Các nhân tố ảnh hưởng đến việc học tiếng Anh của sinh viên thực trạng và giải pháp - Pdf 22

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
VIỆC HỌC TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN -
VIỆC HỌC TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN -THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Lời mở đầu
Thành phố Hồ Chí Minh luôn được biết đến là một trung tâm kinh tế, tài chính,
thương mại, dịch vụ của cả nước; là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một
trong ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất nước, là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất
Việt Nam. Thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài
chính - tín dụng. Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng
doanh thu toàn quốc. Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 thành phố Hồ Chí
Minh có dân số 7.162.864 người, gồm 1.824.822 hộ dân trong đó: 1.509.930 hộ tại thành
thị và 314.892 hộ tại nông thôn, bình quân 3,93 người/hộ. Phân theo giới tính: Nam có
3.435.734 người chiếm 47,97%, nữ có 3.727.130 người chiếm 52,03%. Theo số liệu của
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, dân số thành phố vào giữa năm 2010 là
7.396.446 người, mật độ 3.531 người/km
2
. Cùng với xu thế hội nhập toàn cầu và giao lưu
văn hoá giữa các nước như hiện nay, sự gia tăng về nhu cầu học ngoại ngữ là điều không
thể tránh khỏi. Được xem là ngôn ngữ chung trên thế giới, từ lâu tiếng Anh đã trở nên vô
cùng phổ biến và là ngôn ngữ thứ hai của rất nhiều quốc gia trên thế giới nói chung,
ở Việt Nam nói riêng. Do đó, có thể khẳng định rằng việc dạy và học môn tiếng Anh
chiếm vị trí rất quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo ở nước ta. Bên cạnh việc
học Tiếng Anh ở trường thì nhu cầu học thêm của người dân nói chung, của sinh viên

có khả năng giao tiếp thành thạo với người nước ngoài thì còn đa số sinh viên chưa nắm
được kiến thức cơ bản lẫn chuyên ngành hoặc nắm khá vững kiến thức nhưng lại không
giao tiếp được.
Một số nguyên nhân có thể kể đến là:
+ Hầu hết sinh viên đến từ những vùng quê thì trình độ tiếng Anh khá kém. Sinh
viên mất nhiều kiến thức về từ vựng, ngữ pháp và kể cả “mất gốc” môn tiếng Anh ngay
từ khi còn học THPT.
+Học Tiếng Anh ở phổ thông mang nặng tinh chất đối phó, động cơ học tập
không cao vì vậy sinh viên quên rất nhanh những gì đã học. Khi băt đầu học lại Tiếng
3
Anh theo chuẩn TOEIC, đại đa số SV trong lớp cảm thấy như học lại từ đầu .
+ Sinh viên đã học tiếng Anh 3 hoặc 7 năm ở phổ thông nhưng thực chất trình độ
nghe của SV chỉ bắt đầu bằng con số 0 khi theo chuẩn TOEIC vì SV không được học
môn nghe ở phổ thông. Đề thi TOEIC luôn đòi hỏi người học phải có kỹ năng đọc
nhanh vì thế sinh viên hoàn toàn bắt đầu bằng con số 0 khi thi đọc hiểu theo chuẩn
TOEIC.
Trường Đại học Ngân Hàng TP HCM là một trường đại học đa ngành, nhưng
chuyên ngành về kinh tế, đặc biệt ngành tài chính-ngân hàng là ngành mũi nhọn của
trường. Hằng năm trường tuyển hơn 2000 sinh viên gồm bậc đại học và cao đẳng.
Trường Đại học Ngân Hàng TP HCM được đánh giá là có vai trò quan trọng trong việc
đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng cho khu vực phía Nam và cả
nước. Bên cạnh việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn tốt thì trường cũng
rất chú trọng trong việc nâng cao trình độ tiếng Anh của sinh viên. Để nâng cao trình độ
tiếng Anh cho học sinh, sinh viên, trường đã áp dụng TOEIC làm chuẩn tiếng Anh đầu
ra; giúp các em trang bị một công cụ làm việc hiệu quả để hội nhập với môi trường làm
việc chuyên nghiệp trong tương lai. Năm 2009, Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM đã ban
hành quyết định về chuẩn đầu ra tiếng Anh cho SV của trường. Theo đó, để tốt nghiệp,
SV phải đạt trình độ 550 TOEIC quốc tế. Tuy nhiên, thực tế triển khai thì không theo
quyết định này mà thực hiện tăng dần theo lộ trình. Cụ thể, với khóa 23 (tức khóa tốt
nghiệp năm 2011), chuẩn này là 500 điểm; khóa 24 sẽ nâng lên 525 điểm; khóa 25 đến

