Doanh Nhân
[http: trituedoanhnhan.com/index.php/355/]
22, Các biện pháp chống lạm phát. Vienhanlam
[http: vienhanlam.wordpress.com/2013/02/18/cac-bien-phap-chong-lam-phat/]
23, Doanh nghiệp dở sống, dở chết vì lạm phát, lãi suất. VnExpress
[http: kinhdoanh.vnexpress.net/ /doanh-nghiep-do-song-do-chet-vi-lam-phat ]
16
Phạm Thị Như Mai, lớp 122_T10
17
Phạm Thị Như Mai, lớp 122_T10
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status