đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
Mục lục
Đề mục Nội dung Số
trang
Phần I Lời mở đầu 2
Phần II Những vấn đề chung về thuế GTGT 3
1 Khái niệm 3
2 Sự ra đời và phát triển của thuế GTGT 3
3 Tại sao lại chọn thuế GTGT 4
II Nội dung chủ yếu của thuế GTGT 6
1 Xác định phạm vi áp dụng 6
2 Các hình thức thuế GTGT 8
3 Thuế suất 9
4 Quản lý thuế GTGT 10
Phần III Tình hình áp dụng thuế GTGT trên thế giới và bài học kinh
nghiệm từ những nớc đã áp dụng.
12
I Tình hình áp dụng thuế GTG T ở một số nớc 12
1 Thuỵ Điển 12
2 Philipine 13
3 Trung Quốc 14
II Một số nớc kinh tế phát triển vẫn cha áp dụng thuế GTGT 15
1 Hoa Kỳ 16
2 Australia 17
III Bài học kinh nghiệm rút ra từ những nớc đã áp dụng thuế GTGT. 17
Phần IV Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT.
19
I Những tồn tại của hệ thống thuế hiện hành 19
II Sự cần thiế phải cải cách chính sách thuế 20
III Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam 20
Phần V Đánh giá tình hình triển khai thực hiện thuế GTGT ổ Việt
giá tình hình thực hiện ở Việt Nam trong những năm vừa qua và đề xuất những biện
pháp xử lý thuế trong thời gian tới nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống thuế ở Việt
Nam.
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
2
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
Phần II. Những vấn đề chung về thuế giá trị gia tăng.
I./ Thuế giá trị gia tăng (GTGT).
1./ Khái niệm.
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát
sinh trong quá trình từ sản xuất, lu thông đến tiêu dùng.
2./ Sự ra đời và phát triền của thuế GTGT.
Năm 1954 thuế GTGT lần đầu tiên ra đời tại Pháp dới hình thức thuế đánh vào
giai đoạn sản xuất. Đến năm 1968, thuế này đợc nhập vào thuế lu thông đánh vào dịch
vụ và thuế địa phơng đánh vào lu thông bán lẻ thành một loại thuế thống nhất chung
thu ở giai đoạn bán lẻ (viết tắt theo tiếng Pháp là TVA). Từ đó đến nay do tính u viết
của mình, thuế GTGT ngày càng đợc sử dụng rộng khắp ở nhiều nớc trên thế giới.
Thuế GTGT đợc sớm áp dụng ở Châu âu, chỉ hơn hai mơi năm sau khi ra đời hình thức
sơ khai đầu tiên, nó đã đợc coi là một trong những điều kiện tiên quyết để gia nhập
khối EC (năm 1977).
Tính đến năm 1995, trên thế giới có tới hơn 100 nớc áp dụng thuế GTGT. Riêng
Châu á kể từ năm 80 trở lại đây đã có sự gia tăng vợt bậc về số lợng các thành viên sử
dụng VAT. Đầu tiên là Triều Tiên (1977), tiếp đến là Indonexia (1985), Đài Loan
(1986), Philipine (1988), Mông Cổ (1993), Trung Quốc (1994) và Việt Nam (1999).
Việc áp dụng một phơng pháp tính thuế mới ở một quốc gia không phải là vấn
đề đơn giản, hệ thống thuế ảnh hởng trực tiếp đến ngân sách và vấn đề phát triển kinh
tế của quốc gia đó. Chính vì vậy, không chỉ ở những nớc đang phát triển mà ở một số
nớc kinh tế phát triển, do những quan điểm khác nhau trong việc nghiên cứu nên quyết
định áp dụng thuế GTGT kéo dài trong nhiều năm nh:
Nhật Bản đa ra đề nghị áp dụng GTGT từ những năm 1955 đến năm 1986 nhng
thuế, miễn thuế ) cũng nh việc kinh doanh của ngời dân. Tình trạng này dễ dàng gây
ra tâm lý ngại thuế, tránh thuế làm thất thu cho Ngân sách một khoản không nhỏ. Để
giải quyết các vấn đề trên cần phải có một cơ chế thuế mới phù hợp và rõ ràng đối với
tất cả mọi ngời, và thuế GTGT là một giải pháp.
Thứ t: Sự phát triển của kinh tế đòi hỏi sửa đổi hệ thống thuế cho phù hợp.