phát triển của đất nước.
5
Nói chung, không những vì biết ngoại ngữ là yêu cầu tất yếu của lao động có kỹ
thuật cao nhằm đáp ứng các quy trình công nghệ thường xuyên được đổi mới, mà biết
ngoại ngữ còn là một năng lực cần thiết đối với người Việt Nam hiện đại. Nắm bắt xu thế
này, hầu hết các trường đại học đều yêu cầu sinh viên khi ra trường bắt buộc phải có một
trình độ Tiếng Anh tối thiểu nào đó bên cạnh kiến thức về chuyên nghành đào tạo. Có
như vậy thì nguồn nhân lực Việt Nam mới có thể tiến xa hơn trong nền kinh tế hội nhập
như hiện nay.
Có một nghịch lý là Việt Nam ta có rất nhiều trường đại học, đào tạo các nghành
nghề rất đa dạng và phù hợp nhu cầu của hầu hết doanh nghiệp nội cũng như doanh
nghiệp nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam. Nhưng có rất ít sinh viên được nhận vào làm
tại các doanh nghiệp nước ngoài bởi lẽ sinh viên Việt Nam chưa chú trọng trình độ ngoại
ngữ một cách đúng đắn chủ yếu chỉ nhằm ứng phó, lấy điểm trung bình để “qua ải” tại
các kỳ thi hoặc của một số viên chức nhằm hợp thức hóa bằng cấp tại Việt Nam trong khi
doanh nghiệp nước ngoài họ rất cần điều đó.
Với mong muốn đưa đến một cái nhìn toàn diện hơn về việc tiếp cận ngoại ngữ,
trao dồi tiếng anh của sinh viên Việt Nam. Từ đó tạo cơ sở để các cơ sở đào tạo anh ngữ
có những chính sách tích cực để đào tạo, định hướng sinh viên phục vụ tốt hơn cho xã
hội; giúp các địa phương phần nào nắm bắt được nhu cầu của sinh viên nhằm xây dựng
một môi trường làm việc phù hợp hơn, góp phần nâng cao năng suất lao động, đóng góp
chung vào sự phát triển của đất nước, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “Các nhân
tố ảnh hưởng đến việc học Tiếng Anh và giải pháp” và thực hiện khảo sát tại trường
Đại học Ngân hàng Hồ Chí Minh.
3. Nền tảng nghiên cứu:
Dựa vào kiến thức môn kinh tế lượng và những bài luận nghiên cứu trước đó để làm nền
tảng cho bài tiểu luận này.
4. Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định và định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến khía cạnh trao đồi tiếng anh của sinh
6

