Lời mở đầu
Hiện nay, khi nền kinh tế nớc ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự
điều tiết của Nhà nớc, cơ chế thị trờng đã tạo nên sự chủ động cho các doanh
nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng. Các doanh nghiệp hòan
toàn chủ động trong việc xây dựng các p hơng án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, tự
trang trải bù đắp các chi phí, tự chịu rủi ro và chịu trách nhiệm về hoạt động kết
qủa sản xuất kinh doanh.
Với đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản là vốn đầu t lớn, sản phẩm mang
tính đơn chiếc, những đặc điểm này làm cho việc quản lý quá trình xây lắp nói
chung và việc tổ chức quản lý chỉ đạo sản xuất thi công nói riêng càng có những
nét riêng biệt. Hơn thế nữa sản phẩm xây lắp lại là TSCĐ của các đơn vị sử dụng,
mà nói rộng ra là của nền kinh tế. Vì vậy, tình hình quản lý các nguồn vốn trong
các doanh nghiệp xây lắp không những có tác động đến mọi mặt hoạt dộng của
doanh nghiệp mà còn có ảnh hởng không nhỏ đến kế hoạch công tác sản xuất của
các đơn vị chủ quản công trình.Với những công trình trọnh điểm của Nhà nớc nó
còn có ảnh hởng tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Do vậy, với vai trò là công cụ của nhận thức giúp cho quản lý và sản xuất
đạt kết qủa kinh tế cao, các doanh nghiệp xây lắp cần có các thông tin phục vụ cho
công tác quản lý doanh nghiệp. Trong đó, đặc biệt là các thông tin về vốn lu động,
vì nó là bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh, nó là yếu tố đầu tiên và kết thúc
của quá trình họat động, nó đóng vai trò trọng yếu trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Hiện nay, việc quản lý và sử dụng vốn lu động là một
vấn đề vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp nói chung cũng nh với Công
ty cổ phần đầu t và xây dựng Bạch Đằng 9 chi nhánh tại Hà Nội nói riêng.
Nhận thức đợc vai trò, vị trí của vốn lu động đối với các hoạt động của
doanh nghiệp, trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần đầu t và xây dựng Bạch
Đằng 9 chi nhánh tại Hà Nội, qua việc tìm hiểu thực tế của công ty nói chung và
công tác sử dụng vốn lu động nói riêng cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô Trần
Thị Hạnh và các cán bộ trong phòng kế toán Tài chính của Công ty, em đã
mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu đề tài:
1
nghiệp còn có các đối tợng lao động khác với các t liệu lao động, các đối tợng lao
động( nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm) chỉ tham gia vào một chu kì sản
xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó đợc chuyển
dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm.
Những đối tợng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật đợc gọi là
các tài sản lu động, còn về hình thái giá trị đợc gọi là vốn lu động của doanh
nghiệp. Hay nói cách khác, vốn lu động là số vốn ứng trớc về tài sản lu động của
doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
tiến hành bình thờng, liên tục.
Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lu động nên đặc điểm vận động của vốn l-
u động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lu động. Và nh vậy,
vốn lu động của doanh nghiệp có những đặc trng cơ bản sau:
-Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lu động
không ngừng vận động và thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn bằng tiền
ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật t, hàng hóa dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối
cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sự vận động này đợc gọi là sự tuần hoàn của
vốn lu động. Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thờng
xuyên, liên tục nên sự tuần hoàn của vốn lu động cũng lặp đi lặp lại và có tính chu
kỳ.
3
-Vốn lu động chỉ tham gia vào một quá trình sản xuất kinh doanh, và trong
quá trình sản xuất đó, vốn lu động bị hao mòn hoàn toàn, chuyển dịch toàn bộ giá
trị ngay một lần và dợc thu hồi toàn bộ sau khi doanh nghiệp tiến hành bàn giao,
thanh toán khối lợng sản phẩm để thu tiền về.
Những đặc điểm về phơng thức vận động của vốn lu động trên đây đã ảnh
hởng, chi phối đến công tác quản lý và sử dụng vốn lu động:
-Phải đảm bảo hiệu quả sử dụng và khả năng thu hồi vốn lu động.
-Phân bổ vốn lu động ở các khâu kinh doanh hợp lý, trong mỗi khâu kinh
doanh lại đợc chia ra nhiều thành phần nên công tác quản lý phải chặt chẽ đến
từng khâu, từng thành phần.