Chúng ta đã biết rằng mỗi một thời kỳ phát triển kinh tế cần phải có một hệ thống
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
4
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
chính sách quản lý cho phù hợp, không có một cơ chế nào dúng cho mọi lúc mọi nơi.
Vấn đề quản lý thuế cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
(2) Nh vậy thuế GTGT ra đời trớc hết để đáp ứng tình hình mới, sau một thời
gian đợc áp dụng và kiểm nghiệm, thuế GTGT đợc đại đa số các nớc trên thế giới thừa
nhận về những u điểm nổi bật của nó ở các mặt sau:
a. Khắc phục đợc một số mặt hạn chế của thuế doanh thu hiện hành. Có
khả năng mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nớc. Kinh nghiệm của các nớc:
Indonexia, Newzeland, Bồ Đào Nha và Tuinidi đã chứng minh rõ điều này. Đại đa số
các nớc áp dụng thuế GTGT, khoản thu từ số thuế này thờng đảm bảo từ 12% đến 30%
tổng số thu của Ngân sách Nhà nớc (tơng đơng khoảng 5% đến 10% tổng sản phẩm
quốc dân).
b. Tính trung lập: Với điều kiện số lợng đối tợng đợc miễn hạn chế và sự
vận dụng thuế suất 0% chỉ hạn chế đối với hoạt động xuất khẩu, GTGT là một thứ
thuế trung lập và không dẫn đến bất kỳ một sự méo mó nào. Điều này thể hiện tính u
việt của thuế GTGT so với các loại thuế đợc nó thay thế.
c. Tính đơn giản: Tính đơn giản của thuế GTGT bắt nguồn từ cơ chế đánh
thuế và khấu trừ thuế của nó. Đối tợng nộp thuế GTGT sẽ thu số GTGT khi bán hàng
và khấu trừ số thuế GTGT đã nộp khi mua vật t, hàng hoá đầu vào, số chênh lệch còn
lại nộp vào Ngân sách Nhà nớc. (Việc tính thuế căn cứ vào các hoá đơn bán hàng và
mua hàng).
II. Nội dung chủ yếu của thuế GTGT.
+ Năm 1985: Đối tợng nộp thuế là những ngời sản xuất.
+ Năm 1989: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các đại lý bán buôn.
+ Năm 1993: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các cửa hàng bán lẻ.
Hình thức thứ ba: Thực hiện thí điểm GTGT đối với một số nghành. Điển hình
áp dụng hình thức này là Trung Quốc. GTGT đợc ban hành và thực hiện thí điểm từ
năm 1980 đến 18/9/1994 đợc ban hành chính thức. Bớc thí điểm chỉ áp dụng với các
sản phẩm: xe đạp, quạt điện, kim khí, máy móc thiết bị, phụ tùng, động cơ, thép. Năm
1986 mở rộng diện đối với các sản phẩm công nghiệp nhẹ, vật liệu xây dựng, khoáng
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
6
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
sản kim loại.
Qua tổng kết đánh giá của các nớc, trong ba hình thức tiến hành GTGT, hình
thức toàn bộ là hiệu quả nhất. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị rất
đầy đủ về luật, các văn bản hớng dẫn luật, trình độ hiểu biết của ngời nộp thuế, trình
độ quản lý của từng cơ quan thuế, chứng từ hoá đơn, ý thức chấp hành luật
Hình thức áp dụng GTGT ở từng khâu kết quả bị hạn chế, còn hình thức áp
dụng thí điểm ở phạm vi hẹp, ở một số ngành là không đem lại kết quả.
2./ Các hình thức tính thuế GTGT.
ở các nớc đã thực hiện GTGT hiện nay áp dụng một trong hai phơng pháp khấu
trừ theo hoá đơn và phơng pháp tính chênh lệch theo báo cáo kế toán.
a./ Phơng pháp khấu trừ theo hoá đơn:
Đây là phơng pháp đợc hầu hết các nớc áp dụng do: Tính thuế dựa vào hoá đơn
đảm bảo xác định thuế có cơ sở để kiểm tra thuế. Có thể áp dụng chính sách thuế với
nhiều thuế suất (nếu thu thuế theo chênh lệch chỉ có thể áp dụng một thuế suất). Có
thể tính GTGT thu thuế theo thời gian ấn định một tháng, hai tháng hay một quí.
b./ Phơng pháp thu GTGT trên chênh lệch theo báo cáo kế toán:
Phơng pháp này xác định thuế phải dựa trên số liệu báo cáo kế toán của đơn vị
áp dụng phơng pháp này sẽ có những vấn đề sau:
Thứ nhất: Các xí nghiệp coi GTGT chỉ là thuế bổ xung đánh vào lợi nhuận, còn
thuế suất. Chỉ có một số nớc áp dụng 4 và 5 thuế suất: Bỉ- Colombia.