thấy số lượng mẫu thu được cũng đảm bảo tính khách quan của quá trình điều tra nên
nhóm quyết định chọn số mẫu thu được mà không điều tra thêm và kết thúc quá trình
điều tra tại đây.
Dữ liệu thu thập từ bảng câu hỏi khảo sát được mã hóa và nhập liệu bằng phần
mềm phân tích dữ liệu SPSS để thuận lợi cho việc phân tích dữ liệu về sau.
7. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu
Ngày nay, mọi người trên khắp thế giới đang cố gắng tìm mọi cách để nâng cao
trình độ tiếng Anh của mình. Nhưng liệu bao nhiêu trong số những người ấy trả lời được
chính xác lý do vì sao họ cần phải học tiếng Anh? Cũng như mọi ngôn ngữ khác, việc
học tốt tiếng Anh đòi hỏi phải xuất phát từ một động lực rõ ràng. Nếu như bạn không biết
mình đang học tiếng Anh để làm gì thì những nỗ lực của bạn rồi sẽ dẫn bạn tới sự mất
phương hướng trong việc học tập, từ đó không tạo ra những hiệu quả tích cực.
Sự yêu thích có lẽ là động lực tốt nhất, mạnh nhất để bạn có thể đi xa với bất cứ
ngôn ngữ nào đó ngoài tiếng mẹ đẻ, đặc biệt là tiếng Anh. Tiếng Anh là một ngôn ngữ
đẹp, gắn liền với nhiều nét văn hóa đặc sắc từ những quốc gia sử dụng nó. Nếu bạn cảm
thấy mình thực sự yêu thích và đam mê tiếng Anh thì tôi tin chắc rằng bạn sẽ sớm thành
thạo ngôn ngữ này.
Phần đông mọi người hiện nay cho rằng học tiếng Anh là để cải thiện bản thân,
cải thiện cuộc sống của chính mình. Đó là một động lực hoàn toàn chính đáng của riêng
bạn. Rõ ràng rằng các nhà tuyển dụng sẽ muốn lựa chọn một ứng viên có khả năng tiếng
Anh tốt, thay vì một ứng viên không thể sử dụng hoặc sử dụng rất tệ ngoại ngữ này. Hoặc
giả như bạn muốn đi du học thì nhất thiết bạn phải học tiếng Anh để có thể theo được nội
dung chương trình đào tạo.

Tiếng Anh hiện nay đã trở thành thứ ngôn ngữ toàn cầu. Giữa hàng chục, hàng
trăm thứ ngôn ngữ khác nhau, thế giới đã lựa chọn tiếng Anh như phương tiện để mọi
người có thể hiểu được nhau. Theo số liệu từ Wikipedia, 53 quốc gia sử dụng tiếng Anh
8
làm ngôn ngữ chính thức. Các sự kiện quốc tế như Olympic, các tổ chức toàn cầu, các
công ty đa quốc gia… cũng đều coi tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp thông dụng. Để

thi đấu quốc tế đều được tiến hành bằng tiếng Anh, ví dụ như thế vận hội Olympics và
cuộc thi hoa hậu thế giới. Cũng vậy, các nhà ngoại giao và chính trị đến từ các nước khác
nhau đều sử dụng tiếng Anh để giao tiếp với nhau. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính trong
các tổ chức như: Liên Hợp Quốc, NATO, Hiệp hội Tự do Thương mại Châu Âu.
Tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhưng lại không thay thế các ngôn
ngữ khác, thay vào đó nó hỗ trợ các ngôn ngữ với các yếu tố sau:
• Hơn 250 triệu người Trung Quốc học tiếng Anh.
• Trong 80 nước, tiếng Anh là ngôn ngữ thông dụng thứ hai hay được phổ biến
trong việc học.
• Ở Hồng Kông, 9 trên 10 học sinh trung học đều được học tiếng Anh.
• Ở Pháp, để bắt đầu vào trung học các học sinh phải có ít nhất 4 năm hoc tiếng Anh
hay tiếng Đức; hầu hết 85% học sinh là chọn học tiếng Anh.
• Tại Nhật Bản, các học sinh trung học được đòi hỏi là phải có 6 năm học tiếng Anh
trước khi tốt nghiệp.
1.1. Trong các phương tiện truyền thông và giao thông
Tiếng Anh chiếm ưu thế trong giao thông vận tải và các phương tiện truyền thông.
Trong lĩnh vực du lịch và ngôn ngữ cộng đồng của hàng không quốc tế, tiếng Anh đóng
vai trò chính. Phi công, tiếp viên và kể cả các nhân viên kiểm soát đều nói tiếng Anh tại
các phi trường quốc tế. Năm trong số các đài phát thanh nổi tiếng là CBS, NBC, ABC,
BBC và CBC được 300 triệu người chọn ra là các đài phát thanh tiếng Anh phổ biến
nhất. Tiếng Anh cũng là ngôn ngữ phổ biến trên các chương trình TV thuộc truyền tải vệ
tinh.
1.2. Trong thời đại thông tin
Ngôn ngữ của thời đại thông tin là tiếng Anh. Hơn 80% nguồn dự trữ thông tin của
10
hơn 100 triệu máy tính khắp thế giới là tiếng Anh. 85% các cuộc trao đổi qua điện thoại
quốc tế được sử dụng bằng tiếng Anh, cũng như vậy số lượng mail, các cuộc điện báo và
truyền tín hiệu qua dây cáp. Chương trình chỉ dẫn trên máy tính và các chương trình phần
mềm thường được dùng bằng tiếng Anh.
Tiếng Đức đã là một ngôn ngữ của khoa học. Nhưng ngày nay, hơn 80% các bản