-Thứ ba: Vốn lu động trong khâu lu thông: bao gồm các khoản giá trị thành
phẩm chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, các khoản vốn đầu t ngắn hạn( đầu t chứng
khoán ngắn hạn) các khoản thế chấp, kí cợc, kí quỹ ngắn hạn, các khoản vốn trong
thanh toán( các khoản phải thu, các khoản tạm ứng).
Cách phân loại này cho thấy vai trò của từng loại vốn lu động tham gia vào quá
trình sản xuất kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn
lu động thích hợp với đặc điểm của từng giai đoạn sản xuất kinh doanh.
1.1.3.2. Phân loại theo hình thái biểu hiện.
Theo cách này, vốn lu động có thể chia thành hai loại:
-Vốn vật t hàng hóa: là các khoản vốn lu động có hình thái biểu hiện bằng
hiện vật cụ thể nh: nhiên, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,
thành phẩm.
-Vốn bằng tiền và các khoản phải thu gồm:
+Vốn bằng tiền: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
+ Các khoản phải thu: chủ yếu là các khoản phải thu của khách hàng thể
hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình doanh
nghiệp bàn giao công trình, hạnh mục công trình cho khách hàng nhng cha đợc
thanh toán. Trong một số trờng hợp nó còn thể hiện là số tiền mà doanh nghiệp
ứng trớc cho từng ngời cung ứng vật t và các đối tợng khác hình thành nên các
khoản tạm ứng.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ
và khả năng thanh toán của các doanh nghiệp.
5
1.1.3.3. Phân loại theo nguồn hình thành.
Nếu xét theo nguồn hình thành vốn lu động có thể chia thành các nguồn sau:
-Nguồn vốn điều lệ:( đối với doanh nghiệp Nhà nớc) là số vốn trong điều lệ
quy định khi thành lập doanh nghiệp và phải đợc bổ sung khi đợc giao nhiệm vụ
bổ sung( vốn tự có). Trong thực tế, loại này chính là tiền Ngân sách Nhà nớc cấp
hoặc coi nh nguồn ngân sách Nhà nớc nh: vốn viện trợ, tặng, biếu.
Với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thì đó là số vốn do tất cả các
1.1.4. Kết cấu vốn lu động và các nhân tố ảnh hởng.
Từ các cách phân loại trên đây doanh nghiệp có thể xác định đợc kết cấu vốn lu
động của mình theo những tiêu thức khác nhau. Kết cấu vốn lu động phản ánh
thành phần và mối quan hệ tỉ lệ giữa các thành phần trong tổng số vốn lu động của
doanh nghiệp.
ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lu động cũng không giống
nhau. Việc phân tích kết cấu vốn lu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức
phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số
vốn lu động mà mình đang quản lý và sử dụng. Từ đó xác định đúng đắn các trọng
điểm và biện pháp quản lý vốn lu động có hiệu qủa hơn, phù hợp với điều kiện cụ
thể của từng doanh nghiệp.
Các nhân tố ảnh hởng tới kết cấu vốn lu động của doanh nghiệp có nhiều
loại, có thể chia làm ba nhóm chính:
- Các nhân tố về mặt cung ứng vật t nh khoảng cách giữa doanh nghiệp với
nơi cung cấp; khả năng cung ứng của thị trờng; kỳ hạn giao hàng và khối lợng vật
t đợc cung cấp mỗi lần giao hàng; chủng loại vật t đợc cung cấp đều ảnh h ởng
tới tỷ trọng vốn lu động bỏ vào khâu dự trữ.
- Các nhân tố về mặt sản xuất cũng nh đặc điểm kỹ thuật, công nghệ sản
xuất của doanh nghiệp, mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ
sản xuất; trình độ tổ chức của quá trình sản xuất.
-Những nhân tố về mặt thanh toán: những doanh nghiệp sử dụng phơng thức
thanh toán hợp lý, giải quyết thanh toán kịp thời thì tỷ trọng vốn sẽ không thay
đổi. Đồng thời việc chấp hành kỷ luật thanh toán của khách hàng cũng ảnh hởng
tới kết cấu của vốn lu động.
