Lời mở đầu
Thành phố Hồ Chí Minh luôn được biết đến là một trung tâm kinh tế, tài chính,
thương mại, dịch vụ của cả nước; là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một
trong ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất nước, là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất
Việt Nam. Thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài
chính - tín dụng. Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng
doanh thu toàn quốc. Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 thành phố Hồ Chí
Minh có dân số 7.162.864 người, gồm 1.824.822 hộ dân trong đó: 1.509.930 hộ tại thành
thị và 314.892 hộ tại nông thôn, bình quân 3,93 người/hộ. Phân theo giới tính: Nam có
3.435.734 người chiếm 47,97%, nữ có 3.727.130 người chiếm 52,03%. Theo số liệu của
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, dân số thành phố vào giữa năm 2010 là
7.396.446 người, mật độ 3.531 người/km
2
. Cùng với xu thế hội nhập toàn cầu và giao lưu
văn hoá giữa các nước như hiện nay, sự gia tăng về nhu cầu học ngoại ngữ là điều không
thể tránh khỏi. Được xem là ngôn ngữ chung trên thế giới, từ lâu tiếng Anh đã trở nên vô
cùng phổ biến và là ngôn ngữ thứ hai của rất nhiều quốc gia trên thế giới nói chung,
ở Việt Nam nói riêng. Do đó, có thể khẳng định rằng việc dạy và học môn tiếng Anh
chiếm vị trí rất quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo ở nước ta. Bên cạnh việc
học Tiếng Anh ở trường thì nhu cầu học thêm của người dân nói chung, của sinh viên
thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là rất cao. Từ nhu cầu đó dẫn đến việc các trung tâm
ngoại ngữ mọc lên ngày càng nhiều. Có thể kể đến như: Đông Phương Mới, FLC-VNU-
AUSP, ELITE, VUS, Dương Minh, Không Gian, …
Bên cạnh những thuận lợi do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại thì cạnh tranh giữa
các quốc gia ngày càng gay gắt với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, các tổ chức tài
chính - ngân hàng Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn về công nghệ, trình độ quản lý, năng
lực tài chính và nguồn nhân lực có chất lượng cao. Họ muốn sử dụng nguồn nhân lực sẵn
có của Việt Nam để triển khai những dịch vụ tài chính, ngân hàng, nhưng nguồn nhân lực
của các cơ sở đào tạo nhìn chung rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của các ngân
hàng cả về số lượng và chất lượng. Trong đó, trình độ tiếng Anh chưa đạt yêu cầu nếu
1
nghe của SV chỉ bắt đầu bằng con số 0 khi theo chuẩn TOEIC vì SV không được học
môn nghe ở phổ thông. Đề thi TOEIC luôn đòi hỏi người học phải có kỹ năng đọc
nhanh vì thế sinh viên hoàn toàn bắt đầu bằng con số 0 khi thi đọc hiểu theo chuẩn
TOEIC.
Trường Đại học Ngân Hàng TP HCM là một trường đại học đa ngành, nhưng
chuyên ngành về kinh tế, đặc biệt ngành tài chính-ngân hàng là ngành mũi nhọn của
trường. Hằng năm trường tuyển hơn 2000 sinh viên gồm bậc đại học và cao đẳng. Trường
Đại học Ngân Hàng TP HCM được đánh giá là có vai trò quan trọng trong việc đào tạo
nguồn nhân lực trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng cho khu vực phía Nam và cả nước.