Mô hình thuế suất của khối EC: Qui định ngoài thuế suất 0% áp dụng cho xuất
khẩu, hệ thống thuế suất chỉ gồm 2 thuế suất: Một mức thuế suất thấp nhng không
thấp hơn 5%; Một mức thuế suất cao thờng hơn 15%.
Qui định về thuế suất 0% và miễn thuế: thuế suất 0% đợc áp dụng trong đại đa
số các nớc chủ yếu đối với hoạt động xuất khẩu. Đối tợng áp dụng thuế suất 0% tức là
đợc thoái trả lại số GTGT đã chịu trên hàng đầu vào, biện phấ này đợc đánh giá là hữu
hiệu nhất đối với việc xuất khẩu.
Một số nớc áp dụng thuế suất 0% đối với các mặt hàng và dịch vụ khác nhau
nh Thuỵ Điển (đối với báo chí xuất bản hàng ngày, xang máy bay phản lực), Canada
(đối với lơng thực thực phẩm, các dịch vụ tài chính quốc tế. Đan
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
8
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
Mạch và Trung Quốc không sử dụng thuế suất 0%.
Miễn thuế (không áp dụng) GTGT: Các đối tợng đợc miễn thuế khác với các đối
tợng đợc hởng thuế suất 0% ở chỗ họ không có quyền khấu trừ đầu vào thuế đầu vào
đã nộp. Qui định miễn chịu thuế có thể xuất phát từ nhiều lý do: Về kinh tế, xã hội, về
tránh sự đánh thuế chồng chéo, về kỹ thuật: khó xác định giá trị tăng thêm nh: Các
dịch vụ về tài chính tín dụng, dịch vụ vận tải quốc tế về hàng không, đờng sắt.
Ví dụ : Thuỵ Điển qui định 29 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
Đan Mạch qui định 14 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
Đức qui định 5 mặt hàng và dịch vụ đợc miễn chịu thuế.
4./ Quản lý GTGT.
Đăng ký thuế: Các đối tợng nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ đầu tiên là đăng
ký thuế tại cơ quan thuế địa phong nơi đặt cơ quan điều hành thờng trú của mình theo
mẫu thống nhất do cơ quan thuế cung cấp. Một số nớc sử dụng mã số đăng ký thuế cũ
(thuế doanh thu) và thêm vào đuôi của dãy số đăng ký một số bổ xung để chỉ rõ là số
đăng ký GTGT. Riêng Nhật Bản không sử dụng hệ thống mã hoá số đăng ký trong
công tác quản lý GTGT.
Thứ nhất: Các đối tợng nộp thuế doanh thu đều chuyển sang nộp GTGT. Thời
kỳ đó có 160.000 đối tợng nộp thuế doanh thu. Các dịch vụ không phải nộp thuế,
200.000 hộ nông dân năm ngoài cơ chế GTGT.
Thứ hai: áp dụng tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ thuế nộp khâu trớc.
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
10
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
Thứ ba: Thuế suất lúc đầu áp dụng một mức thuế là 10% nh thuế doanh thu nh-
ng do cơ chế khấu trừ nên làm giảm số thuế GTGT. Để bù đắp nguồn thu, Thuỵ Điển
đã tăng phí bảo hiểm 1% trên tổng quĩ lơng. Trong quá trình thực hiện Thuỵ Điển
cũng đã điều chỉnh thuế suất và bổ sung thêm mức thuế vào.
Thứ t: Đối với những đầu t trang thiết bị, máy móc khi thực hiện GTGT cung đ-
ợc khấu trừ.
Thứ năm: Không qui định cho miễn giảm GTGT vì không thể dùng chính sách
thuế GTGT để trợ cấp.