2.1. Tiếp cận tri thức
Các phương tiện thông tin ngày nay, như Internet, tivi, báo chí cung cấp những
nguồn tri thức vô hạn, vì chúng ta đang sống trong thời đại thông tin. Chỉ có một vấn đề
là hầu hết những thông tin này đều được viết bằng tiếng Anh. Dưới đây là một số ví dụ về
những gì chúng ta có thể sử dụng nếu biết tiếng Anh.
• Hầu hết các trang Web trên mạng. Có tới hơn 1 tỷ trang Web sử dụng tiếng Anh.
Thật kinh ngạc khi chỉ cần học một ngôn ngữ là có thể khai thác hầu hết kho tri thức ấy.
• Sách – về bất cứ lĩnh vực nào, từ khắp nơi trên thế giới, chúng ta có thể đọc sách
của các tác giả Anh hay Mỹ, và cả các cuốn sách được dịch từ ngôn ngữ khác. Bất cứ thể
loại sách nào chúng ta quan tâm, chúng ta đều có thể tìm đọc bằng ngôn ngữ tiếng Anh.
• Báo chí. Chỉ có báo và tạp chí tiếng Anh là có thể mua được ở khắp mọi nơi trên
thế giới. Vì vậy, không cần phải lùng sục tìm kiếm những tờ báo như Time (Thời đại),
Newsweek (Tuần tin), hay International Herald Tribune (Diễn đàn đưa tin quốc tế).
• Khoa học. Tiếng Anh là chìa khoá mở cánh cửa vào thế giới khoa học. Năm 1997,
95% các bài báo trong Danh mục Trích dẫn Khoa học (Science Citation Index) được viết
bằng tiếng Anh. Chỉ có khoảng 50% trong số đó đến từ các nước nói tiếng Anh như Anh
hay Mỹ (Theo garfiled).
• Bản tin. Xem mạng lưới truyền hình quốc tế như kênh CNN và BBC. Họ phát tin
tức nhanh chóng hơn, chuyên nghiệp hơn các mạng lưới truyền hình quốc gia khác. Và
chúng ta có thể xem các kênh này trên khắp thế giới.
2.2. Thúc đẩy sự nghiệp
Tiếng Anh có những lợi ích sau:
• Nếu có một vốn tiếng Anh tốt có thể nhận được việc làm mơ ước và kiếm được
nhiều tiền hơn.
12
• Mở rộng kiến thức chuyên môn. Tiếng Anh là ngôn ngữ của công nghệ, đặc biệt
những ngành công nghệ cao như khoa học máy tính, di truyền học, y học.
• Nghiên cứu khoa học máy tính. Đọc các bài báo chuyên môn kỹ thuật không mấy
khó khăn.
• Trở thành doanh nhân đẳng cấp quốc tế. Giao dịch quốc tế được tiến hành bằng

