công nghệ chế biến lương thực - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG
BÀI TIỂU LUẬN:
CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN
LƯƠNG THỰC
THÀNH VIÊN NHÓM:

1. Nguyễn Thị Kim Chi
2. Nguyễn Ngọc Anh Phương
3. Trần Ngọc Tuyền
4. Tô Thị Thùy Trang
5. Nguyễn Minh Mẫn

GVHD: THS.TRẦN QUANG DŨNG

trà. Việt Nam sở hữu năng lực sản xuất rất mạnh về nguồn thủy sản, là quốc gia đứng thứ 5 trên
thế giới về sản lượng nuôi trồng thuỷ sản ( kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản 2010 lên tới 3.98 tỷ $). Một vài số liệu xuất khẩu của ngành trong 9 tháng đầu năm 2011:
- Sắn và các sản phẩm từ sắn: 747 triệu $ xuất khẩu (cao hơn 92,6% so với cùng kỳ năm trước).
Giá xuất khẩu đạt 355.5 triệu $/tấn (hơn 28.9%). Nước nhập khẩu lớn nhất là Trung Quốc
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG
(92.7%).
- Café: 2.2 tỷ $ với gần một triệu tấn, tăng 8.9% khối lượng sản xuất và 66.5% mức tăng
trưởng so với cùng kỳ. Giá trị xuất khẩu đạt 2.208 $/tấn (tăng 54.2%/năm).
- Trà: 153 triệu $, tăng lên 7.5%/ năm, xuất khẩu 99 000 tấn trà.
- Hạt điều: 1.1 tỷ $ ( tăng 38.6% so với cùng kỳ).
- Tiêu: 663 triệu $ ( tăng 100% so với cùng kỳ).
LÚA GẠO: KẾT QUẢ KHÍCH LỆ TRƯỚC KHI HẬU THẤT THƯỜNG
Lúa gạo: kết quả khích lệ trước hiện trạng khí hậu thất thường.
Theo Hiệp hội lương thực Việt Nam, năm 2011, sản xuất lúa gạo trong nước đạt 41.6 triệu tấn,
hơn 1.52 triệu tấn so với năm 2010.
Trong 9 tháng đầu năm 2011, Việt Nam xuất khẩu gần 5.8 triệu tấn lúa gạo, thu về 2.81 tỷ $.
Trong quý đầu tiên, Việt Nam đã ký hợp đồng xuất khẩu hơn 1 triệu tấn lúa gạo sang các nước
Indonesia, Philipine, Banglades, và Cuba.
Hiện nay, Philipine là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, với gần 1.5 -1.8 tấn/năm.
30% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các nước châu Phi và các tiểu vương
quốc Ả Rập thống nhất.

Theo VFA (hội lương thực thực phẩm Việt Nam), năm 2011, tổng khối lượng gạo xuất khẩu
vượt qua mức 5 triệu tấn, tăng 17.57% về khối lượng và 24.71% giá trị so với năm 2010.

nông nghiệp. Theo dự án này, 155 khóa đào tạo về sinh học nông nghiệp được tiến hành, 88
nhóm nông dân sản xuất sản phẩm từ sinh học nông nghiệp cũng được tạo thành trong 9 tỉnh.
Những sản phẩm thuộc dự án rất đa dạng: rau củ, gạo, cam, vải, bưởi, trà, cá…Những rau củ đầu
tiên sản xuất theo chương trình sinh học nông nghiệp được bán trong các siêu thị lớn như Big C (
Hà Nội).

Hướng đến ngành công nghiệp chế biến & Đào tạo tốt hơn cho nông dân.
Ngành nông nghiệp thu hút những nguồn vối đầu tư, cũng như giúp đỡ từ phía chính phủ để phát
triển, chiếm khoảng 50-60% tổng nguồn vốn đầu tư trong lĩnh vực. Tổng cộng có khoảng 2.25 tỷ
$ nguồn hỗ trợ từ chính phủ trong giai đoạn 2010-2015.
Song song với việc phát triển, chính sách đào tạo nông dân vừa được ban hành. Mục tiêu của
chính sách đặt ra nhằm thực hiện có hiệu quả việc tái cơ cấu nông nghiệp ở Việt Nam, cải thiện
đời sống của người nông dân. Năm 2011, gần 800 000 nông dân đến từ các tỉnh trong cả nước
than gia lớp huấn luyện này.
Bắt đầu từ năm 2010, chương trình huấn luyện, đào tạo dành riêng cho người lao động ở nông
thôn đã bước đầu thực hiện. Chính phủ đã bỏ ra gần 260 tỷ đồng để thực hiện dự án này. Trong
giai đoạn 2011-2015, 5.2 triệu nông dân và khoảng 500 000 làng xã đã nhận được nguồn tài trợ
này, và đến giai đoạn 2016-2020, con số này tăng lên đến 6 triệu nông dân.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG
Bước chuyển quan trọng nhất của ngành này là vấn đề tài chính. Việt Nam là nước đang cố
gắng phát triển nền công nghiệp chế biến nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu của sản phẩm nông
nghiệp ( phát triển công nghệ đóng gói, đông lạnh, …)

