CHÍNH SÁCH VÀ CẢI CÁCH NGOẠI
THƯƠNG TRÊN BÌNH DIỆN TỔNG THỂ NỀN
KINH TẾ
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2005 – 2006
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Bài đọc
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 2 Chính sách và cải cách ngoại
thương trên bình diện tổng thể nền kinh tế Bernard Hoekman 1 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang HùngCHÍNH SÁCH VÀ CẢI CÁCH NGOẠI THƯƠNG
TRÊN BÌNH DIỆN TỔNG THỂ NỀN KINH TẾ
Kym Anderson
Mọi quốc gia đều có lợi trong việc cải cách chính sách ngoại thương. Điều này đúng ngay cả
với những nền kinh tế mở cửa nhất, bởi vì cho dù chính phủ có thể khơng làm biến dạng các
hàng hố và dịch vụ mà bằng khơng họ phải mua bằng khoản thu nhập đã đóng thuế đó, động
cơ khuyến khích sản xuất và tiếp thị hàng nơng sản bị giảm sút.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Bài đọc
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 2 Chính sách và cải cách ngoại
thương trên bình diện tổng thể nền kinh tế Bernard Hoekman 2 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang Hùng
Chính phủ các nền kinh tế nơng nghiệp này thường khơng hồn lại tiền thuế đó cho
các hộ gia đình nơng dân, đặc biệt vào những thời kỳ đầu phát triển đất nước. Đúng hơn, các
khoản thuế này có xu hướng được dùng để phát triển cơ sở hạ tầng nơng thơn, trả lương cơng
chức tương đối cao, trợ cấp tiêu dùng thực phẩm v.v…. Cho tới gần đây, người ta vẫn tin
rằng việc đánh thuế các nhà nơng vì những mục đích trên sẽ khơng làm giảm sản lượng đáng
kể vì các hộ gia đình nơng dân thì nghèo và khơng có chọn lựa nào khác để sử dụng thì giờ,
đất đai, và các nguồn lực khác của họ. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm trong nửa thế
kỷ qua cho thấy rằng nhà nơng ngay cả trong những hồn cảnh nghèo nhất cũng đáp ứng khá
nhanh nhạy trước giá cả (Askari và Cummings 1977). Khi tiền thu được từ việc trồng các
nơng sản có thể mua bán bị giảm xuống, các hộ gia đình nơng dân chí ít cũng chuyển một
phần nguồn lực của họ sang sản xuất những sản phẩm khác hoặc tìm cách thư giãn nghỉ ngơi.
Chỉ có những nơng dân nghèo nhất mới chịu cám dỗ bởi những khoản thuế như vậy để làm
việc chăm chỉ hơn, nhưng ngay cả cách phản ứng đó cũng vẫn có thể làm giảm phúc lợi khi
họ có ít thời gian giải trí hơn, đời sống có thể kém khoẻ mạnh hơn và tuổi thọ ngắn hơn.