tế, chính trị, văn hóa, xã hội của các quốc gia và tác động đến đời sống hàng ngày của
mỗi con người. Toàn cầu hóa liệu có liên quan đến các bạn trẻ và sinh viên trong việc học
tiếng Anh? Câu chuyện toàn cầu hóa chắc chắn không còn xa lạ như bạn nghĩ. Quá trình
toàn cầu hóa đã giúp lực lượng lao động có trình độ tại các nước đang phát triển ngày
càng có thêm cơ hội cạnh tranh làm việc cho các tổ chức đa quốc gia, được trả lương hấp
dẫn. Để kết nối trong một thế giới phẳng, tiếng Anh nhanh chóng trở thành ngôn ngữ
chính của nhân loại kết nối trong quá trình toàn cầu hóa. Có hơn 400.000 người nói tiếng
Anh là tiếng mẹ đẻ; 1,4 tỷ người hiện đang sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai sau
tiếng mẹ đẻ và như vậy. 1/3 dân số thế giới đang cùng sử dụng một ngôn ngữ chung là
tiếng Anh để giao tiếp và làm việc.
Tiếng Anh, một trong những ngôn ngữ quốc tế quan trọng bậc nhất trên thế giới,
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể nói, Tiếng Anh là một công cụ không thể
thiếu trên con đường hội nhập và phát triển cùng với bạn bè năm châu, luôn đóng vai trò
là phương tiện giao tiếp giữa các quốc gia, là phương tiện đặc biệt hữu ích cho việc giao
tiếp, trao đổi trong lĩnh vực kinh tế - xã hội. giữa các nền văn hoá, giữa các công ty tổ
chức quốc tế và giữa các cộng đồng đặc biệt khi khoa học kĩ thuật đã và đang thu hẹp
khoảng cách giữa các quốc gia trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá.
Đất nước ta đang trên đà phát triển, vì vậy tiếng Anh là công cụ hỗ trợ đắc lực cho
chúng ta hội nhập, hợp tác, đặc biệt khi Viêt Nam đã gia nhập WTO thì vai trò tiếng Anh
càng trở nên cần thiết. Tuy nhiên, việc dạy và học kĩ năng nói tiếng Anh ở Việt Nam
chưa được đánh giá đúng mức.
Hiện nay, ngày càng có nhiều sinh viên định hướng vào các Tập đoàn đa quốc gia,
công ty nước ngoài, hay những tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam. Xu hướng lựa chọn
các tổ chức có yếu tố nước ngoài phần nào thể hiện tư duy mới của giới trẻ trong một bối
14
cảnh xã hội có nhiều thay đổi và câu chuyện toàn cầu hóa không còn của riêng ai. Một
công việc tốt, thu nhập cao, có cơ hội phát triển luôn là kỳ vọng của các sinh viên Việt
khi ra trường . Trên thực tế, giới trẻ và sinh viên Việt Nam đã nằm trong quỹ đạo của quá
trình toàn cầu hóa. Ý thức về việc nâng cao trình độ và kỹ năng Anh ngữ, kỹ năng mềm
của sinh viên đã ngày càng thay đổi. Tuy nhiên học tiếng Anh như thế nào để thành công

bền bỉ của các bạn nhất. Và tất nhiên nhiều bạn thiếu điều này nên không thể
follow nó được hết.
 Một vài bạn khác thì chỉ đọc được những quyển ngữ pháp cơ bản và nghĩ rằng nó
là đủ và dừng lại. Điều này là sai lầm bởi ngữ pháp tiếng anh rất rộng lớn, chúng
ta nên mua/ download trên mạng những tài liệu về ngữ pháp (từ cơ bản đến nâng
cao, học thành ngữ tiếng anh, cách dùng câu trong văn viết/ văn nói,…)
 Rất nhiều bạn học ngữ pháp không có hệ thống, không khoa học. Mình giả sử
việc học từ mới đi chẳng hạn. Nhiều bạn chỉ học bằng cách thấy một từ mới
trong sách rồi xem nghĩa của nó trong từ điển để hiểu nghĩa của nó. Hoặc là từ
“Many” chẳng hạn, nó có nghĩa là “nhiều” nhưng nhiều bạn chỉ tra từ này là
xong, như vậy sẽ không mở rộng được vốn từ, các bạn có thể sử dụng từ điển
Anh – Anh để có thể biết thêm các từ đồng nghĩa của nó để mình có thể đa dạng
hóa trong cách sử dụng, ví dụ như các từ “Heaps/Bunches of”, “Scores of”, “A
flood/mountain of”, … cũng có nghĩa là “nhiều/ rất nhiều” mà lại mang tính hình
ảnh rất hay,…
 Các bạn chưa có cách học hợp lý. Có nhiều cách học mà có thể nhiều người đã
biết đến rồi, mình chỉ muốn đề cập thêm một cách, đó chính là: Study group. Khi
học nhóm thì mọi người có thể sửa sai cho nhau, bổ sung kiến thức cho nhau rất
hiệu quả mà lại nhớ lâu. Tuy nhiên một nhóm thì không nên quá nhiều người đâu
(chỉ tầm 3 – 4 bạn thôi) vì có một idiom là: “Two heads are better than one” mà.
Rất nhiều bạn học một mình với lý do là để tập trung. Điều này đúng trong
trường hợp học các môn khác chứ không phải tiếng anh vì Tiếng Anh bản chất
của nó là một ngôn ngữ, mang tính giao tiếp vì thế khi học mà có sự giao tiếp
thực hành thì còn gì bằng!
16
4.2. Nguyên nhân gây khó khăn trong việc nghe tiếng Anh:
 Bạn cố gắng nghe tất cả các từ: Sở dĩ bạn có thể nói chuyện với bạn bè trong một
không gian ồn ào là do bạn có khả năng hiểu được ý người nói dù cho bạn không
thể nghe được tất cả các từ. Vậy tại sao bạn lại không cố gắng sử dụng khả năng
này trong tiến Anh? Bạn hãy tìm xem nhưng từ nào lá quan trọng nhất cần phải