Tiêu biểu như vào tháng 6/2011, nhà máy chế biến đậu nành đã khánh thành ở tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu. Nhà máy thuộc sở hữu của Công ty TNHH Bunge Việt Nam (Công ty con của Bunge
Limited của Mỹ). Nhà máy chế biến 1 triệu tấn đậu nành mỗi năm, phục vụ cho thị trường quốc
tế và Đông Nam Á ( khoảng 600 tấn dầu nành thô được sản xuất ra hằng ngày và khoảng 200
000 tấn dầu nành mỗi năm).
Tăng trưởng nhập khẩu thực phẩm từ nước ngoài
Là một quốc gia nông nghiệp. nhập khẩu thực phẩm từ nước ngoài ngày một tăng ở Việt Nam

Các nhóm sản phẩm hướng tới bao gồm các dự án về trồng lúa, ngủ cốc, chăn nuôi, lâm nghiệp,
thủy sản, thủy lực, công nghệ bảo quản và chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Ngoài ra, do hạn chế về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là những trang bị phục vụ cho thu hoạch và bảo
quản, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả sau thu hoạch. Để giảm thiểu thiệt hại, chính phủ
nhấn mạnh vấn đề hiện đại hóa ngành. Đến năm 2020, một trong những mục tiêu đặt ra cho
ngành trồng lúa là sử dụng hơn 50% máy móc cho thu hoạch và phải có khả năng lưu trữ đến 4
triệu tấn lúa trong điều kiện tốt nhất nhờ vào hệ thống kho lưu trữ hiện đại.
Nhu cầu trang bị cho lĩnh vực tưới tiêu ở Việt Nam cũng rất quan trọng, đặc biệt là trong xây
dựng hệ thống bơm nước. Hiệp hội doanh nghiệp Pháp tại Việt Nam (CCIFV) đã kêu gọi và hỗ
trợ chuyên gia sang Pháp để mua và học hỏi các kinh nghiệm sử dụng phân bón và tưới tiêu.
*đồng bằng song cửu long
Hiện nay, vùng ĐBSCL sản xuất mỗi năm trên 20,7 triệu tấn lúa, chiếm 53,4% sản lượng lúa và
90% lượng gạo xuất khẩu cả nước; sản lượng mía trên 5 triệu tấn, diện tích cây ăn quả khoảng
290.000 ha, hàng năm cho sản lượng khoảng 2,5 triệu tấn, trong đó có nhiều sản phẩm nổi tiếng
như cam sành, bưởi, quít, xoài, vú sữa, măng cụt, sầu riêng
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là trung tâm sản xuất lượng thực thực phẩm, thủy sản và
cây ăn trái nhiệt đới lớn nhất nước…. Với nguồn nguyên liệu phong phú và có sản lượng lớn
….nhưng đến nay, công nghiệp chế biến ở khu vực này chỉ ở mức sơ chế là chủ yếu, tỷ lệ chế
biến chuyên sâu còn thiếu và yếu nên chưa tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, thu nhập của
người nông dân còn thấp, lãng phí lớn đến nguồn nguyên liệu phong phú của khu vực này. Vì
sao ?

* Công nghiệp chế biến còn thiếu và yếu

Hiện nay, vùng ĐBSCL sản xuất mỗi năm trên 20,7 triệu tấn lúa, chiếm 53,4% sản lượng lúa và
90% lượng gạo xuất khẩu cả nước; sản lượng mía trên 5 triệu tấn, diện tích cây ăn quả khoảng
290.000 ha, hàng năm cho sản lượng khoảng 2,5 triệu tấn, trong đó có nhiều sản phẩm nổi tiếng

