Những vấn đề về lạm phát ở Việt Nam GVHD:Trương Minh Tuấn
LỜI NÓI ĐẦU
Bất kỳ nền kinh tế nào, từ mô hình tập trung quan liêu bao cấp đến kinh tế thị
trường, muốn phát triển vững mạnh đều phải quan tâm đặc biệt tới tam giác: tăng trưởng,
thất nghiệp và lạm phát. Chúng liên kết hay đối lập, chúng liên hợp những nhịp độ của
tăng trưởng, sự tăng lên hay tụt xuống của những lớp thất nghiệp dưới làm sóng lạm phát.
Lạm phát, đó là hiện tượng mất cân bằng kinh tế phổ biến, là căn bệnh kinh niên của kinh
tế thị trường. Lạm phát được coi là con quỷ gớm nhất trên trái đất, ít nhất là xét về triển
vọng chính sách kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên lạm phát cũng có tính chất hai mặt của nó. Một
mặt nó kích thích nền kinh tế phát triển nếu tốc độ tăng của nó phù hợp với tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Mặt khác, nếu tốc độ lạm phát tăng cao sẽ gây ra những biến động kinh tế
hết sức nghiêm trọng, như biến dạng cơ cấu sản xuất về việc làm, thu nhập bất bình đẳng,
tỷ lệ thất nghiệp tăng....
Càng ngày, cùng với sự phát triển đa dạng phong phú của nền kinh tế thì nguyên nhân
dẫn đến lạm phát cũng ngày càng trở nên phức tạp hơn.Đối với nước ta, trong sự nghiệp
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, cơ
chế mới sẽ là môi trường thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế theo xu hướng hiện đại,
chắc lọc thừa kế những thành tựu và khắc phục những tồn tại đã qua. Trong đó, lạm pháp
nổi lên như là một vấn đề hết sức nghiêm trọng. Việc nguyên cứu về lạm phát, tìm hiểu
nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát là hết sức cần thiết và có vai trò to lớn góp
phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước. Do đó, chúng em đã chọn đề tài đề án môn học
tài chính tiền tệ "Những vấn đề về lạm phát ở Việt Nam". Mặc dù đã hết sức cố gắng
nhưng do thời gian có hạn cùng với năng lực và hiều biết còn hạn chế nên bản đề án không
tránh khỏi những thiếu xót. Kính mong thầy và các bạn quan tâm đóng góp ý kiến để bản
đề án được hoàn thiện hơn.
MỤC LỤC
trang 1
Những vấn đề về lạm phát ở Việt Nam GVHD:Trương Minh Tuấn
NỘI DUNG CHÍNH......................................................................................................3
I. Vài nét về lạm phát........................................................................................................3
I.1. Khái niệm...........................................................................................................3
lên trong một khoảng thời gian nhất định, giá trị đồng tiền giảm.
Giảm phát: là hiện tương tình trạng mức giá chung của các loại hàng hoá và dịch vụ gỉam
xuống trong một thời gian nhất định.
Giảm lạm phát: là hiện tượng xảy ra khi tỷ lệ lạm phát của năm
được xét thấp hơn tỷ lệ lạm phát năm trước.
Thiểu phát: là hiện tượng xảy ra khi tỷ lệ lạm phát thực tế nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến
làm sản lượng thực nhỏ hơn sản lượng dự kiến.
Mức giá chung (hay chỉ số giá) là mức giá trung bình của tất cả
hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế ở kỳ này so với kỳ gốc.
Khi mức giá chung (P) tăng lên thì sức mua của đồng tiền sẽ giảm xuống.
Mức độ lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát.
Tỷ lệ lạm phát (ký hiệu là If) là tỷ lệ phần trăm gia tăng trong mức giá chung của kỳ này so
với kỳ trước.
Tỷ lệ lạm phát hàng năm =
Chỉ số giá hàng tiêu dùng: Đo lường mức giá trung bình của những hàng hoá
dịch vụ mà một gia đình điển hình mua ở kỳ hiện hành so với kỳ gốc.
-Có ba loại chỉ số giá được sử dụng để tính tỷ lệ lạm phát là:
⊕ Chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI)
⊕ Chỉ số giá hàng sản xuất (PPI)
⊕ Chỉ số giảm phát theo GDP (Id)
trang 3
Những vấn đề về lạm phát ở Việt Nam GVHD:Trương Minh Tuấn
Chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI): là chỉ số thể hiện mức giá trung bình của giỏ hàng
hoá và dịch vụ mà một hộ gia đình mua ở kỳ này so với kỳ gốc.
I.2. Thực trạng lạm phát ở việt Nam.
