Nghiên cứu thực nghiệm “khả năng chịu đựng nợ”. Ứng dụng xác định tỷ lệ nợ mục tiêu cho Việt Nam - Pdf 12

i

TÓM TẮT ĐỀ TÀI
o Lý do chọn đề tài:
Trong những thập niên gần đây, vấn đề nợ công đã trở thành đề tài nóng
bỏng được nhắc đến nhiều nhất ở hầu hết các quốc gia trên thế giới vì nó là một
hiện tượng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nền kinh tế. Nhiều nền kinh tế
mới nổi phải dựa vào nguồn vốn nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cng
như ta
̀
i trơ
̣
thâm hu
̣
t ta
̀
i khoa
̉
n va
̃
ng lai va
̀

̣
i chi ngân sa
́
ch nha
̀
nươ
́
c. Điều đó đã

ước lượng này được thực hiện bởi Windmeijer (2005). Chúng tôi thực hiện các
ước lượng GMM bằng phần mềm Stata dựa trên hướng dẫn của Roodman
(2009).
Dữ liệu: Dữ liệu của chúng tôi là các dữ liệu về IIR (Một đánh giá tín dụng
quốc gia được xuất bản định kỳ sáu tháng một lần bởi Institutional Investor, cung
cấp mức đánh giá cho mỗi quốc gia từ 0 – 100 với 100 điểm cho những quốc gia
có ít rủi ro vỡ nợ nhất), tổng nợ chính phủ, lạm phát, GDP đầu người, tỷ lệ dự trữ
trên nhập khẩu, cán cân tài khoản vãng lai và lịch sử vỡ nợ của 164 nước, bao
gồm cả: các nước đang phát triển và các nước phát triển, từ năm 2003 đến 2011,
một dữ liệu bảng không cân đối (unbalanced panel). Các số liệu được sử dụng
trong bài nghiên cứu của chúng tôi đều được thu thập từ cơ sở dữ liệu của IMF,
WorldBank và các nguồn dữ liệu khác.
o Nội dung nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu của chúng tôi sẽ bao gồm các phần sau:
1. Hiệu chỉnh hướng tiếp cận “khả năng chịu đựng nợ” truyền thống được đưa
ra lần đầu tiên bởi Reihart, Rogoff và Savastano (2003).
2. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa IIR và tỷ lệ nợ.
3. Ước lượng phương trình “khả năng chịu đựng nợ” dựa theo phương pháp
GMM
4. Tính toán mức IIR mục tiêu cho Việt Nam dựa trên xếp hạng tín dụng của
các công ty xếp hạng lớn, từ đó đưa ra mức nợ mục tiêu cho Việt Nam.
o Đóng góp của đề tài:
Đề tài đã áp dụng khuôn khổ lý thuyết “khả năng chịu đựng nợ” đối với Việt
Nam và thực hiện với một vài nước khác trong khu vực để so sánh. Bài nghiên
iii
cứu này cho thấy rằng mức xếp hạng của Việt Nam đang ở nhóm không khuyến
nghị đầu tư, do đó đưa ra mức xếp hạng mục tiêu cho Việt Nam là mức xếp hạng

2.3.1 “Khả năng chịu đựng nợ” và chuỗi vỡ nợ trong lịch sử 12
2.3.2 Ngưỡng nợ 14
2.3.3 Các thành phần đo lường “khả năng chịu đựng nợ” 18
2.3.4 Nhóm và khu vực có cùng “khả năng chịu đựng nợ” 22
2.3.5 Những yếu tố lịch sử của rủi ro quốc gia 24
2.3.6 Ngưỡng nợ cụ thể của đất nước 26
2.3.7 Xếp hạng “khả năng chịu đựng nợ” trong nhóm B 27
3. Phương pháp nghiên cứu: 29
4. Nội dung và kết quả nghiên cứu: 31
4.1 Hiệu chỉnh hướng tiếp cận “khả năng chịu đựng nợ” truyền thống: 31
4.2 Mối quan hệ giữa IIR và tỷ lệ nợ 33
4.3 Phương trình “khả năng chịu đựng nợ” 34
v
4.3.1 Các biến trong phương trình “khả năng chịu đựng nợ” 34
4.3.2 Phương trình ước lượng 37
4.3.3 Phương pháp ước lượng 38
4.3.4 Kết quả ước lượng 38
4.4 Áp dụng với Việt Nam 41
5. Kết luận 48
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Phụ lục A. Dữ liệu: Định nghĩa và nguồn dữ liệu 53
Phụ lục B. Các nước trong mẫu và IIR trung bình: 1979 – 2002 54
Phụ lục C. Nhóm và khu vực “khả năng chịu đựng nợ” 1979 - 2002 55
vi