khai thác các nguồn lực, nhất là các nguồn lực đất đai sử dụng chưa hợp lý. Ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng, thiếu hụt nguồn nhân lực cao, năng lực cạnh tranh thấp
Với nguồn nguyên liệu phong phú, số lượng lớn, Nhưng nhìn chung, ngành công nghiệp chế biến
của vùng còn yếu kém; quy mô nhỏ, chưa tương xứng với nguồn nguyên liệu và yêu cầu phát
triển kinh tế của vùng. Theo các ngành hữu quan, công nghiệp chế biến và xuất khẩu nông thủy -
sản của vùng ĐBSCL nhìn chung phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn nguyên
liệu của địa phương. Xuất khẩu thủy sản tăng trưởng chậm; sản phẩm chủ yếu xuất ở dạng thô;
nhiều sản phẩm làm ra giá thành còn cao, sức cạnh tranh thấp; hệ số sử dụng công suất chế biến
thủy sản đông lạnh và chế biến rau quả đạt thấp; các cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi và nuôi
trồng thủy sản chưa phát triển Ngoài ra, công suất xay xát và chế biến gạo xuất khẩu chưa
tương ứng với nguồn nguyên liệu của địa phương, công nghệ xay xát lạc hậu tiêu tốn nhiều năng
lượng, tỷ lệ hao hụt cao. Công nghiệp chế biến của vùng chủ yếu gồm: Ngành xay xát lương thực
với số lượng cơ sở được phân bố ở hầu hết các tỉnh, thành với nhiều nhà máy có công suất khác
nhau, theo số liệu thống kê, sản lương xay xát toàn vùng năm 2009 đạt 7 triệu 883 ngàn tấn. Chế
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG
biến thủy sản có 133 nhà máy với tổng công suất 690.000 tấn / năm. Mặc dù chế biến thủy sản -
là ngành công nghiệp mũi nhọn, luôn chiếm tỷ trọng và có tốc độ tăng trưởng cao trong vùng,
nhưng sản phẩm chế biến chỉ dừng lại ở mức là cá tra phi lê, tôm đông lạnh, mực đông lạnh
…TS Nguyễn Việt Thắng, Viện trưởng , Viện Nghiên cứu thủy sản Bình An cho rằng toàn bộ
con cá tra đều sử dụng được, ngoài việc làm phi lê xuất khẩu thì xương, da, bong bóng, mỡ cá…
đều chế biến thành những sản phẩm hữu ích . Ông Thắng còn cho biết, hiên nay Viện của ông
đang nghiên cứu, tận dụng những phụ phẩm con trá để chế biến các mặt hàng như: nước mắm
cao cấp, dầu ăn và nhất là sản xuất sản phẩm collagen cao cấp làm từ da cá tra …chắn chắc với
những sản phẩm trên sẽ tạo ra giá trị gia tăng lớn từ con các tra .

Theo các nhà kinh tế, nguyên nhân công nghiệp chế biến ở ĐBSCL chậm phát triển và không thu
hút được các nhà đầu tư là do chất lượng quy hoạch và định hướng chung cho phát triển mang
tính kinh tế vùng còn thấp; thiếu chiến lược chung và thiếu đồng bộ và tính liên kết, làm cho việc
khai thác các nguồn lực, nhất là các nguồn lực đất đai sử dụng chưa hợp lý. Ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng, thiếu hụt nguồn nhân lực cao, năng lực cạnh tranh thấp

nhà máy chế biến sâu nhằm tận dụng các loại phụ phẩm của thủy sản để tạo ra giá trị gia tăng
cao. Về chế biến rau quả, trước mắt sẽ tiếp tục nâng cao hiệu quả và tận dụng công suất chế biến
của các nhà máy hiện có ở An Giang và Kiên Giang. ĐBSCL còn đang kêu gọi đầu tư thêm các
nhà máy rau quả đóng hộp, chế biến nước giải khát … để tiêu thụ nguồn nguyên liệu hoa quả lớn
trong vùng./.

*thế mạnh phát triển lương thưc của ĐBSH và ĐBSCL
1. Sự giống nhau.
a. Về vị trí và quy mô.
- Cả 2 đồng bằng đều là châu thổ rộng nhất nằm ở hạ lưu 2 hệ thống sông lớn nhất của nước ta.
- Đây là 2 vùng trọng điểm lương thực, thực phẩm quan trọng nhất của đất nước.
+ Lúa là cây trồng chủ đạo.
+ Diện tích canh tác lớn nhất.
+ Sản lượng nhiều nhất với năng suất cao nhất.
- Là 2 vùng có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nhu cầu ăn trong nước và xuất khẩu.