2./ Philipines: Khi Chính phủ mới ra đời (tháng 12 năm 1986) việc cải cách sửa
đổi hệ thống thuế là việc làm trớc tiên của nớc này. Chơng trình thuế năm 1986 bao
gồm 29 khâu cải cách phải tiến hành và đã đợc soạn thảo. Một trong những cải cách
về cơ cấu đa ra trong chơng trình là ban hành thuế GTGT. Đợc thể chế hoábăng Lệnh
số 273, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1988. Nh vậy, để ban hành thuế GTGT, Philipines
đã trải qua quá trình nghiên cứu và chuẩn bị.
Ngày 1/1/1988, Philipines bắt đầu thực hiện GTGT. Có thể tóm tắt ở mấy điểm
sau:
- Thuế GTGT đợc xây dựng dể hợp lý hoá hệ thống đánh thuế hàng hoá và
dịch vụ chịu thuế, để đơn giản hoá việc quản lý thuế và làm cho hệ thống thuế
Philipines công băng hơn.
- Thuế GTGT đợc áp dụng trên diện rộng hàng hoá và một số dịch vụ, trên
từng hoạt động bán hay nhập khẩu những hàng hoá dịch vụ đó.
- Thuế suất qui định một mức là 10% đánh trên tổng giá bán hay tổng số
tiền nhận đợc từ bán hàng hoá hay dịch vụ, thay cho thuế doanh thu đối với ngời sản
Số thu
VAT/
GDP
Số thu
VAT/
GNP
1 2 3 4 5 1/2 1/3 1/4 1/5
1988 13 90 113 826 823 14,5 11,8 1,6 1,6
1989 20 122 154 964 961 16,7 13,3 2,1 2,1
1990 12 69 79 527 527 17,1 14,8 2,2 2,2
3./ Trung Quốc: Là nớc có chủ trơng nghiên cứu ban hành thuế GTGT từ năm
1980, sau 4 năm nghiên cứu, ngày 18/9/1984 chính thức ban hành. Trung Quốc đã tiến
hành theo phơng pháp thí điểm. Sau đây đề cập một số nhận xét của chuyên gia thuế
Trung Quốc từ 28/6 đến 12/7/1993 do đồng chí Trần Xuân Thắng - Tổng cục trởng
Tổng cục thống kê dẫn đầu).
Chơng trình thí điểm về thuế GTGT ở Trung Quốc đã gặp nhiều vớng mắc do
các nguyên nhân chủ yếu:
a. Cha chuẩn bị kỹ về chế độ hớng dẫn thực hiện và xử lý các trờng hợp v-
ớng mắc thực tế.
b. GTGT chỉ thực hiện cho một số sản phẩm ở khâu sản xuất, cha thực hiện
ở khâu lu thông, dịch vụ, vì vậy, trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn vớng
mắc, không xử lý triệt để, chính xác, cha đạt đợc mục đích của GTGT là khắc phục
triệt để thu thuế trùng lặp.
Bên cạnh đó, GTGT của Trung Quốc có quá nhiều thuế suất, mức chênh lệch
giữa các thuế suất cao từ 43% đến 12%. Vì vậy, khi thực hiện khấu trừ thuế phức tạp,
căn cứ không chính xác, gây ra vận dụng tuỳ tiện, không kiểm soát đợc chặt chẽ việc
khấu trừ tiền thuế ở cơ quan cấp dới.
Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo thẹc hiện đơn giản, dễ kiểm soát, hiện
nay Trung Quốc thực hiện khoán mức khấu trừ thuế cho các sản phẩm đầu vào, bớc
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
13
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
năm qua), và trong cuộc tranh luận gần đây, các chuyên gia đã nêu ra một số lý do để
Mỹ ban hanh GTGT là:
- GTGT sẽ thay thế 1 phần thuế đánh trên quĩ lơng (bảo hiễm xã hội) (52
tỷ USD).
- GTGT se thay thế 1 phần thuế thu nhập công ty (28 tỷ USD).
- Một lý do nữa đợc đa ra năm 1983 là GTGT còn có thể tài trợ cho quốc
phòng (thực tế là để tăng số thu cho Ngân sách).
Năm 1984, một sự thảo nữa đợc đa ra với ý đồ dùng GTGT để thay thế cho thuế
thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty và thuế thừa kế, thuế suất GTGT là 15%.
GTGT sẽ là động lực tạo nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách. Năm 1985, Mỹ đa ra một
dự thảo về mô hình GTGT nữa, áp dụng theo phơng án trực tiếp.