Bên cạnh việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn tốt thì trường cũng rất chú
trọng trong việc nâng cao trình độ tiếng Anh của sinh viên. Để nâng cao trình độ tiếng
Anh cho học sinh, sinh viên, trường đã áp dụng TOEIC làm chuẩn tiếng Anh đầu ra; giúp
các em trang bị một công cụ làm việc hiệu quả để hội nhập với môi trường làm việc
chuyên nghiệp trong tương lai. Năm 2009, Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM đã ban hành
quyết định về chuẩn đầu ra tiếng Anh cho SV của trường. Theo đó, để tốt nghiệp, SV phải
đạt trình độ 550 TOEIC quốc tế. Tuy nhiên, thực tế triển khai thì không theo quyết định
này mà thực hiện tăng dần theo lộ trình. Cụ thể, với khóa 23 (tức khóa tốt nghiệp năm
2011), chuẩn này là 500 điểm; khóa 24 sẽ nâng lên 525 điểm; khóa 25 đến khóa 27 sẽ giữ
nguyên mức 530. Tiến sĩ Phan Ngọc Minh - Trưởng phòng Đào tạo, cho biết: “Dù đưa ra
mức chuẩn là 550 TOEIC, tuy nhiên do thực tế trình độ đầu vào tiếng Anh của SV nên
nhà trường phải triển khai theo lộ trình tăng dần, cho đến khi nào đáp ứng được thì mới
triển khai theo chuẩn”.
3
Sơ lược về đề tài nghiên cứu
1.Tên đề tài: “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC HỌC TIẾNG ANH VÀ
GIẢI PHÁP”
2. Lí do lựa chọn đề tài:
Trong những năm qua Việt Nam đang từng bước đi lên trên con đường hội nhập
kinh tế quốc tế với nhiều cơ hội và cũng nhiều thách thức. Nước ta đang thu hút nguồn
đầu tư nước ngoài cũng như có xu hướng họp tác làm ăn với họ. Để làm được điều đó thì
ngữ một cách đúng đắn chủ yếu chỉ nhằm ứng phó, lấy điểm trung bình để “qua ải” tại
4
các kỳ thi hoặc của một số viên chức nhằm hợp thức hóa bằng cấp tại Việt Nam trong khi
doanh nghiệp nước ngoài họ rất cần điều đó.
Với mong muốn đưa đến một cái nhìn toàn diện hơn về việc tiếp cận ngoại ngữ,
trao dồi tiếng anh của sinh viên Việt Nam. Từ đó tạo cơ sở để các cơ sở đào tạo anh ngữ
có những chính sách tích cực để đào tạo, định hướng sinh viên phục vụ tốt hơn cho xã
hội; giúp các địa phương phần nào nắm bắt được nhu cầu của sinh viên nhằm xây dựng
một môi trường làm việc phù hợp hơn, góp phần nâng cao năng suất lao động, đóng góp
chung vào sự phát triển của đất nước, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “Các nhân
tố ảnh hưởng đến việc học Tiếng Anh và giải pháp” và thực hiện khảo sát tại trường
Đại học Ngân hàng Hồ Chí Minh.
3. Nền tảng nghiên cứu:
Dựa vào kiến thức môn kinh tế lượng và những bài luận nghiên cứu trước đó để làm nền
tảng cho bài tiểu luận này.
4. Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định và định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến khía cạnh trao đồi tiếng anh của sinh
viên tại trường Đại học Ngân hàng TP.HCM.
Các chính sách đào tạo, định hướng tích cực trong việc giúp sinh viên ý thức hơn trong
việc học tiếng anh của mình. Điều đó sẽ tạo cho sinh viên có nhiều cơ hội hơn trong
phỏng vấn khi làm ứng cử viên thực tập hay xin việc làm khi tốt nghiệp.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Sinh viên trường Đại học Ngân hàng.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này chủ yếu được nghiên cứu thông qua phương pháp khảo sát thực tế thu thập
thông tin và phân tích bằng phần mềm SPSS.
a) Công cụ thu thập thông tin
- Đề tài nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi tự trả lời để thu thập thông tin từ đối
tượng cần điều tra bởi vì công cụ này có những thuận lợi cơ bản sau:
• Giúp người nghiên cứu tiết kiệm được thời gian, chi phí, nhân lực dành cho cuộc
đẹp, gắn liền với nhiều nét văn hóa đặc sắc từ những quốc gia sử dụng nó. Nếu bạn cảm
thấy mình thực sự yêu thích và đam mê tiếng Anh thì tôi tin chắc rằng bạn sẽ sớm thành
thạo ngôn ngữ này.