The Organization for Economic
Cooperation and Development
GNP
Tổng sản phẩm quốc dân

Gross National Product
EMBI

Chỉ số trái phiếu thị trường
mới nổi
Emerging Market Bond Index
WEO
Viễn cảnh kinh tế thế giới
The World Economic Outlook

CGDP
Tổng sản phẩm quốc nội bình
quân đầu người
Gross Domestic Product per capita
CAB
Cán cân tài khoản vãng lai
The current account balance
OLS
Phương pháp bình phương nhỏ
nhất
Ordinary least squares
vii

2000 19
Hình 2.4 Định nghĩa các nhóm và khu vực 23
Hình 4.1 Mối quan hệ giữa IIR và tỷ lệ nợ 33
Hình 4.2 Đường đi của IIR cho Việt Nam và Thái Lan 41
Hình 4.3 IIR và tỷ lệ nợ mục tiêu: Việt Nam, Thái Lan 44
1
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM “KHẢ NĂNG CHỊU ĐỰNG NỢ”
ỨNG DỤNG XÁC ĐỊNH TỶ LỆ NỢ MỤC TIÊU CHO VIỆT NAM

Tóm tắt
Bài nghiên cứu của chúng tôi trình bày một phương pháp để tính toán tỷ lệ nợ mục
tiêu cho Việt Nam và một số quốc gia khác trong khu vực, bằng cách sử dụng
khuôn khổ lý thuyết “khả năng chịu đựng nợ” của Reinhart, Rogoff và Savastano
(2003). Phương pháp này của chúng tôi cải thiện nghiên cứu trước đây bằng cách
tiếp cận với dữ liệu mảng “động”, hiệu chỉnh vấn đề nội sinh của các biến hồi quy,
và tính toán tỷ lệ nợ mục tiêu dựa trên xếp hạng tín dụng của các tổ chức xếp hạng
lớn như là một tiêu chí để đánh giá khách quan hơn. Ngoài ra, bài nghiên cứu này
sử dụng dữ liệu tổng nợ chính phủ (cả nợ nước ngoài và nợ trong nước) cho 164
quốc gia trong suốt giai đoạn từ 2003 đến 2011. Chúng tôi thực hiện tính toán tỷ lệ
nợ mục tiêu cho Việt Nam và một số nước trong khu vực dựa trên IIR mục tiêu,
đồng thời cng trình bày một bảng xếp hạng cho một vài quốc gia dựa theo mức độ
của “khả năng chịu đựng nợ” – một chỉ số có thể được dùng để đánh giá mức an
toàn của nợ.
2