băng đĩa có chất lượng, sau đó chọn một nơi thật yên tĩnh để bắt đầu bài nghe của
mình. Khi trình độ nghe của bạn đã khá hơn, hãy thử nghe những bài nghe “ồn
ào” hơn ví dụ như các bài hội thọai trong các bữa tiệc chẳn hạn.
 Bạn không thể nghe được khi không có hình ảnh trước mắt: Bạn có thể gặp khó
khăn khi nghe mà không thấy hình ảnh của người nói. Việc xem qua một vài vức
tranh nhỏ trong bài nghe có thể giúp bạn ít nhiều đoán được nội dung mình sắp
nghe.
 Bạn không phân biệt được các giọng nói khác nhau: Bạn thật sự gặp rắc rối nếu
như không thể phân biệt giọng nói của nhiều người trong cùng một cuộc hội
thoại. Hãy tập nghe những đoạn hội thoại giữa 1 người đàn ông và 1 phụ nữ
trước. Bạn cũng có thể nghe đoạn hội thoại giữa một nhóm người và thử đếm
xem mỗi người nói bao nhiêu lần.
18
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU
1 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu
1.1 Giới thiệu chung về thành phố Hồ Chí Minh:
Thành phố Hồ Chí Minh luôn được biết đến là một trung tâm kinh tế, tài chính,
thương mại, dịch vụ của cả nước; là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một
trong ba vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất nước, là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất
Việt Nam. Thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài
chính - tín dụng. Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng
doanh thu toàn quốc. Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 thành phố Hồ Chí
Minh có dân số 7.162.864 người, gồm 1.824.822 hộ dân trong đó: 1.509.930 hộ tại thành
thị và 314.892 hộ tại nông thôn, bình quân 3,93 người/hộ. Phân theo giới tính: Nam có
3.435.734 người chiếm 47,97%, nữ có 3.727.130 người chiếm 52,03%. Theo số liệu của
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, dân số thành phố vào giữa năm 2010 là
7.396.446 người, mật độ 3.531 người/km
2
. Cùng với xu thế hội nhập toàn cầu và giao lưu
văn hoá giữa các nước như hiện nay, sự gia tăng về nhu cầu học ngoại ngữ là điều không

+Cao đẳng chính quy
+ Liên thông đại học
+ Đại học văn bằng 2
+ Đại học tại chức
- Các bậc đào tạo
+ Cao đẳng
+ Đại học
+ Cao học
+ Tiến sĩ
 Ban giám hiệu
- Hiệu trưởng kiêm bí thư Đảng ủy: NGND, PGS, TS. Ngô Hướng
- Phó hiệu trưởng:
NGƯT, TS. Hồ Diệu
NGƯT, PGS, TS. Nguyễn Thị Nhung
THS. Lê Tấn Phát
PGS, TS, Lý Hoàng Ánh
Sơ đồ tổ chức: trường Đại học Ngân hàng hiện có 11 khoa, 16 phòng, ban, viện, tạp
chí, trung tâm, trạm.
 Các cơ sở chính của trường
- Trụ sở chính của trường: 36 Tôn Thất Đạm Quận 1
- Cơ sở 39 Hàm Nghi Quận 1
- Cơ sở số 56 hoàng Diệu 2 Quận Thủ Đức
1.3Giới thiệu về Cơ sở số 56 hoàng Diệu 2 Quận Thủ Đức
Giảng đường: 3 khu giảng đường( A, B, C)với số phòng học đầy đủ, bảng trắng,
20
máy đèn chiếu (projector) với đầy đủ các điều kiện học tập và tổ chức hội thảo.
Một hội trường 900 chỗ khang trang, hiện đại tại
Thư viện với 150 chổ dành cho giảng viên, sinh viên, học viên nghiên cứu với hơn
40.000 bản sách các loại. Trong đó có sách, báo, tạp chí tiếng Anh, Hoa, Nhật về kinh tế,
tài chính, ngân hàng… của các nhà xuất bản quốc tế. Một hệ thống gần 150 máy tính