Phần đông mọi người hiện nay cho rằng học tiếng Anh là để cải thiện bản thân,
cải thiện cuộc sống của chính mình. Đó là một động lực hoàn toàn chính đáng của riêng
bạn. Rõ ràng rằng các nhà tuyển dụng sẽ muốn lựa chọn một ứng viên có khả năng tiếng
Anh tốt, thay vì một ứng viên không thể sử dụng hoặc sử dụng rất tệ ngoại ngữ này. Hoặc
giả như bạn muốn đi du học thì nhất thiết bạn phải học tiếng Anh để có thể theo được nội
dung chương trình đào tạo.
Tiếng Anh hiện nay đã trở thành thứ ngôn ngữ toàn cầu. Giữa hàng chục, hàng
trăm thứ ngôn ngữ khác nhau, thế giới đã lựa chọn tiếng Anh như phương tiện để mọi
người có thể hiểu được nhau. Theo số liệu từ Wikipedia, 53 quốc gia sử dụng tiếng Anh
làm ngôn ngữ chính thức. Các sự kiện quốc tế như Olympic, các tổ chức toàn cầu, các
công ty đa quốc gia… cũng đều coi tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp thông dụng. Để
không trở thành một vị khách, một người bạn “không thể giao tiếp”, bạn cần phải học để
sử dụng tiếng Anh.
Đôí với sinh viên ĐH Ngân Hàng TP HCM,việc học tiếng Anh để không chỉ là
điều kiện bắt buộc để có thể ra trường.Hơn thế nữa,việc nắm trong tay một chứng chỉ
tiếng anh quốc tế như TOEIC,TOEFL,IELTS loại ưu là điều kiện cần thiết để bạn
có được 1 vị trí làm việc ở các ngân hàng trong nước,thậm chí bạn còn có thể có được
6
một công việc tốt với thu nhập khá cao ở các ngân hàng nước ngoài như HSBC hay ANZ
nếu trình độ tiếng Anh của bạn thực sự giỏi để có thể giao tiếp tốt với các đồng
nghiệp,sếp hay khách hàng là người nước ngoài.
Vì vậy,nghiên cứu về thực trạng hoc tiếng Anh của sinh viên Ngân Hàng là cần
thiết để có thể hiểu rõ về những khó khăn cũng như những lợi thế mà sinh viên trường ta
có,từ đó có thể đề xuất những biện pháp nhằm khắc phục điểm yếu và phát huy điểm
mạnh nhằm góp phần nâng cao trình độ tiếng Anh của sinh viên ĐH Ngân Hàng
TPHCM.
1.1. Trong các phương tiện truyền thông và giao thông
Tiếng Anh chiếm ưu thế trong giao thông vận tải và các phương tiện truyền thông.
Trong lĩnh vực du lịch và ngôn ngữ cộng đồng của hàng không quốc tế, tiếng Anh đóng
vai trò chính. Phi công, tiếp viên và kể cả các nhân viên kiểm soát đều nói tiếng Anh tại
các phi trường quốc tế. Năm trong số các đài phát thanh nổi tiếng là CBS, NBC, ABC,
BBC và CBC được 300 triệu người chọn ra là các đài phát thanh tiếng Anh phổ biến nhất.
Tiếng Anh cũng là ngôn ngữ phổ biến trên các chương trình TV thuộc truyền tải vệ tinh.
1.2. Trong thời đại thông tin
Ngôn ngữ của thời đại thông tin là tiếng Anh. Hơn 80% nguồn dự trữ thông tin của
hơn 100 triệu máy tính khắp thế giới là tiếng Anh. 85% các cuộc trao đổi qua điện thoại
quốc tế được sử dụng bằng tiếng Anh, cũng như vậy số lượng mail, các cuộc điện báo và
truyền tín hiệu qua dây cáp. Chương trình chỉ dẫn trên máy tính và các chương trình phần
mềm thường được dùng bằng tiếng Anh.
Tiếng Đức đã là một ngôn ngữ của khoa học. Nhưng ngày nay, hơn 80% các bản ghi
chép khoa học được trình bày với ngôn ngữ thứ nhất là tiếng Anh. Tương tự, phân nửa kỹ
thuật và khoa học trên thế giới cũng được phổ biến bằng tiếng Anh và còn được dùng
trong các lĩnh vực y học, điện tử và kỹ thuật không gian.