b. Về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.
- Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
- Đất đai của 2 đồng bằng này nhìn chung là đẩt phù sa màu mỡ do sông ngòi bồi đắp.
- Khí hậu nhiệt đới, nắng lắm, mưa nhiều tạo điều kiện tốt cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và
phát triển.
- Có các sông lớn chảy qua với lưu lượng nước phong phú.
- Giáp với vùng biển rộng lớn, có nguồn lợi biển đa dạng, phong phú với nhiều bãi cá có giá trị
về mặt kinh tế.

c. Về điều kiện kinh tế - xã hội.
- Là các vùng dân cư trù phú, nguồn lao động dồi dào, có kinh nghiệm trồng lúa, chăn nuôi, nuôi
trồng và đánh bắt thuỷ sản, hải sản.
- Có nhiều cơ sở chế biến nguyên liệu từ nông nghiệp, ngư nghiệp.
- Trên 2 đồng bằng có hệ thống đô thị, trong đó có những đô thị vào loại lớn nhất của cả nước

động có nhiều kinh nghiệm trồng lúa nước.
- Trình độ thâm canh ở đồng bằng sông Hồng cao hơn. Hệ thống sử dụng ruộng đất lớn hơn. Vì
vậy, năng suất ở đây thuộc vào hàng đứng đầu trong cả nước.
- Đồng bằng sông Hồng được khai thác từ lâu đời, trong khi đó ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ
có khoảng vài trăm năm nay.
*ĐBSCL LÀ VỰA LÚA LỚN NHẤT NC TA
1. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm lúa lớn nhất nước ta do những thuận lợi
sau đây:
a. Tài nguyên thiên nhiên:
- Tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực quan trọng nhất làm cho đồng bằng trở thành vựa lúa lớn
nhất của cả nước.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG
- Các loại tài nguyên quan trọng nhất:
+ Đất đai: Diện tích 4 triệu ha, trong đó diện tích trồng lúa khoảng 2,8 triệu ha. Bình quân đất
trồng lúa theo đầu người gấp 3 lần so với đồng bằng sông Hồng.
Đất phù sa màu mỡ do được phù sa sông Tiền, sông Hậu bồi đắp. Đặc biệt là dải phù sa ngọt dọc
theo sông Tiền, sông Hậu là loại đất tốt nhất để trồng lúa.
+ Khí hậu mang tính chất cận xích đạo, nhiệt độ cao, biên độ nhiệt ít dao động trong năm. Có
một mùa mưa, một mùa khô, ít có bão, thời tiết ổn định là điều kiện cho cây lúa có thể phát triển
quanh năm (có thể phát triển 3 vụ lúa: vụ đông xuân, vụ hè thu và vụ mùa).
+ Nguồn nước dồi dào. Tổng lượng nước của hệ thống sông Cửu Long rất lớn. Hệ thống kênh
rạch chằng chịt. Nước có ý nghĩa lớn đối với việc thau chua, rửa mặn. Sông ngòi, kênh rạch còn
là con đường giao thông thuận tiện.

b. Đồng bằng sông Cửu Long là nơi đông dân. Đây là nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu
thụ tại chỗ quan trọng. Đó là tiềm năng lớn để phát triển sản xuất.

c. Đồng bằng sông Cửu Long đang được đầu tư, cải tạo về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kĩ
thuật để biến vùng này trở thành vùng trọng điểm lúa hàng hoá lớn nhất của cả nước và đáp ứng