Nói chung, các phơng án đa ra nhằmban hành GTGT cuối cùng cũng chỉ là để
tăng số thu cho Ngân sách. Dù vậy các Nghị sĩ đã bác bỏ việc ban hành GTGT với
nhứng lý do chủ yếu sau:
a. Lo sợ về tính luỹ thoái của GTGT.
b. Lo lắng về việc GTGT gây lạm phát.
c. Cán bộ thuế bang và quận (địa phơng) lo sợ về việc ban hành GTGT sẽ
xâm phạm đến nguồn thu của họ.
d. Cả cơ quan thuế bang và liên bang đều lo ngại việc áp dụng GTGT sẽ tác
động về phơng diện quản lý.
Autralia: Autralia cũng là một trong những nớc OECD đến nay cha chấp nhận
GTGT vì một số lý do nh sau:
a. Lo sợ về chi phí quản lý cao.
b. Lo sợ về khả năng trốn thuế tăng.
c. Những yêu cầu về hoàn thuế khai tăng thêm có thể là một lỗ hổng cũng
nghiêm trọng tơng đơng nh lập hoá đơn sai.
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
14
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
15
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
bộ nhằm xác định rõ phạm vi , mục tiêu điều chỉnh của từng loại thuế (thuế xuất nhập
khẩu, thuế TTĐB ). Mức thuế và chính sách thuế cần có tính ổn định không nên thay
đổi luôn.
- Cần nhận thức đúng và đầy đủ tác động có thể xẩy ra trong giai đoạn đầu
áp dụng GTGT để có phơng án xử lý, trong đó vấn đề điều hành Ngân sách, quản lý
giá cả là vấn đề quan trọng.
Phần IV. Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT.
I./ những tồn tại của hên thống thuế hiện hành.
Trong quá trình thực hiện, hệ thống chính sách thuế hiện hành đã đợc sửa đổi,
bổ xung nhiều lần đáp ứng yếu cầu của tình hình thực tế. Nhng cho đến nay, nền kinh
tế nớc ta đã có những bớc phát triển theo cơ chế thị trờng, khu vực kinh tế Nhà nớc đ-
ợc sắp xếp tổ chức lại, bớc đầu hoạt động có hiệu quả; khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh phát triển đa dạng dới nhiều hình thức, các xí nghiệp hoạt động theo Luật đầu t
nớc ngoài tại Việt Nam ngày càng tăng. Chính trong bối cảnh này, hệ thống chính sác
thuế đã bộc lộ những khuyếm khuyết về các mặt:
- Cha bao quát hết các nguồn thu đã, đang và sẽ phát sinh trong nền kinh tế
thị trờng nh: lãi cổ phần, lãi tiền gửi, thu nhập từ chuyển nhợng cổ phần, thu nhập từ
chuyển nhợng tài sản; cha bao quát hết các hoạt động dich vụ.
- Trong mỗi loại thuế phải cùng một lúc vừa thực hiện mụctiêu bảo đảm
nguồn thu cho Ngân sách Nhà nớc và thực hiện mục tiêu nhiều chính sách khác, do
đó, làm cho nội dung chính sách thuế phức tạp, gây khó khăn trong quá trình thực hiện
cả đối với cán bộ thuế cũng nh đối tợng nộp thuế.
- Về mặt kỹ thuật, hệ thống thuế hiện hành cũng nh trong từng sắc thuế
còn quá phức tạp, trùng lặp, nhất là thuế doanh thu, nên hiệu quả cha cao, còn gây tâm
lí chồng chéo nặng nề.
- Trong chính sách còn có những điểm cha phù hợp với thông lệ quốc tế,
do đó, có thêt trở thành những cản trở trong quá trình mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế
Thứ nhất: Thuế GTGT có thể khắc phục đợc nhợc điểm của thuế doanh thu là
không thu trùng lắp thuế nên có tác động tích cực đối với sản xuất dịch vụ. Đồng thời
việc thực hiện thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệpcòn đòi hỏi các doanh nghiệp
của tất cả các thành phần kinh tế phải tăng cờng quản lý nh: ghi chép ban đầu, mở sổ
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
17
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
sách kế toán và mua, bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ, đổi mới công nghệ, nâng cao
chất lợng sản phẩm để đủ sức cạnh tranh trong tình hình mới.