8
1.3. Trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế
Tiếng Anh trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực
trong nền kinh tế Châu Âu. Cũng vậy tiếng Anh hầu như tham gia hầu hết vào các thành
phần lãnh đạo của các doanh nghiệp. Các tập đoàn của nhiều quốc gia trên thế giới
thường chọn tiếng Anh như lựa chọn chính của họ.
1.4. Ngôn ngữ chung
Tiếng Anh dùng như là tiếng nói chung ở nhiều nước nơi mọi người nói nhiều ngôn
ngữ khác nhau. Tại Ấn Độ, nơi có gần 200 ngôn ngữ khác nhau được sử dụng và chỉ có
30% người nói ngôn ngữ chính là tiếng Hindi.
1.5. Ngôn ngữ chính thức
Tiếng Anh là ngôn ngữ nửa chính thức của 20 nước Châu Phi bao gồm Sierra
Leone, Ghana, Nigeria, Liberia và Nam Phi.
bằng tiếng Anh. Chỉ có khoảng 50% trong số đó đến từ các nước nói tiếng Anh như Anh
hay Mỹ (Theo garfiled).
• Bản tin. Xem mạng lưới truyền hình quốc tế như kênh CNN và BBC. Họ phát tin
tức nhanh chóng hơn, chuyên nghiệp hơn các mạng lưới truyền hình quốc gia khác. Và
chúng ta có thể xem các kênh này trên khắp thế giới.
2.2. Thúc đẩy sự nghiệp
Tiếng Anh có những lợi ích sau:
• Nếu có một vốn tiếng Anh tốt có thể nhận được việc làm mơ ước và kiếm được
nhiều tiền hơn.
• Mở rộng kiến thức chuyên môn. Tiếng Anh là ngôn ngữ của công nghệ, đặc biệt
những ngành công nghệ cao như khoa học máy tính, di truyền học, y học.
• Nghiên cứu khoa học máy tính. Đọc các bài báo chuyên môn kỹ thuật không mấy
khó khăn.
• Trở thành doanh nhân đẳng cấp quốc tế. Giao dịch quốc tế được tiến hành bằng
tiếng Anh. Và tất cả lĩnh vực kinh doanh ngày nay đều mang tầm quốc tế. Vì thế nếu
muốn “nhập cuộc”, phải biết tiếng Anh, để liên lạc với các doanh nhân, để tham dự hội
thảo, để đọc báo và tạp chí thương mại quốc tế v.v
• Trở thành nhà khoa học tài giỏi hơn. Hãy liên lạc với các nhà khoa học ở những
nước khác, tham gia các hội nghị quốc tế, thăm các trung tâm học thuật nước ngoài. Tìm
hiểu những phát kiến mới thông qua sách báo, tạp chí.
• Sử dụng máy tính hiệu quả hơn. Hầu hết các ứng dụng máy tính đều dùng tiếng
Anh, do đó sẽ hiểu chúng rõ hơn, và trở thành nhân viên giỏi giang hơn.
• Học được những kỹ năng mới cho công việc. Mục “Tiếp cận tri thức” ở trên đã
giải thích
2.3. Cảm giác hài lòng
Tiếng Anh không chỉ hữu ích mà còn mang lại cho cảm giác hài lòng:
• Cảm giác tiến bộ. Mang lại cảm giác hài lòng khi có thể nói chuyện với người Mỹ
hoặc xem các kênh tivi tiếng Anh.
• Cảm giác thích học tiếng Anh hơn, nếu luôn nhớ rằng mỗi giờ học tiếng Anh là
một giờ đưa đến gần sự hoàn thiện hơn.
khoảng cách giữa các quốc gia trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá.
Đất nước ta đang trên đà phát triển, vì vậy tiếng Anh là công cụ hỗ trợ đắc lực cho
chúng ta hội nhập, hợp tác, đặc biệt khi Viêt Nam đã gia nhập WTO thì vai trò tiếng Anh
càng trở nên cần thiết. Tuy nhiên, việc dạy và học kĩ năng nói tiếng Anh ở Việt Nam chưa
được đánh giá đúng mức.