Savastano (2003) đưa ra sử dụng xếp hạng của Institutional Investor (IIR), một sự
đánh giá được tổng hợp hai lần trong một năm bởi tạp chí Institutional Investor dựa
3 trên những khảo sát của các nhà đầu tư tổ chức, các nhà kinh tế. Họ hồi quy IIR
theo một vài chỉ số bao gồm tỷ lệ nợ, lịch sử của lạm phát và vỡ nợ, để tìm ra tác
động biên của việc tăng thêm một đơn vị nợ lên IIR và do đó sẽ tác động lên “khả
năng chịu đựng nợ”. Sử dụng kết quả của phương trình “khả năng chịu đựng nợ” có
thể tính được tỷ lệ nợ phù hợp với một mức IIR được đưa ra dựa trên lịch sử lạm
phát và vỡ nợ của một quốc gia. Một số nghiên cứu, ví dụ như của Di Bella (2008),
Everaert (2008), Topalova và Nyberg (2009) và Geoffrey J. Bannister, Luis-Diego
Barrot (2011) đã sử dụng phương pháp này để tính toán tỷ lệ nợ mục tiêu cho các
nước khác nhau như Cộng hòa Domica, Keyna, Ấn Độ, Trung Mỹ và Panama.
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi vẫn tiếp tục đi theo phương pháp chung nhưng
có một số sửa đổi đối với phương pháp trước đó.
 Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng một bảng dữ liệu mảng “động”, chứ
không phải là một ước lượng cắt ngang (cross – section estimation) “tỉnh”
được sử dụng trong Reihart, Rogoff và Savastano (2003) và các nghiên cứu
trước. Chúng tôi cng sử dụng một dữ liệu hằng năm thay vì sử dụng dữ liệu
trung bình nhiều năm, như được thực hiện trong nghiên cứu Reihart, Rogoff
và Savastano (2003). Đồng thời nghiên cứu của chúng tôi cng bổ sung thêm
một vài biến số mới để nắm bắt chính xác hơn những thay đổi trong IIR.
 Chúng tôi sử dụng mô hình ước lượng Generalized Method of Moments
(GMM) trong khuôn khổ dữ liệu mảng “động”, nhằm hiệu chỉnh vấn đề nội
sinh của các biến độc lập, và đưa vào tác động cố định cụ thể mỗi quốc gia.
Các hiệu ứng cố định có thể nắm bắt tất cả các đặc điểm cụ thể của từng
quốc gia nhưng không thay đổi theo thời gian.
 Thay vì phân chia mẫu thành các nhóm ngang hàng dựa trên trung bình và độ
lệch chuẩn của IIR, phương pháp của chúng tôi ước lượng một phương trình

một trong những chủ đề thảo luận rộng nhất hiện nay trong các nền kinh tế. Trong
những thập kỷ gần đây, nhiều nước đã tích ly số lượng lớn nợ công, điều này
thường xảy ra ở các nước có khu vực công đang phát triển và chính sách tài khóa
thiển cận.
Mặc dù tính bền vững của tài chính công đã được thảo luận trong hơn một thế kỷ
qua, nó vẫn là một khái niệm mơ hồ. Một cách trực giác, một chính sách bền vững
5 là phải làm được như vậy để cuối cùng ngăn chặn sự phá sản, tuy nhiên không có sự
thống nhất về định nghĩa chính xác cái gì tạo thành tính bền vững của nợ. Nhiều tài
liệu đã đưa ra một vài phương pháp để định nghĩa và đánh giá tính bền vững của nợ,
các phương pháp này khác nhau cả về tầm nhìn (ngắn hạn, trung hạn và dài dạn) và
việc lựa chọn các biến. Trong ít nhất hai thập kỷ qua, có hai cách tiếp cận chung
cho khái niệm tính bền vững của nợ công như sau: Một cách cho rằng khi mức lãi
suất mà một chính phủ đi vay không thể lớn hơn tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế,
vì vậy tỷ số nợ trên GDP không tăng, và khi đó nợ không bền vững không diễn ra
(nghĩa là nợ luôn bền vững). Cách tiếp cận khác cho rằng nếu có một giới hạn đối
với giá trị hiện tại của các khoản vay mượn, thì điều này có thể hạn chế lượng vay
mượn, do đó đây sẽ là tiêu chí chính để đạt được tính bền vững.
Tính bền vững của nợ nhằm trả lời một câu hỏi tưởng chừng đơn giản: Khi nào nợ
của một quốc gia trở nên quá lớn đến nỗi không thể trả được? Quỹ tiền tệ Quốc tế
IMF định nghĩa một khoản nợ là bền vững nếu nó đáp ứng điều kiện khả năng thanh
toán mà không có một sự điều chỉnh lớn và không tạo ra các chi phí tài chính trong
tương lai (IMF, 2002). Khả năng thanh toán, đến lượt nó cần phải được định nghĩa.
Khả năng thanh toán nợ đạt được khi mức thặng dư chủ yếu trong tương lai đủ lớn
để trả nợ gốc và lãi. Một cách chính xác hơn, khả năng thanh toán yêu cầu các
khoản nợ hiện tại cộng với giá trị chiết khấu về hiện tại của tất cả các khoản chi tiêu
không được vượt quá giá trị chiết khấu về hiện tại của tất cả các khoản thu. Khả
năng thanh toán được định nghĩa rõ ràng và từ lâu đã được chính thức hóa, tuy

sẽ có những tác động xấu đến phân phối của cải và những ưu đãi, và đầu tư công
“chèn lấn” đầu tư tư nhân. Aiyagari et al. (2002), Aiyagari và McGrattan (1998),
thảo luận vai trò của nợ công như một khả năng trả nợ cá nhân. Họ giả sử rằng trái
phiếu chính phủ được phân bổ đều giữa các hộ gia đình, người nắm giữ trái phiếu
có thể sử dụng trái phiếu đó làm tài sản thế chấp. Một mức nợ cao hơn do đó có thể
làm giãn giới hạn vay mượn của họ. Saint Paul (2005) nêu ra các lợi ích bổ sung
của các thị trường nợ chính phủ cho các thị trường tài chính hiệu quả, bao gồm cả
những đổi mới tài chính (financial innovation) và khả năng sử dụng nợ công như
một tài sản thế chấp cho khu vực tư nhân vay mượn. Aiyagari và McGrattan (1998),
hiệu chỉnh mô hình của họ đối với Mỹ và tính toán tỷ lệ nợ tối ưu ở mức 66% GDP;
Weh-Sol (2010) sử dụng cùng một mô hình để tính toán một tỷ lệ nợ tối ưu cho Hàn
Quốc 62% GDP. Rất ít các mô hình này được thực hiện theo thực nghiệm, hầu hết
đều đưa ra mức nợ dựa trên những giả định.
2.2.2 Nợ mục tiêu trong thực tiễn
Các dự đoán lý thuyết về ngưỡng nợ công tối ưu đang còn thiếu sự rõ ràng, cho nên
một mức nợ công cao vẫn là mối quan tâm cho cả các nước đang phát triển và các
nước phát triển. Hiện nay, mức trần nợ mục tiêu đã được nhiều quốc gia thông qua
trong bộ luật của mình, đồng thời các hiệp định của các khu vực hội nhập cng đã
áp dụng trần nợ như là tiêu chuẩn để tham gia. Giảm nợ thường được thúc đẩy bởi
nhận thức cao về nhu cầu chi tiêu trong tương lai, mong muốn cân bằng qua các thế
hệ, giảm sự “chèn lấn” đầu tư tư nhân, và chung hơn là cung cấp một không gian
lớn hơn trong tương lai để chống lại những cú sốc lớn và hấp thụ các khoản nợ bất
ngờ mà không đe dọa tính bền vững của nợ. Kiểm tra bằng chứng thực nghiệm về
những tác động của các mức nợ khác nhau lên khả năng đạt được những mục tiêu
này sẽ có thể cung cấp những chỉ dẫn về mức nợ công thích hợp.
Đảm bảo tính bền vững của chính sách tài khóa: Không có bất kỳ quy tắc đơn giản
nào để xác định nợ công là bền vững hay không. Một phương pháp thường được sử
dụng để xem xét chính sách tài khóa có bền vững hay không là xem sự ổn định của
tỷ lệ nợ công trên GPD (ví dụ, xem Blanchard et al (1990)). Một cách tiếp cận khác,
8

khẳng định lại phát hiện này bằng các tài liệu chứng minh rằng sự hiệu quả của
chính sách tài khóa trong việc kích thích tổng cầu trong giai đoạn suy thoái kinh tế
9 là tỉ lệ nghịch với mức độ nợ công: tác động của chi tiêu công lên khả năng hồi
phục kinh tế trở nên tiêu cực khi mức nợ vượt quá 60% so với GDP.
Hạn chế tác động từ cuộc khủng hoảng: khủng hoảng tính thanh khoản và sự vỡ nợ
đã xảy ra ở nhiều mức nợ công khác nhau. Nhiều nghiên cứu đã cố gắng kiểm tra
những mức độ nợ nước ngoài nào ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng bằng cách
tăng mức ý nghĩa xác xuất xảy ra khủng hoảng. Trong một mẫu của các nước đang
phát triển, Pattillo (2002) phát hiện ra rằng tại mức 35-40% GDP tác động của nợ
nước ngoài lên tăng trưởng trở nên tiêu cực – nguyên nhân chính là do giảm hiệu
quả đầu tư. Cohen (1997) tìm thấy điểm nợ cao hơn: với mức nợ khoảng 50% GDP,
khả năng gia hạn nợ tăng lên đáng kể. Ngưỡng nợ được ước tính tương tự trong
nghiên cứu của Manasse, Roubini và Schimmelpfennig (2003) – các tác giả này đã
ước tính một ngưỡng nợ là 50% so với GDP. Những bài nghiên cứu này đưa ra ý
tưởng về mức nợ trung bình mà tại đó tình trạng dễ bị tổn thương tăng lên.
Tối ưu hóa tố độ tăng trưởng bằng cách giảm nguy cơ “chèn lấn”: Một mức nợ
mục tiêu cng có thể được thiết lập với góc nhìn nhằm tối ưu hóa tốc độ tăng trưởng
theo giả định rằng cân bằng Ricardian là không tồn tại và tại mức nợ cao đầu tư
công sẽ “chèn lấn” đầu tư tư nhân. Mức nợ cao cng có thể dẫn đến gánh nặng thuế
kỳ vọng trong tương lai cao hơn, điều này sẽ làm giảm lợi nhuận sau thuế kỳ vọng
của nhà đầu tư, do đó làm giảm đầu tư và tăng trưởng (Krugman 1998 và Agenor và
Montiel 1996). Ngoài ra, mức độ nợ cao có thể cản trở khả năng nới lỏng các chính
sách khi thích hợp, kết quả là tăng trưởng thấp. Ví dụ, Smyth (1995) đã ước tính tỉ
lệ nợ làm tối đa hóa tốc độ tăng trưởng của Mỹ là khoảng 40% GDP. Mati (2005)
ước tính tỷ lệ nợ trên 38% GDP sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng của Indonesia.
Reinhart và Rogoff (2010), với một mẫu của 44 quốc gia qua 200 năm, chỉ ra rằng
mối quan hệ giữa tăng trưởng và nợ dường như là yếu tại mức nợ dưới 90% GDP,

Rogoff (2008), cho phép các nhà nghiên cứu xem xét lại nợ công ảnh hưởng như
thế nào đến khả năng đạt được các mục tiêu của họ.
Ngưỡng nợ
(% của GDP)
Tác giả
Phương pháp tiếp cận
Phạm vi quốc gia
25
IMF (2003)
Đảm bảo tính bền vững của chính
sách tài khóa (lịch sử thặng dư cơ
bản)
Thị trường mới nổi
Bảng 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về ngưỡng nợ
11 2.3 Cách tiếp cận ban đầu về “Khả năng chịu đựng nợ”
Khái niệm “khả năng chịu đựng nợ” (Debt Intolerance) lần đầu tiên được giới thiệu
bởi Reihart, Rogoff và Savastano (2003) để nắm bắt thực tế là nhiều nền kinh tế
mới nổi gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường vốn, thậm chí ở mức nợ nước
ngoài thấp, trong khi các nước khác có mức nợ được đánh giá khá cao vẫn dễ dàng
tiếp cận nguồn tín dụng. Reinhart, Rogoff và Savastano (2003) đã đã bắt đầu từ
những quan sát thực nghiệm và nhận thấy một số quốc gia dường như là không chịu
đựng được nợ (tức là dễ vi phạm nghĩa vụ trả nợ liên tiếp) thậm chí ở mức nợ nước
ngoài trên GDP tương đối thấp – một hội chứng mà họ gọi là không có “khả năng
25
IMF (2008, 2009)
Chính sách tài khóa phản chu kỳ
Thị trường mới nổi