Giai đoạn 1986- 1993 :
Kinh tế Việt Nam từ những năm 1986 đến nay đã trải qua sự biến đổi sâu sắc : từ nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa;
từ tăng trưởng thấp những năm 80 sang tăng trưởng cao những năm 90; khủng hoảng rối
loạn sang ổn định và phát triển.
Giai đoạn 1994-1998:
Vào năm 1993, mặc dù lạm phát đã giảm xuống một chữ số nhưng những tiến bộ vượt bậc
đó đã không thể duy trì được và củng cố bằng những chính sách tài chính và chính sách
tiền tệ thận trọng nên đén năm 1994 tỉ lệ lạm phát lại tăng lên mức 14,4%.
Tình hình kinh tế trong giai đoạn này đã có những thay đổi đáng kể , vì vậy lạm phát xảy
ra đã phản ánh được hậu quả tất yếu của tình hình lúc bấy giờ.
Trước hết , lạm phát xảy ra là do hiện tượng cầu kéo : Đến năm 1993, cùng với việc đầu tư
nước ngoài tăng cao (tăng 85,6% so với năm 1992) là việc các hãng nước ngoài chuyển lợi
nhuận về nước, do đó cầu ngoại tệ tăng cao làm cho giá USD tăng, đồng tiền Việt Nam bị
giảm giá từ 10.600 đồng/1USD vào năm 1993 đến 11.050đồng/1USD năm 1995. điều này
tác động làm cán cân thương mại được cải thiện, do đó, tổng cầu trong nền kinh tế tăng.
Đồng thời năm 1998 Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được thông qua tương đối
thông thoáng khiến cho đầu nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh .
Chi tiêu của Chính phủ trong thời gian này cũng tăng mạnh, trong đó có chi thường xuyên
và chi cơ bản. Cụ thể là:
Cải cách chế độ tiền lương, trợ cấp đối với các đối tượng chính sách xã hội. Đồng thời trợ
cấp cho các đối tượng bộ đội chuyển ngành và nghỉ, trợ cấp thôi việc cho một số cán bộ
trang 5
Những vấn đề về lạm phát ở Việt Nam GVHD:Trương Minh Tuấn
công nhân viên chức do một số cơ quan nhà nước đóng cửa vì không thể thích ứng được
với cơ chế thị trưòng.đòng thời chi thường xuyên của ngân sách tăng nhanh.
Cũng từ năm 1992-1994, ngân sách nhà nước chi cho đường dây cao áp 500KV chiếm
phần lớn chi tăng thêm cho xây dựng cơ bản.
Từ năm 1993-1995 đầu tư xã hội tăng mạnh, trong đó có đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ
tầng để phục vụ cho nền kinh tế mới phát triển. Tất cả những điều này đẩy đường tổng cầu
lên cao, làm giá cả tăng cao. Lạm phát thời kỳ này xảy ra còn do chi phí đẩy : Vào thời kỳ
này, giá cả n số mặt hàng được điều chỉnh như giá xi măng, giá điện, giá xăng, làm cho chi
phí đầu vào tăng mạnh, cung giảm , đẩy giá cả lên cao, gây lên lạm phát chi phí dẩy.
Giai đoạn 1999-2001:
Cuộc khủng hoảng tài chính -tiền tệ Châu Á bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 làm cho nước
Tình hình kinh tế năm 2002 có nhiều sự khởi sắc mới , nhờ có sự cố gắng , nỗ lực của
các nghành, các cấp năm 2002 chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát
triển kinh tế .
Mặc dù năm 2002 tình hình kinh tế thế giới có nhiều khó khăn, nhưng nước ta vẫn đạt
tỉ lệ tăng trưởng kinh tế là 7,04%, tỉ lệ tăng trưởng cao thứ hai trong khu vực Châu á chỉ
sau có Trung Quốc(8%), các chỉ tiêu kinh tế khác chúng ta hầu hết đều đạt và vượt chỉ tiêu
đề ra. Lạm phát trong năm 2002 là 4%, một tỉ lệ lạm phát chấp nhận được mặc dù cao hơn
so với mục tiêu 35 của chúng ta đã đề ra.
Tình hình giá cả đầu năm 2002 của chúng ta đã tăng lên tương đối nhanh, 6 tháng đầu
năm giá cả đã tăng 2,9%, khi đó rất nhiều nhà kinh tế đã lo ngại rằng nếu chúng ta không
kiểm soát được lạm phát thì rất có thể tỉ lệ lạm phát của nước ta sẽ lên tới 6%. Trước tình
hình đó nhà nước đã có những chính sách nhằm ổn định giá cả trên thị trưòngmột cách hợp
lý , nhờ đó, đến cuối năm tỉ lệ lạm phát của chúng ta chỉ là 4%.