7
- Điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng có ảnh hởng nhất định tới kết cấu vốn lu
động. Quy mô sản phẩm tiêu thụ lớn hay nhỏ, khoảng cách giữa công trình và
doanh nghiệp dài hay ngắn đều ảnh hởng tới tỷ trọng vốn lu động trong lu thông.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn lu động và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lu động của doanh nghiệp.
hay nói cách khác là việc không ngừng tối đa hóa lợi nhuận trên một số vốn nhất
định là vấn đề hết sức quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp sản xuất hàng
hóa, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp: bất kỳ doanh nghiệp
nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng hớng tới mục tiêu
lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp liên quan tới tất cả các
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó là nguồn tích lũy cơ
bản để tái đầu t, tái sản xuất mở rộng. Vì vậy, lợi nhuận đợc coi là một
trong những đòn bẩy quan trọng, là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, trong quá trình sản xuất,
việc sử dụng vốn lu động nh thế nào để thu lợi nhuận cao là mục tiêu phấn
đấu lâu dài của các doanh nghiệp.
- Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh:
Với bất kỳ doanh nghiệp nào để tiến hành sản xuất kinh doanh cũng đều
phải có vốn. Vốn là điều kiện quyết định và ảnh hởng đến toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với vai trò quan trọng đó đòi
hỏi doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng
và quản lý vốn lu động.
- Bên cạnh đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lu động sẽ cải thiện đợc
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng. Đứng trớc những đòi
hỏi ngày càng khắt khe của ngời tiêu dùng, sản phẩm hàng hóa phải luôn
đa dạng về chủng loại, chất lợng không ngừng đợc nâng cao, có nh vậy
doanh nghiệp sản xuất đó mới tồn tại và làm ăn có hiệu quả. Để thực hiện
điều này, các doanh nghiệp phải huy động hết các nguồn lực của mình và
khai thác chúng một cách có hiệu quả. Từ đó doanh nghiệp mới có khả
năng để tái đầu t, cải thiện máy móc, tăng năng suất lao động, nâng cao
chất lợng, hạ giá thành sản phẩm.
9
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lu động giúp doanh nghiệp có khả năng
mở rộng quy mô, lĩnh vực kinh doanh, tạo ra hiệu quả kinh tế, tạo thêm
VLĐ : Vốn lu động bình quân trong kỳ
- Kỳ luân chuyển vốn lu động: chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết hoàn
thành một vòng luân chuyển vốn lu động. Công thức tính nh sau:
360
K =
L
Trong đó: K : Kỳ luân chuyển vốn lu động
L : Số vòng quay vốn lu động trong kỳ
1.3.2. Mức tiết kiệm vốn lu động:
Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lu động tiết kiệm đợc so với tăng tốc độ luân chuyển
vốn nên doanh nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn mà không cần
tăng thêm hoặc tăng thêm không đáng kể về quy mô vốn lu động. Công thức tính
nh sau:
M
1
V
tk
= * (k
1
-k
0
)
360
Trong đó : V
tk
: Mức tiết kiệm vốn lu động
M
1
: Tổng mức luân chuyển vốn lu động kỳ kế hoạch
K
một vòng quay.
1.3.7. Số vòng quay các khoản phải thu: với công thức tính nh sau:
Doanh thu tiêu thụ có thuế
Số vòng quay =
Các khoản phải thu Số d bình quân các khoản phải thu
Hệ số này phản ánh tốc độ thu hồi các khoản công nợ của doanh nghiệp
trong kỳ nhanh hay chậm.
1.3.8. Kỳ thu tiền trung bình, công thức tính là:
Số d bình quân các khoản phải thu trong kỳ
Kỳ thu tiền = *360
trung bình Doanh thu tiêu thụ có thuế
Hệ số này phản ánh khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh
nghiệp. Chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào chính sách tín dụng về hàng hóa của doanh
nghiệp.
1.4. Quản trị vốn lu động của doanh nghiệp.
12
1.4.1. Nhu cầu vốn lu động của doanh nghệp
Nhu cầu vốn lu động là nhu cầu thờng xuyên ở mức cần thiết, tối thiểu nhất
đảm bảo cho qúa trính sản xuất của doanh nghiệp đợc tiến hành liên tục. Vì vậy,
xác định đúng đắn nhu cầu vốn lu động thờng xuyên, cần thiết là một nội dung
quan trọng của hoạt động tài chính doanh nghiệp.