Về lu thông hàng hoá, tuy trong bối cảnh nền kinh tế giảm phát kéo dài, nhng vì
thuế GTGT chỉ điều tiết trong phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên sẽ thúc
đẩy việc l thông hàng hoá thuận lợi.
Thứ hai: Thuế GTGT sẽ khuến khích đầu t trong nớc, mở rộng quy mô sản xuất,
kinh doanh, đổi mới công nghệ hiện đại. Thuế GTGT không đánh vào hoạt động đầu t
tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT phải trả lại khi mua sắm tài sản cố định sẽ đợc
Nhà nớc cho khấu trừ hoặc hoàn lại cho doanh nghiệp. Đồng thởitong quá trình trực
hiện, Chính phủ còn có những biện pháp khuyến khích thêm nh đối với những công
trình, hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao.
Năm 1998 sang năm 1999 mới thanh toán thì đợc nộp thuế theo mức thuế nh
cũ. Từ 01/09/1999 đã giảm 50% mức thuế GTGT cho xây dựng, lắp đặt. Nhờ đó số
vốn đầu t sẽ tăng lên.
Thứ ba: Thuế GTGT sẽ góp phần khuyến khích xuất khẩu, mở rộng thị trờng
tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh hàng hoá xuất
khẩu, giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Thuật thuế GTGT qui định hàng hoá xuất khẩu đợc hởng thuế xuất 0% và đợc
hoàn thuế GTGT đầu vào nên đã khuyến khích xuất khẩu và tạo điều kiện để hàng hoá
Việt Nam có thể cạnh tranh về giá cả so với hàng hoá tơng tự của các nớc trên thị tr-
ờng quốc tế.
Thứ t: Việc thực hiện thuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ góp phần bảo
hộ hàng hoá sản xuất trong nớc. Kết hợp với cơ chế điều hành xuất nhập khẩu hàng
ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, thiên tai lại liên tiếp
sảy ra.
Ba yêu cầu phải đạt đợc khi thực hiện triển khai các luật thuế mới:
- Bảo đảm công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, các
hộ kinh doanh trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp ổn định đợc hoạt động sản
xuất, kinh doanh, tăng cờng hạch toán kinh tế, nâng cao năng lực quản lý, nâng cao
cao khả năng cạnh tranh trong nớc, trên thị trờng quốc tế.
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
19
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
- Bảo đảm không ảnh hởng lơn đến kế hoạch thu của Ngân sách Trung ơng
trong những năm đầu thực hiẹen. Tạo điều kiện để Ngân sách địa phơng ổn định
nguồn thu, nâng dần tỷ lệ các địa phơng cân đối Ngân sách và có đóng góp cho Ngân
sách Trung ơng.
- Bảo đảm ổn định thị trờng trong nớc, tránh gây ra những biến động mạnh
về giá cả, đặc biệt là giá vật t, hàng hoá quan trọng dùng cho sản xuất và tiêu dùng
thiết yếu để ổn định sản xuất và không ảnh hởng đến đời sống nhân dân.
Nghị quyết số 18/1998/QH10 ngày 25/11/1988: "Chính phủ cần tập chung chỉ
đạo thực hiện các luật thuế mới, nhất là luật thuế GTGT. Để chủ động giải quyết kịp
thời những khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực hiện Luật thuế GTGT nhằm ổn
đinhj và phát triển sản xuất, kinh doanh. Quốc hội cho phép Chính phủ trong thời gian
đầu thực hiện đợc áp dụng quy định tại Điều 28 Luật thuế GTGT để giảm thuế đối với
hoạt động thơng mại, dịch vụ du lịch, ăn uống, và không khống chế mức giảm tối đa
50% số thuế GTGT phải nộp. Sau một thời gian thực hiện, Chính phủ trình UBTVQH
sửa đổi bổ sung các mức thuế suấttheo qui định tại Điều 8 của Luật thuế GTGT và báo
cáo Quốc hội trong kỳ họp gần nhất.
I./ những kết quả đạt đợc sau hơn hai năm thực hiện.