Hiện nay, ngày càng có nhiều sinh viên định hướng vào các Tập đoàn đa quốc gia,
công ty nước ngoài, hay những tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam. Xu hướng lựa chọn
các tổ chức có yếu tố nước ngoài phần nào thể hiện tư duy mới của giới trẻ trong một bối
cảnh xã hội có nhiều thay đổi và câu chuyện toàn cầu hóa không còn của riêng ai. Một
công việc tốt, thu nhập cao, có cơ hội phát triển luôn là kỳ vọng của các sinh viên Việt
khi ra trường . Trên thực tế, giới trẻ và sinh viên Việt Nam đã nằm trong quỹ đạo của quá
trình toàn cầu hóa. Ý thức về việc nâng cao trình độ và kỹ năng Anh ngữ, kỹ năng mềm
của sinh viên đã ngày càng thay đổi. Tuy nhiên học tiếng Anh như thế nào để thành công
và đạt được mục tiêu, ứng dụng được trong công việc tương lai lại là một điều đáng bàn.
Việc sử dụng Tiếng Anh một cách thuần thục đã trở thành một yêu cầu không thể
thiếu đối với mỗi người, muốn nâng cao trình độ, muốn du học nước ngoài, hay đơn giản
là tiếp cận và khai thác một cách tối ưu nhất những thành tựu khoa học kĩ thuật công
nghệ, bạn cần phải biết Tiếng Anh. Trình độ Tiếng Anh càng cao, bạn càng có nhiều cơ
hội để phát huy năng lực của mình. Nhìn chung, ngoại ngữ không phải là một môn học
theo công thức nhưng trong thực tế, khi học ngoại ngữ, hầu hết sinh viên Việt Nam
thường chú trọng vào ngữ pháp hơn là giao tiếp. Kết quả là nhiều sinh viên có thể nắm
chắc ngữ pháp Tiếng anh còn hơn cả người bản ngữ nhưng khi giao tiếp thì họ lại tỏ ra
lúng túng và rất kém. Ở các nước khác thì có phần ngược lại, người ta thường quan tâm
11
nhiều tới việc học nghe, học nói trước, cần phải tăng cường giao tiếp mọi lúc, mọi nơi,
sau đó mới đến học ngữ pháp.
Trước thềm hội nhập khi Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO, các
chuyên gia giảng dạy tiếng Anh cho rằng, môn ngoại ngữ không chỉ còn là môn học
chính thức mà là môn học bắt buộc được quan tâm hàng đầu. Việc dạy và học ngoại ngữ
không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức ngữ pháp chắc chắn mà còn tạo cho học
học nhóm thì mọi người có thể sửa sai cho nhau, bổ sung kiến thức cho nhau rất
hiệu quả mà lại nhớ lâu. Tuy nhiên một nhóm thì không nên quá nhiều người đâu
(chỉ tầm 3 – 4 bạn thôi) vì có một idiom là: “Two heads are better than one” mà.
Rất nhiều bạn học một mình với lý do là để tập trung. Điều này đúng trong
trường hợp học các môn khác chứ không phải tiếng anh vì Tiếng Anh bản chất
12
của nó là một ngôn ngữ, mang tính giao tiếp vì thế khi học mà có sự giao tiếp
thực hành thì còn gì bằng!
4.2. Nguyên nhân gây khó khăn trong việc nghe tiếng Anh:
Bạn cố gắng nghe tất cả các từ: Sở dĩ bạn có thể nói chuyện với bạn bè trong một
không gian ồn ào là do bạn có khả năng hiểu được ý người nói dù cho bạn không
thể nghe được tất cả các từ. Vậy tại sao bạn lại không cố gắng sử dụng khả năng
này trong tiến Anh? Bạn hãy tìm xem nhưng từ nào lá quan trọng nhất cần phải
nghe và cố gắng nghe các từ đó. Điều này không quá khó vì những từ này thường
được đọc lớn hơn và lâu hơn các từ còn lại.