Hơn hai tháng đầu năm 2003, tình hình kinh tế , chính trị trên thế giới có nhiều biến
động, đặc biệt là sự kiện Mỹ chủ trương lật đổ chính quyền đương thời để lập nên một
chính quyền mới ở Irắc, nguy cơ một cuộc chiến tranh vùng vịnh xảy ra , đã khiến cho tình
trang 7
Những vấn đề về lạm phát ở Việt Nam GVHD:Trương Minh Tuấn
hình kinh tế thế giới rơi vào tình trạng hầu hết các mặt hàng trên thế giới đều tăng cao. Đặc
biệt là giá xăng dầu, giá vàng tăng mạnh. Một sự kiện xảy ra trong thời gian vừa qua đó là
việc một số cửa hàng xăng dầu ở các thành phố lớn đã đóng cửa không bán xăng cho người
tiêu dùng, đó chính là dấu hiệu của sự đầu cơ, có thể gây những ảnh hưởng bất lợi cho nền
kinh tế. Trước tình hình đó, Bộ thương mại đã có những chấn chỉnh kịp thời yêu cầu tât cả
các cửa hàng xăng dầu phải mở cửa bán hàng trở lại và xử phạt các cửa hàng đã đóng cửa
bán hàng trong khi vẫn có xăng trong cửa hàng. Giá vàng cũng tăng mạnh, thậm chí có
ngày trong một buổi sáng giá vàng tăng ba lần. Trước tình hình đó, nguy cơ giá cả tăng cao
rất đễ xảy ra, thực tế trong hai tháng đầu năm 2003 giá cả các mặt hàng của chúng ta đã
tăng 3%,vì vậy có nhiều người lo ngại là chúng ta không thể đạt được mục tiêu về lạm phát
đã đề ra là tỉ lệ lạm phát không quá 5%. Hiện tại, giá dầu và giá vàng, giá rất nhiều mặt
hàng khác trên thế giới vẫn tiếp tục tăng, ở nước ta giá vàng còn cao hơn trên thế giới , vì
tháng đầu năm 2009 lạm phát không còn là một vấn đề đáng lo ngại. Trung bình 7 tháng
đầu năm lạm phát chỉ tăng 0.45%/tháng, so với tháng 12/2008 đến tháng 7/2009 lạm phát
chỉ tăng 3.22%, trong đó lương thực thực phẩm giảm 0.33%.
Ngu
ồn:
TC
TK
II. Nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát ở Việt Nam.
Tìm hiểu nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam có thể giúp chúng ta dự báo
về lạm phát trong lương lai và có những chính sách đúng đắn nhằm ngăn chặn tác hại của
lạm phát đến sự phát triển kinh tế.
Những nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam không nằm ngoài khuôn khổ lý thuyết.
Tuy nhiên, nguyên nhân chính gây nên lạm phát cao ở Việt Nam được nhiều người đánh
giá là lạm phát do cung tiền và lạm phát do chi phí đẩy. Phần này đi phân tích và làm rõ
hơn về 2 nguyên nhân này.
II.1. Lạm phát do chi phí đẩy ở Việt Nam:
Đây là nguyên nhân dễ nhận thấy đối với lạm phát của Việt Nam trong thời gian qua.
Với một nền kinh tế khá mở, kim ngạch nhập khẩu lên đến 90% GDP (2008), sự biến động
trang 10
Những vấn đề về lạm phát ở Việt Nam GVHD:Trương Minh Tuấn
của giá cả trên thế giới tác động ngay đến giá cả trong nước. Năm 2007 và nửa đầu năm
2008, giá cả của hầu hết các mặt hàng trên thế giới biến động mạnh, đặc biệt là giá dầu thô,
lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp. Sự tăng giá của hầu
hết các hàng hóa trong nước góp phần làm cho lạm phát ở Việt Nam bùng phát.
Tuy nhiên, nguyên nhân do chi phí tăng lên của hầu hết các hàng hóa trên thế giới không
thể giải thích hoàn toàn cho lạm phát ở Việt Nam. Quan sát bảng sau chúng ta thấy cùng
chịu một sự tăng giá như nhau nhưng hầu hết các hàng hóa trên thế giới đều không chịu
mức lạm phát cao như Việt Nam. Như vậy ngoài nguyên nhân do sự tăng giá của các hàng
hóa (lạm phát do chi phí đẩy) nguyên nhân rất quan trọng gây nên bùng nổ lạm phát ở Việt
Nam chính là lạm phát do nguyên nhân cung tiền.