Trong hai năm đầu tiên triển khai các Luật thuế mới tuy gặp nhiều khó khăn,
nhng với tinh thần chủ động, lại đợc sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ chính trị, của
UBTVQH, và sự điều hành thớng xuyên, cụ thể của Chính phủ, cùng với sự cố gắng
u đãi đầu t sẽ đợc hởng mức thuế suất thấp hơn so với các dự án khác (đầu t trong nớc
hởng thuế suất là 15%, 20%, 25%, đầu t nớc ngoài là 10%, 15%, 20%) và còn đợc u
đãi miễn giảm thuế thời gian dài hơn. Thời gian đợc miễn giảm thuế cao nhất là 13
năm trong dó miễn thuế 4 năm đầu và giảm 50% thuế trong 9 năm tiếp theo. Ngoài ra,
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn khuyến khích miễn, giảm thuế đối với các trờng
hợp đầu t dây chuyền sản xuất mới, mở rộng qui mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi
trờng sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất, di chuyển có sở kinh doanh.
Đối với Nhà nớc đã giảm mức thuế chuyển quyền sử dụng đát từ 10% xuống
còn 2% đối với đát sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, đát làm
muối và giảm từ 20% xuống 4% đối với đát ở, đất xây dựng công trình, đất khác. Các
sơ sở kinh doanh chuyển quyền sử dụng đất thuê, không phải nộp thuế chuyển quyền
sử dụng đất. Đối với các cơ sở kinh doanh đợc Nhà nớc giao đất xây dựng nhà ở để
bán, xây dựng kết cấu hạ tầng cho thuê thì đất chuyển quyền đợc miễn thuế chuyển
quyền sử dụng đất không chịu thuế GTGT tính trên giá đất chuyển quyền. Ngoài ra,
Nhà nớc còn giảm lệ phí trớc bạ đất từ 2% xuống 1% lam cho thị trờng đất đai, nhà
cửa đã có dấu hiệ sôi dộng hơn trớc.
Đối với phí, lệ phí đã thống nhất áp dụng một mức thu phí, lệ phí chung cho cả
các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và các doanh nghiệp trong nớc. Giảm lệ phí
cấ giấy phép đặt văn phòng đại diện của nớc ngoài từ 5000 USD/lần (tơng đơng với 70
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
21
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
triệu đồng Việt Nam) xuống còn 1 triệu đồng/ lần và không thu lệ phí đối với trờng
hợp gia hạn giấy phép đặt văn phòng đại diện.
Trong quá trình thực hiện, một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những mặt
hàng, dịch vụ gặp khó khăn do thuế GTGT cao hơn thuế doanh thu nhng cha chuyển
đổi kịp cho phù hợp với có chế thuế mới và chịu sự ảnh hởng lớn của cuộc khủng
hoảng tài chính, tiền tệ trong khu vực nh: than, cơ khí (trừ sản phẩm cơ khí tiêu dùng),
luyện cán, kéo kim loại, máy vi tính, oá chất cơ bản, hoá dợc, vận tải, bốc xếp, xây
dựng, lắp đặt, khách sạn, ăn uống, du lịch, đã đợc UBTVQH, Chính phủ, Bộ tài chính
gỗ rừng trồng, bàn ghế, sản phẩm chế biến từ kim loại (dây đồng, dây nhôm )trong
năm 1999 cũng đợc giamt thuế xuất khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu. Cùng các biện pháp
khuyến khích xuất khẩu nh cho phép doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp, thành lập quĩ
hỗ trợ xuất khẩu thì việc thực hiện Luật thuế GTGT có tác dụng rõ nét nhất, trực tiếp
đến khuyến khích xuất khẩu. Theo qui định của luật thuế GTGT hàng hoá xuất khẩu
đợc hởng thuế suất 0% tức là đợc hoàn toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, việc
hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá thực chất là Nhà nớc trợ giá cho hàng hoá
xuất khẩu nên đã giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu tập trung đợc nguồn hàng trong n-
ớc để xuất khẩu và có lợi thế hơn trớc do giảm đợc giá vốn hàng xuất khẩu và vì thế
góp phần tăng khả năng cạnh tranh với hàng hoá trên thị trờng quốc tế. Trong năm
1999 số tiền đã hoàn thuế, tăng vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoảng 1.800 tỉ
đồng.
Vì vậy trong điều kiện thị trờng xuất khẩu bị hạn chế, giá xuất khẩu giảm nhng
với sự cố gắng của các nghanh, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu và tác động
của cơ chế chính sách nên tổng trị giá xuất khẩu của nớc ta năm 1999 vẫn tăng so với
năm 1998 là 23.18%. Trong đó những mặt hàng đợc hoàn thế đầu vào nhiều, xuất
khẩu tăng so với năm 1998 nh: cao su 37,7%, gạo 21,4%, thuỷ sản 14,4%, rau quả
39,6%, dệt may 16%, giày dép 36,4%, thủ công mỹ nghệ 48,6% điện tử 17,5%.