ít. Nếu giải quyết tốt vấn đề thuỷ lợi, diện tích lúa có thể tăng 1 triệu ha so với diện tích gieo
trồng hiện nay.
- Đẩy mạnh các biện pháp thâm canh và phát triển công nghiệp chế biến.
*nhu cầu lương thực
Con người cần lương thực thực phẩm để duy trì cơ thể của con người và đảm bảo những hoạt
động khác nhau của các bộ phận trong cơ thể con người. Nếu thức ăn đủ chất dinh dưỡng, được
cấu trúc theo một tỉ lệ hợp lý, cơ thể sẽ khỏe mạnh; ngược lại, thì cơ thể sẽ yếu đuối.
Nguồn thức ăn có thể được phân thành 3 loại chức năng: Thức ăn để xây dựng cơ thể, bao gồm
protid, muối khoáng, nước; Thức ăn để cung cấp năng lượng cho cơ thể, bao gồm hydrocacbon
và chất mỡ; Thức ăn có tác dụng điều hòa, bao gồm protid, enzyme, muối, nước và vitamin.
Thức ăn và chức năng của chúng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG
Nhu cầu về khối lượng, chất lượng và tác dụng của lương thực thực phẩm
 Mục đích của việc cung cấp lương thực thực phẩm cho con người như xây dựng cơ thể: tạo các
tế bào mới bảo đảm sự phát triển của cơ thể (trẻ em đang lớn) hoặc thay thế các tế bào già (ở cơ
thể trưởng thành); Bù đắp năng lượng đã mất đi cho các hoạt động sống và lao động.
 Sự cần thiết của lương thực thực phẩm thể hiện ở hai mặt là lượng và chất.
Nếu nhu cầu lương thực thực phẩm được tính bằng calo, thì lượng calo cần thiết ở mỗi người sẽ
khác nhau phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính, lao động, khí hậu.
Ngoài ra, thức ăn phải đủ các yêu cầu về protid, glucid, lipid, vitamin và chất khoáng. Trong đó,
protid được xem là một chỉ tiêu quan trọng nói lên mức sống của một gia đình, một cộng đồng,
một quốc gia. Theo chỉ tiêu này, mức sống của các khu vực trên thế giới rất khác nhau.
Khu vực
Tổng năng lượng cung cấp hàng
ngày (kcal)
Lượng calo có từ nguồn gốc động vật trong khẩu
phần ăn hàng ngày

(kcal)

Đối tượng
Nhu cầu năng lượng trong ngày (kcal)
Lượng protid cần cung cấp

(gam)
(%)
Trẻ từ 1-2 tuổi
1.230
24
7,8
Trẻ từ 4-9 tuổi
1.970
29
5,9
Thiếu niên
3.050
61
8,0
Thanh niên
3.200
34
4,25
Mẹ đang cho con bú
3.200
76
9,5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG
Bảng 2. Nhu cầu protid ở các độ tuổi khác nhau
 Suy dinh dưỡng, bội dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng xảy ra khi trong khẩu phần ăn của con người không đủ lượng và chất, dẫn đến

một trong "tứ chứng nan y" của loài người: AIDS, ung thư, béo phì và ma túy.
Hậu quả của bội dinh dưỡng-béo phì: Nguy cơ của các bệnh mãn tính như tiểu đường, cao huyết
áp, tim mạch, một số loại ung thư, rối loạn hô hấp, thoái hóa xương khớp, sỏi mật, gan nhiễm
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG
mỡ, bệnh túi mật … và làm giảm tuổi thọ. Hạn chế về sức khỏe, học hành, lao động, cống hiến,
chất lượng sống, tăng chi phí và chi phí cao cho bản thân, gia đình và xã hội …. Việc điều trị béo
phì là cực kỳ khó khăn vì phải thay đổi lối sống và thói quen ăn uống.
Sản lượng lương thực và sự gia tăng dân số
Nguy cơ của sự nghèo – nạn đói
Tổng số lương thực ở mỗi nước không đều nhau. Nước nghèo thường không có tiền để mua đủ
lương thực, đất đai lại ít trồng cây lương thực, mà trồng cacao, cà phê xuất khẩu sang các nước
phát triển.
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Hoa Kỳ đánh giá rằng có 450–800 triệu dân tộc suy
dinh dưỡng phần lớn ở các nước kém phát triển. Ngay cả Ấn Độ là nước sản xuất lương thực
nhưng cũng gặp nạn đói.
Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), hiện Châu Á có khoảng 900 triệu người (khoảng
26%) sống dưới mức nghèo khó (thu nhập 1 USD/ ngày). Theo báo cáo hàng năm của Liên Hiệp
Quốc, hiện nay có khoảng 35% dân số trên thế giới đang sống trong tình trạng không được cung
cấp đủ lương thực.
Tốc độ gia tăng dân số trong những năm gần đây lớn hơn tốc độ gia tăng lương thực.
Đất đai hạn chế, thời tiết thất thường, thiên tai ngày càng khốc liệt … Sâu bệnh, nạn châu chấu,
chuột làm mùa màng thất bát hao hụt.
Thực trạng trên làm người ta chú ý và chấp nhận lý thuyết của Malthus: "dân số nhất định sẽ
vượt quá khả năng cung cấp lương thực của thế giới”.
Từ những thực tế trên, con người cần thiết phải dự báo và đề ra phương hướng giải quyết vấn đề
lương thực thực phẩm cho nhân loại trong tương lai.
Mâu thuẫn trong vấn đề sản xuất và cung cấp lương thực thực phẩm
Sự phân phối lương thực không đồng đều giữa các nước, trong mỗi nước và giữa những gia đình
có mức thu nhập khác nhau. Tại các nước phát triển, sản lượng lương thực cao, dân số tăng chậm
nên lương thực bình quân đầu người tăng hàng năm, có lương thực thừa để dự trữ, xuất khẩu. Tại