Bạn không theo kịp bài nghe vì mãi tìm nghĩa của một từ bạn vừa nghe được:
Đây là một vấn đề mà hầu hết những ai học tiếng Anh đều đã từng trải qua ít nhất
một lần. Điều này thường xảy ra khi bạn nghe được một từ khá quen thuộc nhưng
bạn lại không nhớ rõ. Trong khi bạn cố nhớ ra nghĩa của từ đó thì bạn đã mất đi
một đoạn khá dài trong bài nghe rồi. Để tránh rơi vào tình trạng này bạn cần chú
ý đến phần ôn lại từ vựng của giáo viên trước mỗi bài nghe đồng thời luyện kĩ
năng đoán từ trong ngữ cảnh.
Bạn không biết nghĩa của các từ khóa (key words): Việc tập trung vào phần ôn từ
vựng trước mỗi bài nghe và khản năng đoán từ trong ngữ cảnh cũng có thể có
ích cho bạn trong trường hợp này. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là bạn phải tự
trao dồi vốn từ vựng cho mình.
Bạn không nhận ra được những từ mà bạn đã biết: Bạn có thể gặp rắc rối khi phải
phân biệt các từ có những âm tiết gần giống nhau. (Ví dụ: /l/ và /r/ trong "led" và
"red" hoặc "there", "their" và "they're"). bạn cũng có thể gặp vấn đề với các
trọng âm của từ, của câu và việc luyến âm trong các bài nghe nhanh. Vậy nên
trong ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất nước, là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất
Việt Nam. Thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài
chính - tín dụng. Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng
doanh thu toàn quốc. Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 thành phố Hồ Chí
Minh có dân số 7.162.864 người, gồm 1.824.822 hộ dân trong đó: 1.509.930 hộ tại thành
thị và 314.892 hộ tại nông thôn, bình quân 3,93 người/hộ. Phân theo giới tính: Nam có
3.435.734 người chiếm 47,97%, nữ có 3.727.130 người chiếm 52,03%. Theo số liệu của
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, dân số thành phố vào giữa năm 2010 là
7.396.446 người, mật độ 3.531 người/km
2
. Cùng với xu thế hội nhập toàn cầu và giao lưu
văn hoá giữa các nước như hiện nay, sự gia tăng về nhu cầu học ngoại ngữ là điều không
thể tránh khỏi. Được xem là ngôn ngữ chung trên thế giới, từ lâu tiếng Anh đã trở nên vô
cùng phổ biến và là ngôn ngữ thứ hai của rất nhiều quốc gia trên thế giới nói chung,
ở Việt Nam nói riêng. Do đó, có thể khẳng định rằng việc dạy và học môn tiếng Anh
chiếm vị trí rất quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo ở nước ta. Bên cạnh việc
học Tiếng Anh ở trường thì nhu cầu học thêm của người dân nói chung, của sinh viên
thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là rất cao. Từ nhu cầu đó dẫn đến việc các trung tâm
ngoại ngữ mọc lên ngày càng nhiều. Có thể kể đến như: Đông Phương Mới, FLC-VNU-
AUSP, ELITE, VUS, Dương Minh, Không Gian, …
1.2 Giới thiệu chung về trường Đại học Ngân Hàng:
Trường Đại học ngân hàng TP Hồ Chí Minh được thành lập vào ngày 16/12/1976
là trường đại học đa ngành, nhưng chuyên ngành về kinh tế với ngành mũi nhọn là tài
chính-ngân hàng. Hằng năm trường tuyển hơn 2000 sinh viên gồm bậc đại học và cao
đẳng. Hiện nay trường có 05 ngành học : Tài chính – Ngân hàng; Kế toán; Quản trị kinh
doanh; Hệ thống thông tin quản lý; Ngôn ngữ Anh. Trường đào tạo học sinh, sinh viên,
học viên nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành ngân hàng, bảo hiểm,
doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế - xã hội khác ở trong nước và trên thế giới. Nguồn
14
nhân lực được đào tạo có khả năng làm các công việc quản trị kinh doanh, nghiên cứu,
Các cơ sở chính của trường
- Trụ sở chính của trường: 36 Tôn Thất Đạm Quận 1
- Cơ sở 39 Hàm Nghi Quận 1
- Cơ sở số 56 hoàng Diệu 2 Quận Thủ Đức
1.3 Giới thiệu về Cơ sở số 56 hoàng Diệu 2 Quận Thủ Đức
Giảng đường: 3 khu giảng đường( A, B, C)với số phòng học đầy đủ, bảng trắng,
máy đèn chiếu (projector) với đầy đủ các điều kiện học tập và tổ chức hội thảo.
Một hội trường 900 chỗ khang trang, hiện đại tại
Thư viện với 150 chổ dành cho giảng viên, sinh viên, học viên nghiên cứu với hơn
40.000 bản sách các loại. Trong đó có sách, báo, tạp chí tiếng Anh, Hoa, Nhật về kinh tế,
tài chính, ngân hàng… của các nhà xuất bản quốc tế. Một hệ thống gần 150 máy tính
trang bị riêng cho Thư viện với mạng ADSL tốc độ cao dùng để tra cứu internet và truy
15
cập cơ sở dữ liệu. Nhà trường còn đưa vào sử dụng hệ thống thư viện số có thể liên thông
với các trường đại học trong nước. Ngoài ra thư viện còn có 2 nguồn cơ sở dữ liệu điện tử
tạp chí toàn văn Wilson và Proquest bằng tiếng Anh.
Trường có 328 phòng trong khu ký túc xá dành cho sinh viên và học, gần khu giảng
đường và thư viện, có sức chứa trên 2.600 người, trong đó có ký túc xá 4 tầng với 40
phòng đặc biệt đầy đủ tiện nghi. Hiện Trường đang tiếp tục triển khai dự án xây dựng 02
Block ký túc xá 09 tầng sức chứa khoảng 1.500 người, nâng tổng số lên khoảng 4.000
người ở.
Có 08 phòng máy tính với khoảng 400 máy có cấu hình mạnh và tốc độ cao, trong
đó, 05 phòng máy tính được trang bị mới với 200 máy phục vụ học tập của sinh viên và
hơn 200 máy phục vụ cho việc đào tạo kỹ thuật viên tin học của Trung tâm tin học của
Trường.
Một hệ thống mạng không dây (Wireless) được phủ khắp nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho giáo viên, sinh viên nội trú và phụ huynh có thể truy cập mạng nhanh chóng để
khai thác thông tin.
Ngoài ra Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh còn có hệ thống các
sân bãi phục vụ cho việc rèn luyện sức khoẻ, thể dục thể thao như: đường chạy, sân bóng
với các phương pháp lấy mẫu khác. Tuy nhiên cách chọn mẫu này có mặt hạn chế là kết
quả nghiên cứu không thể đại diện và suy rộng ra cho tổng thể nghiên cứu một cách
chính xác được.
2.1.3.Kích thước mẫu
Về mặt lí thuyết thì khi kích cỡ mẫu càng lớn thì kết quả của nghiên cứu càng
đáng tin cậy. Tuy nhiên, do đề tài nghiên cứu dùng phương pháp lấy mẫu thuận tiện phi
xác suất nên kích thước mẫu cũng thường được quyết định một cách chủ quan và kích
thước mẫu phụ thuộc chủ yếu vào những giới hạn về thời gian và tài chính để thực hiện
cuộc khảo sát. Đối với đề tài nghiên cứu này, kích thước mẫu dự kiến ban đầu là 200
mẫu. Nhưng do trong quá trình điều tra xảy ra các sai sót dẫn đến thất lạc, một số mẫu thì
thông tin không đầy đủ nên kết quả sau khi khảo sát là 175 mẫu.
3. Các số liệu thực tế
3.1. Các kĩ năng
Theo số liệu khảo sát về tình hình học tiếng anh của trường ĐHNH, chúng tôi đã tổng kết
được mức độ yêu thích đối với các kĩ năng tiếng anh như sau:
Tổng số 175 sinh viên
Số lượng Tỉ lệ
Nghe 35 20
Nói 62 35.5
Đọc 58 33.1
Viết 20 11.4
Ta có biểu đồ sau:
Trong các kĩ năng trên thì kĩ năng nào là yếu nhất, tốt nhất?