64
Caner et al. (2010)
Uớc lượng bình phương nhỏ nhất
ngưỡng
Các nước đang
phát triển
77
Caner et al. (2010)
Uớc lượng bình phương nhỏ nhất
ngưỡng
Các nước công
nghiệp
90
Reinhart and Rogoff
(2010)
Biểu đồ liên quan nợ đối với phát
triển
Các nước công
nghiệp
90
Reinhart and Rogoff
(2010)
Biểu đồ liên quan nợ đối với phát
triển
Thị trường mới nổi
90
Kumar and Woo
(2010)
Phương trình tốc độ tăng trưởng
Tất cả các nước

hút nhiều sự chú ý trong thời gian gần đây, đã vỡ nợ nước ngoài sáu lần trong vòng
200 năm qua. Cng trong khoảng thời gian đó, Tây Ban Nha đã vỡ nợ sáu lần và Bồ
Đào Nha vỡ nợ năm lần. Nhưng vấn đề không chỉ bị giới hạn ở các nước Châu Âu,
mà còn ở nhiều nước khác như Mỹ Latin, ví dụ, Brazil, một tâm điểm của sự chú ý
sau này, đã vỡ nợ chín lần trong 200 năm qua. Tuy nhiên, ở một mặt khác, một vài
nước đã tránh được vỡ nợ trong những thập kỷ qua. Ấn Độ, Hàn Quốc, Malaysia,
Singapore, và Thái Lan là những thành viên danh dự này.
Sự tương phản giữa lịch sử của các nước có lịch sử vỡ nợ và các nước có lịch sử
không vỡ nợ tóm tắt trong bảng 2.2. Trong giai đoạn từ năm 1824 đến năm 2001,
các khoản nợ của Brazil và Argentina hoặc là vỡ nợ hoặc là trải qua tái cấu trúc nợ
13 một phần tư thời gian, Venezuela và Colombia gần 40% thời gian, và Mexico gần
như một nữa thời gian kể từ khi nó độc lập. Trung bình, chuỗi những quốc gia vỡ
nợ có lạm phát hằng năm vượt quá 40% chiếm khoảng một phần tư thời gian.
Ngược lại, các nền kinh tế mới nổi trong bảng với lịch sử không có vỡ nợ nước
ngoài hoặc tái cấu trúc thì không có năm nào mà lạm phát vượt quá 40%. Bảng 2.2
cng bao gồm một mẫu các nước đã phát triển với lịch sử không vỡ nợ nước ngoài. Phần trăm của giai
đoạn 12 tháng với
lạm phát bằng hoặc
lớn hơn 40%
1958 - 2001*

Số quan sát
vỡ nợ hoặc
tái cấu trúc

25,6
7
39,9
Chile
18,6
3
23,3
17
66,1
Colombia
0,8
7
38,6
57
38,7
Ai Cập
0,0
2
12,5
17
45,5
Mexico
16,7
8
46,9
12
59,0
Philippines
2,1
1

0,0
0
0,0

57,7
Ấn Độ
0,0
0
0,0

47,3
Singapore
0,0
0
0,0

86,1
Thái Lan
0,0
0
0,0

51,9
Trung bình
0,0
0,0
0,0

61,7

Anh
0,0
0
0,0

94,1
Mỹ
0,0
0
0,0

93,1
Trung bình
0,0
0
0,0

89,2
* Giai đoạn bắt đầu: 1962:1 đối với Singapore; 1964:1 đối với Brazil; 1966:1 đối với Thái Lan; 1970:1 đối
với Thổ Nhĩ Kỳ; và 1971:1 đối với Hàn Quốc
** Theo tỷ lệ từ 0 đến 100, ở đây 100 cho biết xác suất thấp nhất của vỡ nợ trên nợ chính phủ.
Chú ý: biểu thị không được áp dụng.