khóa tốt nghiệp năm 2011), chuẩn này là 500 điểm; khóa 24 sẽ nâng lên 525 điểm; khóa
25 đến khóa 27 sẽ giữ nguyên mức 530. Tiến sĩ Phan Ngọc Minh - Trưởng phòng Đào
tạo, cho biết: “Dù đưa ra mức chuẩn là 550 TOEIC, tuy nhiên do thực tế trình độ đầu vào
tiếng Anh của SV nên nhà trường phải triển khai theo lộ trình tăng dần, cho đến khi nào
đáp ứng được thì mới triển khai theo chuẩn”.
2. Chọn mẫu nghiên cứu
2.1. Chọn mẫu:
2.1.1. Tổng thể
Tổng thể của đề tài này là toàn bộ sinh viên hệ chính quy của trường Đại học Ngân
Hàng TP HCM.
2.1.2. Phương pháp chọn mẫu
Đề tài nghiên cứu dùng kĩ thuật lấy mẫu phi xác suất với hình thức lấy mẫu thuận
tiện để thu thập số liệu điều tra bởi các lý do sau: Thứ nhất, đề tài nghiên cứu này mang
tính khám phá nên phương pháp chọn mẫu phi xác suất với hình thức lấy mẫu thuận tiện
tỏ ra phù hợp nhất. Thứ hai, đối với sinh viên thì thời gian và chi phí là hai vấn đề cần
cân nhắc khi tiến hành điều tra, do đó đề tài chọn phương pháp lấy mẫu này để không
không mất nhiều thời gian và chi phí dành cho việc lấy mẫu nghiên cứu. Thứ ba, phương
pháp lấy mẫu này giúp người nghiên cứu dễ dàng tiếp cận được đối tượng điều tra hơn so
với các phương pháp lấy mẫu khác. Tuy nhiên cách chọn mẫu này có mặt hạn chế là kết
quả nghiên cứu không thể đại diện và suy rộng ra cho tổng thể nghiên cứu một cách
chính xác được.
2.1.3. Kích thước mẫu
Về mặt lí thuyết thì khi kích cỡ mẫu càng lớn thì kết quả của nghiên cứu càng
22
đáng tin cậy. Tuy nhiên, do đề tài nghiên cứu dùng phương pháp lấy mẫu thuận tiện phi
xác suất nên kích thước mẫu cũng thường được quyết định một cách chủ quan và kích
thước mẫu phụ thuộc chủ yếu vào những giới hạn về thời gian và tài chính để thực hiện
cuộc khảo sát. Đối với đề tài nghiên cứu này, kích thước mẫu dự kiến ban đầu là 200
mẫu. Nhưng do trong quá trình điều tra xảy ra các sai sót dẫn đến thất lạc, một số mẫu thì
thông tin không đầy đủ nên kết quả sau khi khảo sát là 175 mẫu.

tinh
Giai doan
tiep xuc
tieng anh
N Valid 174 175
Missin
g
1 0
Gioi tinh
Frequenc
y Percent
Valid
Percent
Cumulative
Percent
Valid Nu 115 65.7 66.1 66.1
Nam 59 33.7 33.9 100.0
Total 174 99.4 100.0
Missin
g
System 1 .6
Total 175 100.0
24
Giai doan tiep xuc tieng anh
Frequen
cy Percent
Valid
Percent
Cumul
ative


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status