_ Nhìn chung thì mặt bằng Tiếng Anh của học sinh trường mình là bao nhiêu? (mình
không thống kê được]
vì máy tính nó bị vấn đề ra tiệm thì cái máy tính k có Microsoft office. Hix)
_ Các sinh viên của trường ta thì thường học tiếng anh Vì mục đích tìm kiếm việc làm để
đủ điều kiện xét
tốt nghiệp ra trường chứ không phải vì yêu thích tiếng anh
3.2 . Nguyên nhân:
g
System 1 .6
Total 175 100.0
18
Giai doan tiep xuc tieng anh
Frequency Percent
Valid
Percent Cumulative Percent
Valid 1 62 35.4 35.4 35.4
2 105 60.0 60.0 95.4
3 2 1.1 1.1 96.6
4 6 3.4 3.4 100.0
Total 175 100.0 100.0
Descriptive Statistics
N Minimum Maximum Mean
Std.
Deviation
Muc do yeu thich 175 -3.35282 1.98101 .
00000
00
1.00000000
Gioi tinh 174 .0 1.0 .339 .4748
Giai doan tiep xuc
tieng anh
175 1 4 1.73 .656
Diem thi chung chi
english
175 200.00 910.00 449.05
71
152.82139
hood
Ratio
96.284 144 .999
Linear
-by-
Linear
Associ
ation
10.559 1 .001
N of
Valid
Cases
175
191 cells (97.4%) have expected count less than 5. The
minimum expected count is .01.
4.1.2. Phân tích nhân tố
20
Các nhân tố Trị số
KMO(ĐK đủ
để phân tích
nhân tố
Phần biến
thiên được
giải thích với
các nhân tố
chung(extracti
on)
Trọng số % Cronbach’s
Alpha
Các kênh học tiếng
0.430
0.669
0.486
0.645
0.575
Thời gian học
Tham gia đầy đủ các
buổi học
Tiếp xúc tiếng anh mỗi
ngày
Bố trí thời gian học
tiếng anh nhiều nhất
Chú trọng học ngữ
pháp
0.481
0.274
0.710
0.649
0.881
0.326 -0.174
0.560 -0.110
0.505 -0.329
-0.30 0.904
0.299
0.251
0.092
0.101
0.460
Công cụ hỗ trợ
Nghe tiếng anh bằng
Items
.818 .817 4
Summary Item Statistics
Mean
Minimu
m
Maximu
m Range
Maximum /
Minimum
Varianc
e
N of
Items
Item Means .400 .154 .697 .543 4.519 .053 4
Item
Variances
.201 .131 .248 .117 1.893 .002 4
Item-Total Statistics
Scale Mean
if Item
Deleted
Scale
Variance if
Item
Deleted
Corrected
Item-Total
Correlation
Squared
Mean
Minimu
m
Maximu
m Range
Maximum /
Minimum
Varianc
e
N of
Items
Item Means 3.514 2.977 4.171 1.194 1.401 .367 3
Item
Variances
.940 .775 1.091 .316 1.407 .025 3
Item-Total Statistics
Scale Mean
if Item
Deleted
Scale
Variance if
Item
Deleted
Corrected
Item-Total
Correlation
Squared
Multiple
Correlation
Cronbach's
m Range
Maximum /
Minimum
Varianc
e
N of
Items
Item Means 3.341 3.097 3.720 .623 1.201 .075 4
Item
Variances
.986 .893 1.099 .206 1.231 .008 4
Item-Total Statistics
Scale Mean
if Item
Deleted
Scale
Variance if
Item
Deleted
Corrected
Item-Total
Correlation
Squared
Multiple
Correlation
Cronbach's
Alpha if
Item
Deleted
tham du day du cac
Maximu
m Range
Maximum /
Minimum
Varianc
e
N of
Items
Item Means 3.520 3.143 3.714 .571 1.182 .107 3
Item
Variances
1.011 .895 1.130 .235 1.262 .014 3
Item-Total Statistics
Scale Mean
if Item
Deleted
Scale
Variance if
Item
Deleted
Corrected
Item-Total
Correlation
Squared
Multiple
Correlation
Cronbach's
Alpha if
Item
Deleted