Xác định nhu cầu vốn lu động là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp tổ chức
tốt nguồn vốn, đảm bảo nhu cầu vốn một cách kịp thời, đầy đủ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh. Nếu xác định nhu cầu vốn quá cao, doanh nghiệp không khai
thác hết đợc khả năng tiềm tàng của mình về vốn, không khuyến khích doanh
nghiệp tìm kiếm những biện pháp để cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh gây
nên tình trạng d thừa ứ đọng về vốn, sử dụng lãng phí vật t dự trữ thành phẩm tồn
đọng trong kho phát sinh những chi phí không cần thiết, làm tăng giá thành sản
phẩm, giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Ngợc lại, nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lu động quá thấp sẽ gây
Quan điểm của phơng pháp này là việc xác định nhu cầu vốn lu động đi từ
tổng thể đến chi tiết. Theo phơng pháp này, nhu cầu vốn lu động đợc xác định
bằng cách dựa vào kết quả thống kê vốn lu động kỳ báo cáo và nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh kỳ kế hoạch để xác định nhu cầu vốn lu động của kỳ kế hoạch theo
công thức:
M
1
V
nc
= VLĐ
0
* * (1 + t %)
M
0
Trong đó : V
nc
: Nhu cầu vốn lu động kỳ kế hoạch
M
1
, M
0
: Tổng mức luân chuyển vốn lu động
Kỳ kế hoạch, báo cáo
VLĐ
0
: Vốn lu động bình quân kỳ báo cáo
T% : tỷ lệ tăng hoặc giảm số ngày luân chuyển
Vốn lu động kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo
1.4.3.Quản trị vốn tồn kho dự trữ :
là nội dung chủ yếu trong quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự
trữ vốn tiền mặt hay tiền mặt tơng đơng ở một quy mô nhất định
15
Nội dung quản trị vốn tiền mặt trong doanh nghiệp thông thờng bao gồm:
1.4.4.1. Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý
Mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý cần đợc xác định sao cho doanh nghiệp có thể:
- Tránh đợc các rủi ro do không có khả năng thanh toán ngay, phải gia hạn
thanh toán nên bị phạt hoặc trả lãi cao hơn.
- Không làm mất khả năng mua chịu của nhà cung cấp.
- Tận dụng đợc các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cho doanh nghiệp
1.4.4.2. Dự đoán và quản lý các luồng nhập, xuất vốn tiền mặt
Dự đoán các luồng nhập ngân quỹ bao gồm luồng thu nhập từ kết quả kinh
doanh, từ kết quả hoạt động tài chính, luồng đi vay và các luồng tăng vốn khác
Dự đoán các luồng xuất ngân quỹ bao gồm các khoản chi cho hoạt động
kinh doanh nh mua sắm tài sản, trả lơng, các khoản chi cho hoạt động đầu t theo
kế hoạch của doanh nghiệp; các khoản chi trả tiền lãi phải chia, nộp thuế và các
khoản chi khác.
Trên cơ sở so sánh các luồng nhập và xuất quỹ , doanh nghiệp có thể thấy
đợc mức d hay thâm hụt ngân quỹ. Từ đó thực hiện các biện pháp cân bằng thu chi
ngân quỹ nh tăng tốc độ thu hồi các khoản nợ phải thu, đồng thời giảm tốc độ xuất
quỹ nếu có thể thực hiện đợc hoặc khéo léo sử dụng các khoản nợ đang trong quá
trình thanh toán.
1.4.5. Quản trị các khoản phải thu, phải trả
1.4.5.1. Quản trị các khoản phải thu
Trong quá trình sản xuất kinh doanh do nhiều nguyên nhân khác nhau th-
ờng tồn tại một khoản vốn trong quá trình thanh toán: các khoản phải thu, phải trả.
Tỷ lệ các khoản phải thu trong các doanh nghiệp có thể khác nhau, thông thờng
chúng chiếm từ 15% đến 30%. Có rất nhiều các nhân tố ảnh hởng đến quy mô các
khoản phải thu, nh: khối lợng sản phẩm hàng hóa dịch vụ bán chịu cho khách
Các nhân tố chủ quan là những nhân tố chủ yếu quyết định đến hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp gồm có:
- Cơ cấu vốn của doanh nghiệp:
Việc xác định cơ cấu vốn càng hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp càng đợc tối u hóa bấy nhiêu. Nếu bố trí cơ cấu vốn không hợp
17
lý, làm mất cân đối giữa vốn lu động và vốn cố định dẫn đến làm thiếu hoặc thừa
một loại vốn nào đó sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
- Nhu cầu vốn lu động của doanh nghiệp
Việc xác định nhu cầu vốn lu động của doanh nghiệp thiếu chính xác dẫn
đến thừa hoặc thiếu vốn đều ảnh hởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nếu thiếu vốn sẽ gây gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh, làm
xuất hiện tình trạng công nhân viên không phải làm việc mà vẫn đợc hởng lơng
theo quy định, còn nếu thừa vốn sẽ gây lãng phí, làm tăng chi phí kinh doanh.