 Trong nông nghiệp, sản phẩm được tạo ra trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng
và súc vật nuôi. Đó là quá trình sinh học, rất phức tạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khó điều khiển
(thời tiết, khí hậu).
Các loại lương thực thực phẩm sử dụng chủ yếu hiện nay là lúa mì, lúa, bắp và khoai; cá, thịt và
những sản phẩm của động vật như: sữa, trứng, phó mát. Phần lớn thịt đến từ các vật nuôi như bò,
cừu, lợn, gà, gà tây, ngỗng, vịt, dê và trâu.
Lương thực thực phẩm hầu hết dùng là ½ lượng thóc thế giới và 1/3 lượng cá. Ngươi nghèo
thường dùng thóc nhiều hơn thịt.
Những triển vọng trong sản xuất nông nghiệp:
 Thay dần nền nông nghiệp có tính chất cổ truyền, bảo thủ và cá thể bằng những biện pháp canh
tác khoa học.
 Mở rộng diện tích trồng trọt: chủ trương này được nhiều nước chú ý, như những cuộc khai hoang
ở Sibêri, khai hoang vùng Amazon ở Châu Mỹ La Tinh…. Còn ở Việt Nam, việc lấn đất ra biển,
lên rừng, Tây Nguyên, cải tạo đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng cũng làm
tăng thêm diện tích canh tác.
 Triển khai mạnh mẽ cuộc Cách mạng xanh tại các nước đang phát triển.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG
 Cần có một chính sách giá cả nông sản hợp lý.
 Cần có chính sách dân số hợp lý đi kèm với việc kiểm soát sinh sản một cách hữu hiệu.
 Kiểm soát dịch hại ở các khâu: xử lý hạt giống, canh tác, tồn trữ.
 Cải tiến nông nghiệp.
 Sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên.
 Hướng việc nghiên cứu vào vấn đề sản xuất lương thực tổng hợp.
 Thực phẩm có chuyển gen của vi sinh vật.
Tại sao công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm lại là ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta?
Nhằm góp phần vào việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại các làng nghề chế biến lương
thực, chúng tôi tập trung nghiên cứu đề xuất các biện pháp công nghệ xử lý nước thải làng nghề
chế biến lương thực. Trong công trình này chúng tôi tiến hành nghiên cứu xử lý nước thải làng
nghề chế biến lương thực bằng phương pháp lọc sinh học ngập nước.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG

I. Thực nghiệm

1. Đối tượng nghiên cứu
 Nước thải được lấy để nghiên cứu là nước thải làng nghề chế biến lương thực của xã Minh Khai,
huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (xã được công nhận là “Làng nghề chế biến nông sản” năm 2001,
có 700 hộ trong tổng số 1.200 hộ dân tham gia sản xuất chế biến lương thực). Với các nghề
chính là làm bún, phở khô, làm miến dong, sản xuất và tinh chế tinh bột sắn.
 Đặc điểm của nước thải làng nghề chế biến lương thực là thường chứa các tạp chất hữu cơ ở
dạng hòa tan hoặc lơ lửng, trong đó chủ yếu là các hợp chất hydrat cácbon như tinh bột, đường,
các loại axit hữu cơ (lactic) có khả năng phân hủy sinh học. Tỷ số BOD/COD trong khoảng từ
0,5 đến 0,7 nên chúng thích hợp với phương pháp xử lý sinh học [1, 2, 3, 4].
2. Thiết kế thí nghiệm

Sơ đồ hệ thống xử lý bằng phương pháp lọc sinh học ngập nước Nước thải của quá trình sản xuất bún, miến hoặc tinh chế tinh bột sắn được lắng gạn sơ bộ ở bể
lắng (1) trước khi đưa vào bể chứa (2) sau đó nước thải được bơm vào cột lọc kị khí (3) theo
chiều từ dưới lên với lưu lượng dòng được khống chế nhờ máy bơm (9) và ống chia dòng (8). Ở
đây nước thải sẽ từ từ dâng lên ngập lớp vật liệu lọc (5) và tiếp xúc với lớp vật liệu lọc mang vi
sinh vật kị khí, các tạp chất hữu cơ có trong nước thải sẽ bị phân hủy, phần bùn cặn được lắng
xuống đáy cột và có thể lấy ra qua van (10) khi cần thiết; phần nước thải trong tiếp tục chảy tự
nhiên qua cột lọc hiếu khí (6) từ phía dưới lên theo nguyên tắc bình thông nhau. Ở đây nước thải
được trộn với dòng không khí thổi cùng chiều từ dưới lên bởi máy thổi khí (11) qua dàn phân

học kị khí và hiếm khí sau thời gian 24 giờ, các chỉ tiêu cơ bản của nước thải sau xử lý đều đạt
thấp hơn tiêu chuẩn Việt Nam về nước thải công nghiệp cho phép chảy vào nguồn nước công
cộng. Cụ thể sau 24 giờ xử lý: COD = 26,2 mg/l, [NH4+] = 0,36 mg/l, [NO2-] = 0,05 mg/l; độ
đục = 2,70 NTU; pH = 8,07.

2. Kết quả xử lý nước thải sản xuất miến dong

Nước thải sản xuất miến ban đầu có các giá trị cơ bản sau:
COD = 840 mg/l, BOD5 = 580 mg/l (tỷ số BOD5/COD = 0,69);
[NH4+] = 13,51 mg/l; [NO2-] = 0,35 mg/l, độ đục = 99,5 NTU, pH = 4,01.
Sau khi trung hòa và pha loãng gấp đôi để có thể tích 58 lít và pH = 8,05; nước thải được xử lý
qua hệ thống lọc sinh học kị khí và hiếu khí (như phần 2.2) với tốc độ 12lít/h. Kết quả thu được
như sau:

2.1 Sự thay đổi COD, độ đục theo thời gian xử lý
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG 2.2 Sự thay đổi pH, NH4+, NO2- theo thời gian xử lý Kết quả thu được ta thấy: Đối với nước thải sản xuất miến có các chỉ tiêu ban đầu: COD = 438,8
mg/l, [NH4+] = 6,75 mg/l; [NO2-] = 0,19 mg/l, độ đục = 45.2 NTU, pH = 8,05 được xử lý qua
hệ thống lọc sinh học kị khí và hiếu khí sau thời gian 10 giờ các chỉ tiêu cơ bản của nước thải sau
xử lý đều đạt các tiêu chuẩn Việt Nam về nước thải công nghiệp (TCVN 5945 - 1995). Cụ thể là:
COD = 97,3 mg/l, [NH4+] = 1,87 mg/l; [NO2-] = 0,11 mg/l, độ đục = 9,71 NTU, pH = 8,23.

III. Kết luận
 Nước thải làng nghề chế biến lương thực (sản xuất bún, miến hoặc tinh chế tinh bột) thường
chứa các tạp chất có khả năng bị phân hủy sinh học (tỷ lệ BOD5/COD từ 0,6 đến 0,7) nên có thể

v.v… cũng như được lên men để sản xuất bia, rượu, hay nhiên liệu sinh học. Theo dự báo của
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG
Hãng phân tích ở Đức, F.O.Licht, sản lượng lúa mì thế giới vụ 2009/10 lên 659 triệu tấn, do khả
năng một số nước sẽ được mùa. Con số mới này cao hơn 2% so với dự báo hồi tháng 8, mặc dù
vẫn thấp hơn mức 684,5 triệu tấn sản xuất trong vụ 2008/09. Lúa mì là thực phẩm quan trọng cho loài người

Ngô:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ SÀI GÒN THS.TRẦN QUANG DŨNG
Ngô là một loại ngũ cốc quan trọng trên thế giới, đứng thứ ba sau lúa mì và lúa gạo. Sản
lượng sản xuất ngô ở thế giới trung bình hàng năm từ 696,2 đến 723,3 triệu tấn (năm 2005-
2007). Trong đó nước Mỹ sản xuất 40,62% tổng sản lượng ngô và 59,38% do các nước khác sản
xuất. Sản lượng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hàng năm từ 82,6 đến 86,7 triệu tấn.
Trong đó, Mỹ xuất khẩu 64,41 % tổng sản lượng và các nước khác chiếm 35,59 %.
Các loại ngô ở nước ta
Sản phẩm ngô được sử dụng với 3 mục đích chính: Làm lương thực cho người, thức ăn
cho gia súc và nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến.
Cây ngô có giá trị đáng kể nhờ thành phần hóa học của các chất có trong hạt ngô như gluxit,
protein, chất béo, chất xơ thô, đường và các axit amin. Các chất này đều là nguồn cung cấp chất
dinh dưỡng có giá trị và quan trọng cho người và gia súc, gia cầm.
MNPB Việt Nam là vùng có diện tích và sản lượng ngô hàng hoá lớn nhất nước, nhưng từ khâu
sản xuất đến thu hoạch, bảo quản còn nhiều vấn đề cần khắc phục. Do đặc điểm của địa hình và
khí hậu của miền Bắc rất phức tạp và bất lợi trong vụ thu hoạch ngô xuân hè (vụ ngô chính). Vụ
thu hoạch vào mùa mưa nên giá thành vận chuyển cao, ngô thu hoạch về thường hay bị thối mốc,
tỷ lệ bị sâu mọt cao làm giảm chất lượng. Trong quá trình tách hạt, công đoạn phân loại ngô chưa
được quan tâm nên còn lẫn nhiều tạp chất, lẫn mọt, mốc cũng như chưa phân loại kích thước hạt
nên chi phí phơi sấy tăng lên, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng ngô khi đưa vào bảo quản. Qua
thực tế cho thấy, mới có khoảng 40% ngô được qua phơi sấy kịp thời, trong khi đó, nhiều chủ hộ

Cất giữ ngô bắp đã khô trong 2 lớp bao buộc chặt miệng. Lớp trong là túi nilon, lớp ngoài là bao
đay hoặc bao tơ dứa. Xếp các bao ngô ở nơi khô ráo, thoáng mát, cách mặt đất 5 gang tay (1m),
cách tường vách trên 1 gang tay (20cm). Nếu nơi bảo quản ngô đã có khả năng phòng chống
chuột thì có thể bảo quản ngô trên sàn có lót lớp trấu khô sạch dày trên 20 cm và có phủ phên,
cót.
Phải thường xuyên kiểm tra để kịp thời phát hiện và xử lý các sự cố. Khi kiểm tra phải tẽ thử và
quan tâm xem xét tình trạng phôi ngô. Khi phôi ngô có hiện tượng biến màu, biến dạng, xuất
hiện sâu mọt, khối ngô bị bốc nóng, phải tiến hành tẽ ngô, làm khô, làm gạch, phân loại, xử lý
sâu mọt rồi mới bảo quản tiếp.
• Bảo quản ngô hạt
Có thể bảo quản ngô hạt trong các chum, vại, thùng có nắp kín hoặc bảo quản trong vựa bằng
cách quây 2 lớp cót. Giữa 2 lớp cót đổ trấu khô sạch. Nền vựa được lót trấu sạch dày 1 gang tay
(20cm), trên lớp trấu được phủ 2 lượt phên, cót hoặc bao tải, giữa có lót thêm lớp vôi cục dày
3cm. Sau khi đổ ngô vào vựa, san phẳng bề mặt khối ngô và phủ lên trên cùng một lớp cót hoặc
bao tải, phía trên có một lớp vôi cục dày 5cm.
Nếu lượng ngô quá nhiều, có thể đóng ngô hạt vào bao kín. Xếp các bao ngô theo luống, mỗi
luống 3 - 5 bao, có khoảng cách giữa các luống và tường kho. Giữa bao và sàn kho có lớp trấu
ngăn cách. Kho phải có lưới phòng chống chim, chuột.
• Bảo quản ngô hạt tươi dùng cho chăn nuôi
Để bảo quản ngô tươi, tẽ ngô thành hạt và đựng trong các túi nhựa kín, túi càng dày càng tốt,
buộc chặt miệng. Nếu túi mỏng có thể lồng 2 - 3 túi vào nhau. Trong túi kín, hạt ngô tươi có
cường độ hô hấp cao, tạo nhiều khi CO2 có tác dụng ức chế men mốc gây thối hỏng và sâu mọt.
Cần phải giữ túi không thủng rách. Có thể bảo quản ngô tươi như thế tới 20 ngày không bị thối
hỏng, ngô sẽ có mùi chua nhẹ nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng hạt ngô. Khi có điều kiện
thuận lợi, tiến hành làm khô để bảo quản ngô lâu dài.
• Bảo quản ngô giống
Đối với ngô giống, thì sau khi thu hoạch cần phải làm khô ở dạng nguyên bắp, để ngô chín kỹ, dễ
tẽ hơn. Trước khi phơi cần loại bỏ những bắp non, bị sâu mọt Sau khi làm khô sơ bộ, thì phân
loại lần 2, để tách những bắp chưa đạt yêu cầu. Khi tẽ ngô xong, phải phân loại lần 3 để thu được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status