55,1
447,3

2001
50,8
368,1
Bolivia
1980
92,5
246,4
Brazil
1983
50,1
393,6
Bảng 2.3 Tỷ lệ nợ nước ngoài ở các nước thu nhập trung bình khi xảy ra sự
kiện tín dụng bất lợi giai đoạn 1970 - 2008
15 Bulgaria
1990
57,1
154,0
Chile
1972
31,1
n.a.

1983
96,4

1981
61,5
182,8
Iran
1992
41,8
77,7
Jamaica
1978
48,5
103,9
Jordan
1989
179,5
234,2
Mexico
1982
46,7
279,3
Morocco
1983
87,0
305,6
Panama
1983
88,1
162,0
Peru
1978
80,9

1978
21,0
374,2
Uruguay
1983
63,7
204,0
Venezuela
1982
41,4
159,8

1995
44,1
147,2
Trung bình

68,6
227,3
Chú ý: Ký hiệu n.a. cho thấy không có số liệu,
Nguồn: Reinhart, Rogoff (2009),
Reihart và Rogoff (2009) đã điều tra về ngưỡng nợ của các nền kinh tế thị trường
mới nổi có thu nhập trung bình trong suốt giai đoạn từ 1970 đến 2008. Bảng 2.3 liệt
kê mười ba nước chịu ít nhất một lần vỡ nợ hoặc tái cấu trúc trong giai đoạn này,
năm bắt đầu sự kiện tín dụng, và tỷ lệ nợ nước ngoài trên GNP và trên xuất khẩu tại
cuối năm đó. Rõ ràng từ bảng ta thấy vỡ nợ nước ngoài của Mexico năm 1982 và vỡ
16 nợ năm 2001 của Argentina không phải là ngoại lệ, còn nhiều nước khác cng phải


Phần trên của hình 2.2 cho thấy phân phối tần suất của tỷ lệ nợ nước ngoài trên
GDP, và phần dưới cho thấy phân phối tần suất của tỷ số nợ nước ngoài trên xuất
khẩu, cho hai nhóm nước với lịch sử có vỡ nợ và lịch sử không có vỡ nợ từ năm
1970 đến 2008. Từ sự khác biệt của hai phân phối này, Reinhart và Rogoff cho thấy
rằng các nước với lịch sử có vỡ nợ vay nhiều hơn so với các nước với lịch sử không
có vỡ nợ. Khi xem xét tỷ số nợ nước ngoài trên xuất khẩu thì sự chênh lệch tỷ số nợ
nước ngoài giữa các nước với lịch sử có vỡ nợ và các nước với lịch sử không có vỡ
nợ được mở rộng hơn. Dường như những nước có nguy cơ vỡ nợ cao nhất (đó là,
những nước có “khả năng chịu đựng nợ” bé nhất) khi họ cng vay mượn nhiều nhất.
Trong nghiên cứu của Reihart, Rogoff và Savastano (2003), các tác giả này đã đưa
ra ngưỡng nợ có thể bắt đầu làm tăng nguy cơ vỡ nợ đối với các nước có “khả năng
duy trì nợ” thấp là 35% GDP. Bảng 2.5 thể hiện phân phối tích ly của tỷ số nợ
nước ngoài trên GDP cho các nước với lịch sử có vỡ nợ và các nước với lịch sử
không có vỡ nợ giai đoạn 1970 - 2001. Hơn một nữa các nước với lịch sử tín dụng
lành mạnh có tỷ số nợ nước ngoài trên GDP thấp hơn 35% (và 47% có tỷ số nợ
nước ngoài thấp hơn 30%). Ngược lại, đối với những quốc gia có một lịch sử tín
dụng tương đối xấu, một ngưỡng tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP trên 40% là cần thiết
để nắm bắt phần lớn các quan sát. Nếu không tính đến các nhân tố cụ thể của bất kỳ

Trích đoạn Hiệu chỉnh hướng tiếp cận “khả năng chịu đựng nợ” truyền thống: Các biến trong phương trình “khả năng chịu đựng nợ” Phương trình ước lượng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status