Vậy thừa hoặc thiếu vốn đều làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
-Việc sử dụng vốn
Do việc sử dụng lãng phí, nhất là vốn lu động trong quá trình sản xuất kinh
doanh nh: mua sắm vật t không đúng chất lợng kỹ thuật, bị hao hụt nhiều trong
quá trình mua sắm cũng nh trong quá trình sản xuất, không tận dụng đợc phế
phẩm, phế liệu loại ra. Điều này gây ảnh hởng tới hiệu quả sử dụng vốn lu động
trong doanh nghiệp.
- Trình độ các nhà quản lý của doanh nghiệp
Cán bộ quản lý luôn phải đợc nâng cao trình độ chuyên môn, t cách đạo đức nghề
nghiệp. Phải kiểm tra các số liệu kế toán một cách thận trọng trớc khi ra quyết
định cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Mối quan hệ của doanh nghiệp
Mối quan hệ của doanh nghiệp đợc thể hiện ở hai phơng diện, đó là mối
quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng và giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp.
Mối quan hệ của doanh nghiệp là rất quan trọng vì nó ảnh hởng đến nhịp độ sản
tham gia, các doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh quyết liệt để tồn tại, thị trờng tiêu
thụ không ổn định, sức mua của đồng tiền lại có hại, rủi ro ngày càng tăng. Điều
này cũng ảnh hởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghịêp.
- Các rủi ro bất khả kháng
Doanh nghiệp còn gặp những rủi ro do thiên tai gây ra nh hỏa hoạn ,lũ lụt,
mà doanh nghiệp không lờng trớc đợc gây ảnh hởng tới kết quả kinh doanh và
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu ảnh hởng tới hiệu quả sử dụng vốn
lu động. Để hạn chế những thiệt hại do những nguyên nhân trên gây ra, và từ đó
19
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lu động, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải xem xét,
nghiên cứu một cách thận trọng từng nguyên nhân để đa ra các giải pháp cụ thể và
kịp thời.
1.5.2. Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lu động
trong doanh nghiệp
Có rất nhiều biện pháp để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn lu động của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, do đặc điểm khác nhau của mỗi doanh nghiệp, cần căn
cứ vào phơng hớng và biện pháp chung để từ đó tìm ra cho mình một số biện pháp
cụ thể và hiệu quả. Sau đây là một số biện pháp chủ yếu mà doanh nghiệp cần áp
dụng:
* Xác định chính xác nhu cầu vốn lu động thờng xuyên, cần thiết ở từng
khâu luân chuyển.
Doanh nghệp phải xác định nhu cầu vốn lu động cho quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp vì việc xác định chính xác nhu cầu vốn lu động sẽ
tạo điều kiện để để doanh nghiệp tổ chức huy động các nguồn vốn cả bên trong và
bên ngoài doanh nghiệp với một cơ cấu vốn hợp lý đem lại lợi ích cao nhất cho
doanh nghiệp. Nếu không xác định nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh
sẽ gây tình trạng bất hợp lý trong quá trình sử dụng vốn. Thừa vốn sẽ làm tăng chi
phí sử dụng vốn, nhất là với vốn đi vay, làm cho đồng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp bị ứ đọng trong các khâu của sản xuất kinh doanh. Thiếu vốn sẽ làm gián
tín dụng. Khi hạn thanh toán đã gần kề, doanh nghiệp phải thông báo cho khách
hàng để việc thanh toán diễn ra đúng thời hạn.
+ Xác định mức tồn kho dự trữ tối u để phục vụ có hiệu quả nhất cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Yêu cầu ở đây là phải đảm bảo lợng
vật t, hàng hóa dự trữ cho quá trình sản xuất đợc liên tục, nhịp nhàng, đồng thời
giảm đợc chi phí cũng nh lợng vốn xuống tới mức thấp nhất trong dự trữ mà vẫn
đạt đợc hiệu quả là cao nhất.