Ngoài việc khuyến khích xuất khẩu, thuế GTGT cà thuế tiêu thụ đặc biệt vào
hàng hoá xuất nhập khẩu đã có tác dụng cùng với thuế nhập khẩu bảo hộ có hiệu quả
sản xuất trong nớc. Nhất là khi Việt Nam tham gia các hiệp định thơng mại đa phơng,
song phơng phải cắt giảm thuế quan, thực hiện thuế suất u đãi hoặc phải cắt bỏ hàng
rào phi thuế quan thì việc bảo hộ sản xuất trong nớc bằng thuế GTGT và thuế tiêu thụ
đặc biệt là biện pháp cực kỳ quan trọng. Tính đến năm 1999, đã giảm thuế theo chơng
trình CEPT là 3591 dòng hàng, trong đó riêng năm 1999 là 1872 dòng hàng. Đồng
thoèi nân thuế nhập khẩu của 132 mặt hàng chủ yếu là hàng tiêu dùng trong nớc đã
sản xuất đợc để bảo hộ sản xuất trong nớc.
2./ Về thị trờng giá cả.
Trong hai tháng đầu năm 1999, giá một số mặt hàng nh: lơng thực, thực phẩm,
công nghệ phẩm, dợc phẩm, y tế có nhích lên so với tháng 12/1998 là do ảnh hởng
doanh đối với các doanh nghiệp. Công tác chỉ đạo quản lý thu cũng chặt chẽ và tiến bộ
nên kết quả thu năm 1999 đạt đợc dự toán Quốc hội thông qua. Tổng thu ngân sách
Nhà nớc ớc đạt 106,8% so với dự toán. Số thu từ thuế và phí đạt 105,7% dự toán năm.
Riêng số thu từ thuế GTGT thu đợc 16.590 tỷ đồng sau khi trừ số thuế phải hoàn, số
còn lại tơng đơng với doanh thu tính theo mặt hàng năm 1999.
Xét theo địa phơng thì có 61/61 tinh, thành phố đều hoàn thành và hoàn thành
vợt mức dự toán năm nên khả năng các địa phơng đợc thởng lơn. Trong đó có 22/61
địa phơng hoàn thành toàn diện cả ba chỉ tiêu chủ yếu là thu từ khu vực doanh nghiệp
Nhà nớc, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và khu vực ngoài quốc doanh. Số địa
nguyễn thu hồng tài chính doanh nghiệp 41-d
24
đề án lý thuyết tài chính tiền tệ đại học kinh tế quốc dân
phơng hụt về thuế GTGT ngân sách Trung ơng phải bù thêm chỉ có 14 địa phơng và số
phải bù cung không lơn.
Tuy nhiên, tỷ lệ động viên thuế cà phí trên GDP của năm 1999 thấp (17,6%) cha
đạt mức độ động viên theo Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra la 20% đến
21% GDP.
4./ Về công tác quản lý hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp.
Để từng bớc thực hiện chính sách công bằng về thuế, đã điều chỉnh lại từ 11
mức thuế suất thuế lợi tức xuống còn 1 mức thuế suât thu nhập doanh nghiệp, đòi hỏi
các doanh nghiệp phải phấn đấu sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, đổi mới trang thiết bị,
nâng cao trình độ quản lý để thực hiện đợc các mức thuế suất mới. Do yêu cầu của
việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Tính đúng thuế thu nhập doanh
nghiệp trên nguyên tắc phải có hoá đơn, chứng từ, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp
ngời kinh doanh chú trọng tổ chức thực hiện tốt hơn công tác mở sổ sách kée toán, ghi
chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ. Trong năm 1999, số lợng hoá đơn các
doanh nghiệp sử dụng tăng gần gấp đôi so với năm 1998 và mức sử dụng hoá đơn tăng
thể hiện sự chuyển biến một bớc tiến mới trong công tác sử dụng hoá đơn và quản lý
của doanh nghiệp. Sự chuyển biến nầy thể hiện rõ nhất trong các doanh nghiệp t nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đã thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn