Hàn Mac Tử và bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” - Pdf 12

Hàn Mac Tử và bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” I- Tác giả
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng
Hới, Quảng Bình. Hàn Mạc Tử,Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông.
Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm. Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu
ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này. Ông được Phan Bội Châu giới thiệu bài thơ Thức
khuya của mình lên một tờ báo. Sau này, ông được một suất học bổng đi Pháp nhưng
vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Ông quyết định vàoSài Gòn lập
nghiệp, năm ông 21 tuổi.
Đến Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận.
Khi ấy, Mộng Cầm ởPhan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu
trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình
yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người
[2]
.
Ít lâu sau, ông mắc bệnh phong - một căn bệnh nan y thời đó. Ông bỏ tất cả
quay về Quy Nhơn và mất khi mới 28 tuổi
[3]
.
Cuộc đời của ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ
khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông - có những người ông đã gặp,
có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng
Cúc, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện.
II-Tác phẩm
Các sáng tác của Hàn Mặc Tử, gồm có:
 Lệ Thanh thi tập (gồm toàn bộ các bài thơ Đường luật)
 Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản lúc tác giả chưa qua đời)
 Thơ Điên (hay Đau Thương, thơ)
 Xuân như ý

không ai có thể viết nổi. Tiếc là những câu thơ ấy lại nằm trong những bài thơ còn rất
nhiều xộc xệch "
(Nhà thơ Trần Đăng Khoa)
 " Theo tôi thơ đời Hàn Mặc Tử sẽ còn lại nhiều. Ông là người rất có
tài, đóng góp xứng đáng vào Thơ mới."
(Nhà thơ Huy Cận)
 " Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng " và "Vườn thơ Hàn rộng không
bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh "
(Nhà phê bình văn học Hoài Thanh
Một số bài thơ nổi tiếng
Nhiều bài thơ của Hàn Mặc Tử đã được phổ nhạc vì tính lãng mạn của nó. Sau
đây là một số bài được nhiều nhà phê bình đánh giá là hay và đã được đưa vào sách
giáo khoa bậc trung học.
Đây thôn Vỹ Dạ
Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên,
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Mùa xuân chín
Trong làn nắng ửng: khói m
ơ tan,
Đôi mái nhà tranh l
ấm tấm vàng.

ực nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc

D
ọc bờ sông trắng nắng chang chang?
III- Bài thơ “ Đây thôn Vĩ dạ”
Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ do Hàn Mặc Tử (1912-1940) sáng tác vào khoảng
năm 1938, in lần đầu trong tập Thơ Điên (Thơ Điên về sau đổi tên thành Đau thương).
Hiện nay, bài thơ này được nhiều người cho là "một kiệt tác của Hàn Mặc Tử
và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện đại."
[1]


// Hoàn cảnh sáng tác
Đây thôn Vĩ Dạ, lúc đầu có tên là Ở đây thôn Vĩ Dạ. Theo một số tài liệu, bài
thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở thôn Vĩ
Dạ.
[2]

GS. Nguyễn Đăng Mạnh cho biết: Hồi làm nhân viên ở sở đạc điền Quy Nhơn,
Hàn Mặc Tử có thầm yêu trộm nhớ đơn phương một cô gái người Huế tên là Hoàng
Thị Kim Cúc, con ông chủ sở. Một thời gian sau, nhà thơ vào Sài Gòn làm báo, khi
trở lại Quy Nhơn thì cô gái đã theo gia đình về Vĩ Dạ (Huế). Một buổi kia, cô Cúc do
sự gợi ý của một người em thúc bá, bạn của Hàn Mặc Tử, gửi vào cho nhà thơ một
tấm bưu ảnh chụp một phong cảnh sông nước có thuyền và bến, kèm theo mấy lời
thăm hỏi để an ủi nhà thơ lúc này đã mắc hiểm nghèo (bệnh phong).
Lời thăm hỏi không kí tên
[3]
, nhưng bức ảnh và những dòng chữ kia đã kích
thích Trí trí tưởng tượng, cảm hứng, và đã gợi dậy những gì thầm kín xa xưa của Hàn

[5]
.
 Đây thôn Vĩ Dạ đang đẹp đẽ là thế, trọn vẹn là thế, bỗng bị xé lẻ ra một
gió, một mây, một trăng, một thi nhân thả hồn ôm bóng một giai nhân để rồi cuối
cùng hoài nghi, hỏi người mà như tự vấn: “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Vậy chẳng
phải đó là một thế giới hài hòa và đẹp, nhưng cũng thật mong manh, được thụ cảm bởi
một nhà thơ mang trong mình một căn bệnh quái ác, giữa lúc tuổi còn quá trẻ, còn quá
tha thiết với cõi đời?
[8]

 Qua bài thơ trên, tên tuổi Hàn Mặc Tử gắn liền với thôn Vỹ, thôn Vỹ
gắn liền với Cố Đô, tất cả gắn liền làm một Hàn Mặc Tử tả "Huế đẹp, Huế thơ" qua
thôn Vỹ Dạ. Dưới ngòi bút của ông, Vỹ Dạ trở nên đẹp đẽ thơ mộng lạ thường Dưới
cái nhìn của Hàn Mặc Tử cảnh vật dù có tầm thường nhỏ bé đến đâu cũng trở nên có
hồn, sinh động, lớn lao mang sắc hương diệu kỳ như một phép lạ, đẹp và thơ mộng
đến nỗi ai cũng muốn về thăm một lần Đây Thôn Vỹ Dạ đầy ngập tình yêu, ánh sáng
và tiếng thầm, hay nói một cách khác, tình yêu ánh sáng và tiếng thầm đã phối hợp
với nhau để làm nên sự kỳ diệu cho Đây Thôn Vỹ Dạ cũng như cho toàn bộ tác phẩm
của Hàn Mặc Tử về mặt bút pháp
[9]
.
 Thơ Hàn Mặc Tử là một hiện tượng phức tạp, không dễ thống nhất trong
cách thẩm định và cắt nghĩa. Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ như vậy Nhìn tổng thể,
bài thơ có sự di chuyển tăng dần về phía cuối. Từ cõi thực chìm dần vào cõi mộng.
Ngay từ đầu, cảnh và người thôn Vĩ cùng hiện ra như một hình dung trong mơ ước;
đến khổ thứ hai đã tràn đầy mộng ảo, sang khổ thứ ba mộng toàn phần Vì là sản
phẩm của một trạng thái mơ, nên giữa các khổ thơ có vẻ “đầu ngô, mình sở”, không
tuân theo lô-gíc nào cả. Nó phi lô-gíc bề mặt, nó đồng hiện và đột hiện. Nhưng nó
có lô–gíc chiều sâu: tiếng của một tình yêu tuyệt vọng, thảng thốt và đau đớn
[10]

thân thuộc thôn Vĩ Giạ từ bao đời nay. Quên sao được màu xanh cây lá nơi đây. Nhà
thơ trầm trồ thốt lên khi đứng trước một màu xanh vườn tược thôn Vĩ Giạ: “vườn ai
mướt quá xanh như ngọc”. Sương đêm ướt đẫm cây cỏ hoa lá. Màu xanh mỡ màng,
non tơ ngời lên, bóng lên dưới ánh mai hồng, trông “mượt quá” một màu xanh như
ngọc bích. Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hoà, con người cần cù chăm bón mới có “màu
xanh như ngọc” ấy. Thiên nhiên rạo rực, trẻ trung và đầy sức sống. Cũng nói về màu
xanh ngọc bích, trước đó (1938) Xuân Diệu đã từng viết: “Đổ trời xanh ngọc qua
muôn lá…” (“Thơ duyên). Hai chữ “vườn ai” đã gợi ra nhiều ngạc nhiên và man mác.
Câu thứ tư tả thiếu nữ với khóm trúc vườn đầy đặn, phúc hậu. “Lá trúc che ngang” là
một nét vẽ thần tình đã tô đậm nét đẹp của cô gái Huế duyên dáng, dịu dàng, kín đáo,
tình tứ đáng yêu. Hàn Mặc Tử hơn một lần nói về trcs và thiếu nữ. Khóm trúc như toả
bóng xanh mát che chở cho một mối tình đẹp đang nảy nơ:
“Thầm thì với ai ngôì dưới trúc
Nghe ra ý nhị và thơ ngây”
(“Mùa xuân chín”)
Câu 3, 4 trong khổ thơ đầu tả cau, tả nắng, tả vườn, tả trúc và thiếu nữ với một
gam màu nhẹ thoáng, ẩn hiện, mơ hồ. Đặc sắc nhất là hai hình ảnh so sánh và ẩn dụ.
(xanh như ngọc… mặt chữ điền) Cảnh và người nơi Vĩ Giạ thật hồn hậu, thân thuộc
đáng yêu.
Vĩ Giạ - một làng quê nằm bên bờ Hương Giang, thuộc ngoại ô cố đô Huế. Vĩ
Giạ đẹp với những con đò thơ mộng, những mảnh vườn xanh tươi bốn mùa, sum sê
hoa trái. Những ngôi nhà xinh xắn thấp thoáng ẩn hiện sau hàng cau, khóm trúc, mà ở
đây thường dìu dặt câu Nam ai, Nam bình qua tiếng đàn tranh, đàn thập lục huyền
diệu, réo rắt. Thôn Vĩ Giạ đẹp nênthơ. Hàn Mặc Tử đã dành cho Vĩ Giạ vần thơ đẹp
nhất với tất cả lòng tha thiết mến thương.
Khổ thơ thứ hai nói về cảnh trời mây, sông nước. Một không gian nghệ thuật
thoáng đãng, mơ hồ, xa xăm. Hai câu 5, 6 là bức tranh tả gió, mây, dòng sông và hoa
(hoa bắp). Giọng thơ nhẹ nhàng, thoáng buồn. Nghệ thuật đối tạo nên bốn phiên cảnh
hài hoà, cân xứng và sống động. Gió mây đôi ngả như mối tình nhà thơ, tưởng gần
đấy mà xa vời, cách trở. Dòng Hương Giang êm trôi lờ lững, trong tâm tưởng thi nhân

Ai biết tình ai có đậm đà”.
“Mơ khách đường xa, khách đường xa… ai biết… ai có…” các điệp ngữ luyến
láy ấy tạo nên nhạc điệu sâu lắng, dịu buồn, mênh mang. Người đọc thêm cảm thương
cho nhà thơ tài hoa, đa tình mà bạc mệnh, từng say đắm với bao mối tình nhưng suốt
cuộc đời phải sống trong cô đơn bệnh tật.
Cũng cần nói đôi lời về chữ “ai” trong bài thơ này. Cả 4 lần chữ “ai” xuất hiện
đều mơ hồ ám ảnh: “vườn ai mướt quá xanh như ngọc?” – “Thuyền ai đậu bến sông
trăng đó?” – “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Con người mà nhà thơ nói đến là con người
xa vắng, trong hoài niệm bâng khuâng. Nhà thơ luôn cảm thấy mình hụt hẫng, chơi
với trước một mối tình đơn phương mộng ảo. Một chút hi vọng mong manh mà tha
thiết như đang nhạt nhoà và mờ đi cùng sương khói?
Hàn Mặc Tử đã để lại cho ta một bài thơ tình thật hay. Cảnh và người, mộng và
thực, say đắm và bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ… bao hình ảnh và cảm xúc đẹp
hội tụ trong ba khổ thơ thất ngôn, câu chữ toàn bích. “Đây thôn Vĩ Giạ” là một bài thơ
tình tuyệt tác. Cái màu xanh như ngọc của vườn ai, con thuyền ai trên sông trăng, và
cái màu trắng của áo em như đang dẫn hồn ta đi về miền sương khói của Vĩ Giạ thôn
một thời xa vắng:
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
(st)
Đề: Nhận xét về bài thơ ''Đây thôn vĩ dạ của Hàn Mặc Tử ''sách ngữ văn 11
tập 2 viết'''Bài viết đây thôn vĩ dạ là bức tranh đẹp về 1 miền quê đất nước ,là tiếng
lòng của một người tha thiết yêu đời ,yêu người.''Hãy phân tích làm rõ.
Bài làm
Trong đời thơ Hàn Mạc Tử, có thể nói "ĐTVD" là 1 trong số ít những giọt
nắng tinh khôi, trong trẻo (ví như mùa xuân chín chẳng hạn). Muốn phân tích được
cho ra nét đẹp của bức tranh thiên nhiên quê hương này, hãy căn cứ vào HCST:
Nguyên nhân ra đời:
Đây thôn Vĩ Dạ, ban đầu có tên là Ở đây thôn Vĩ Dạ.(1)
Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử

vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên là gì, là tiếng lòng của một người tha thiết yêu đời
,yêu người thể hiện như thế nào trong bài thơ? Nguyên do của nó em hãy tham khảo
phần trên và dựa vào dàn ý của cô để làm sáng tỏ. Chs ý
thông qua các biện pháp nghệ thuật làm nổi bật được nét đẹp trong sáng của
toàn bài thơ.
Đây là 1 dàn bài tham khảo:
1. Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Vĩ Giạ một làng cổ đẹp nổi tiếng bên bờ Hương giang, ngoại ô cố đô Huế.
Phong cảnh êm đềm thơ mộng. Với Hàn Mặc Tử chắc là có nhiều kỷ niệm đẹp? Câu
mở bài như một lời chào mời, như một tiếng nhẹ nhàng trách móc: “Sao anh không về
chơi thôn Vĩ?”. Cảnh Vĩ Giạ được nói đến là hàng cau với nắng mới lên, một bình
minh rạng ngời. Là màu xanh của cây trái của “vườn ai”, ngỡ ngàng bâng khuâng, rồi
thốt lên “mướt quá xanh như ngọc”. Sắc xanh mượt mà, láng bóng ngời lên. Một so
sánh rất đắt gợi tả sức xuân, sắc xuân của “vườn ai”? Câu thứ 4 có bóng người xuất
hiện thấp thoáng sau hàng trúc: “gương mặt chữ điền”. Nét vẽ “lá trúc che ngang” là
một nét vẽ thần tình gợi tả vẻ kín đáo, duyên dáng của người con gái thôn Vĩ. Và cho
biết “vườn ai”, ấy là vừn xuân thiếu nữ. Cau, nắng, màu xanh như ngọc của vườn ai,
lá trúc và gương mặt chữ điền - 5 nét vẽ, nét nào cũng tinh tế, tao nhã, gợi nhiều
thương mến bâng khuâng.
2. Thuyền ai đậu bến sông trăng đó…
Một miền quê thoáng đãng, thơ mộng. Có gió, mây, cỏ hoa, có dòng nước.
Cảnh đẹp đầy thi vị, cổ điển. Gió mây đôi ngả phân li. Dòng nước buồn thiu, buồn xa
vắng mơ hồ. Hoa bắp nhè nhẹ “lay” cũng gợi buồn.
“Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”
Khổ một nói đến “nắng mới lên”, nắng bình minh. Khổ 2, nói đến “bến sông
trăng”, bến đò trong hoài niệm. Vầng trăng của thương nhớ đợi chờ. “Thuyền ai” có lẽ
là con thuyền thiếu nữ? Vần thơ trăng đẹp nhất trong thơ Hàn Mặc Tử. Có bến sông
trăng, có con thuyền trăng. Thật thơ mộng, tình tứ:
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status