* Lựa chọn dự án đầu t có hiệu quả
Doanh nghiệp phải lựa chọn phơng án đầu t có hiệu quả, phơng án sản xuất
kinh doanh phù hợp với năng lực sản xuất và quy mô của doanh nghiệp. Biện pháp
này đặt ra một yêu cầu đối với doanh nghiệp, đó là các dự án đầu t, các phơng án
sản xuất kinh doanh cần phải đợc doanh nghiệp đánh giá nghiêm túc về nhu cầu
vốn đầu t, sử dụng lao động, cung ứng nhiên vật liệu Doanh nghiệp phải lựa
21
chọn phơng án nào phù hợp nhất với khả năng của mình, tránh tình trạng đầu t vào
những dự án mà doanh nghiệp không đủ khả năng tạo ra lợi nhuận.
* Lựa chọn hình thức khai thác huy động vốn lu động
Đánh giá, lựa chọn các hình thức huy động vốn tích cực, tổ chức khai thác
triệt để có hiệu quả nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp vừa đáp ứng kịp thời
vốn lu động cho nhu cầu sản xuất kinh doanh một cách chủ động, vừa giảm đợc
chi phí huy động vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải lúc nào sử dụng
vốn vay cũng là hợp lý. Trong những phơng án đầu t với hiệu quả vốn đầu t cao thì
việc sử dụng vốn vay là thích hợp. Vì vậy, việc lựa chọn các hình thức huy động
vốn trong từng hoàn cảnh cụ thể là rất cần thiết cho các doanh nghiệp muốn nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lu động của mình.
* Làm tốt công tác thanh toán nợ
Cùng với việc tăng khối lợng sản phẩm tiêu thụ, doanh nghiệp cần phải chủ
động trong công tác thanh toán tiền hàng, hạn chế vốn bị chiếm dụng do bán hàng
không thu đợc tiền về ngay, hạn chế tình trạng phát sinh nhu cầu vốn không tía
sản xuất dẫn đến doanh nghiệp phải đi vay ngoài kế hoạch với lãi xuất cao, làm
Mã số thuế: 0200576143-002
Điện thoại: 0989085495
Fax : 04 6620679
Công ty cổ phần đầu t và xây dựng Bạch Đằng 9 chi nhánh tại Hà Nội trực
thuộc Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng, là một doanh nghiệp nhà nớc hạch toán
độc lập có t cách pháp nhân đầy đủ. Công ty cổ phần đầu t và xây dựng Bạch
Đằng 9 chi nhánh tại Hà Nội chính thức đợc thành lập theo quyết định số
0113009585 ngày 7/11/2000. Khi mới thành lập, công ty có vốn pháp định là
1.256.000.000đ, vốn lu động là 523.300.000 (vốn ngân sách cấp :
1.021.500.000đ, vốn tự có : 234.500.000đ); có đội ngũ CBCNV đông đảo, trong
đó lực lợng kỹ s là 25 ngời, công nhân kỹ thuật từ bậc 4 trở lên là 40 ngời.
Công ty đã thi công nhiều công trình dân dụng và công nghiệp có số vốn
đầu t lớn. Với t cách là nhà thầu chính hoặc nhà thầu từng hạng mục công trình,
với đội ngũ kiến trúc s, công nhân kỹ thuật lành nghề, máy móc thiết bị hiện đại
công ty luôn hoàn thành công việc với tiến độ và chất lợng cao. Công ty đã tạo
cho mình uy tín lớn , những công trình đạt chất lợng cao nh : Công trình công ty
vận tải Hà Nam, công trình Xi măng Long Thọ.và rất nhiều công trình khác.Có
đợc những thành qua trên là do sự nỗ lực của tập thể lãnh đạo công ty và toàn thể
CBCNV toàn Công ty. Do vậy, phơng trâm của công ty trớc hết là quản lý con ng-
24
ời, bộ máy quản lý đợc sắp xếp, bố trí một cách khoa học, hợp lý với những cán
bộ có trình độ và năng lực.
Từ tháng 8/2002 công ty đã đợc Bộ trởng Bộ xây dựng bổ sung thêm một
số chức năng : San lấp mặt bằng, trang trí nội thất cho các công trình công nghiệp
dân dụng và công trình đô thị, xây dựng các công trình thủy lợi, giao thông đờng
bộ; xây dựng các công trình điện.
Trải qua hơn 5 năm hoạt động, bên cạnh sự giúp đỡ của Bộ xây dựng, Tổng
công ty xây dựng Bạch Đằng và sự nỗ lực của bản thân, công ty đã đạt đợc những
thành tựu sau:
Bảng 2.1.