Điều quan trọng là nguồn lực của các hộ gia đình nơng dân bị chuyển ra khỏi việc sản
Bài đọc
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 2 Chính sách và cải cách ngoại
thương trên bình diện tổng thể nền kinh tế Bernard Hoekman 3 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Quang Hùng
Nghiên cứu của Krueger, Schiff và Valdes có ý nghĩa gì đối với việc cải cách chính
sách nơng nghiệp tại một quốc gia đang phát triển trung bình? Giảm các biện pháp hạn chế
xuất khẩu sẽ làm cho giá trong nước của nơng sản xuất khẩu tăng lên thêm một phần tám, trợ
giúp cho các nhà sản xuất những mặt hàng có thể xuất khẩu này nhưng lại làm thiệt thòi cho
người mua các sản phẩm này trong nước (những người có thể là người chế biến ở các cơng
đoạn tiếp theo sau). Cải cách đó cũng có thể khuyến khích những nhà sản xuất nơng sản cạnh
tranh nhập khẩu chuyển đổi việc sản xuất của họ sang những mặt hàng có thể xuất khẩu mà
hiện đang có mức giá cao hơn. Nếu quốc gia này cũng giảm bớt các biện pháp hạn chế nhập
khẩu thực phẩm, các nhà sản xuất những mặt hàng có thể nhập khẩu cũng thấy giá sản lượng
của họ giảm và sẽ xem xét việc chuyển đổi sang các nơng sản khác. Sự chuyển đổi này càng
khuyến khích hơn nữa việc sản xuất hàng có thể xuất khẩu trong nơng nghiệp trong chừng
mực mà các nguồn lực được sử dụng trong hai phân ngành nơng nghiệp này có thể thay thế
cho nhau. Cả hai loại cải cách này làm tăng tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực trong
khu vực thơng qua khuyến khích sự khai thác lợi thế cạnh tranh nơng nghiệp của đất nước
nhiều hơn. Như vậy chính những cuộc cải cách mà làm tăng mạnh khả năng sinh lợi tương
đối của các ngành mà trước đây khơng được khuyến khích do các chính sách hạn chế ngoại
thương của chính phủ sẽ có xu hướng làm tăng phúc lợi.
Các ảnh hưởng gián tiếp của chính sách: nhìn từ góc độ nhiều lĩnh vực liên quan với
nhau
Bài học trên khơng chỉ áp dụng trong phạm vi khu vực nơng nghiệp mà còn có thể áp dụng
cho các tương tác giữa nơng nghiệp và các khu vực khác trong nền kinh tế. Đó là, nhà nơng
Hiệu đính: Quang Hùng
của Krueffer, Schiff và Valdés, giả sử khu vực nơng nghiệp là khu vực xuất khẩu ròng (có
nghĩa là đất nước này nhập khẩu ròng hàng phi nơng nghiệp) và trong phạm vi nơng nghiệp,
phân ngành nhập khẩu thực phẩm gần như cũng lớn ngang với phân ngành xuất khẩu nơng
sản. Trong phạm vi ngành nơng nghiệp, các biện pháp hạn chế mà làm giảm giá trong nước
của nơng sản có thể xuất khẩu mất 11 phần trăm và làm tăng giá trong nước của thực phẩm
có thể nhập khẩu thêm 20 phần trăm sẽ làm tăng mức giá bình qn chung của nơng sản lên
khơng đến 10 phần trăm. Nếu chỉ nhìn từ góc độ một khu vực như trong phần trước, sẽ làm
cho người ta tin rằng việc loại bỏ những chính sách nơng nghiệp này và do đó làm giảm mức
giá nơng nghiệp bình qn sẽ cải thiện phúc lợi.
Tuy nhiên, hố ra một kết luận như thế chỉ rút ra được khi khơng có sự biến dạng nào
trong phần còn lại của nền kinh tế. Nếu các nhà sản xuất cơng nghiệp chế tạo trong nền kinh
tế này được hưởng một tỷ suất bảo hộ danh nghĩa bình qn là 25 phần trăm chẳng hạn (ví dụ
như là kết quả của mức thuế quan đồng đều 25 phần trăm), thì trước khi cải cách và bất kể sự
hỗ trợ trực tiếp tích cực đối với các nhà nơng, đã có q nhiều nguồn lực trong nền kinh tế
nằm trong hoạt động cơng nghiệp so với hoạt động nơng nghiệp. Trong trường hợp đó, giảm
hỗ trợ nơng nghiệp có thể làm tình trạng phân bổ nguồn lực khơng hiệu quả này càng thêm
tồi tệ chứ chẳng phải cải thiện nó. Để đảm bảo một cuộc cải cách chính sách nâng cao phúc
lợi trong trường hợp này, trước tiên phải hạ thấp mức độ hỗ trợ cơng nghiệp bằng với mức hỗ
trợ các nhà nơng, giảm dần bảo hộ trong cả hai lĩnh vực một cách đồng thời.
1
Nếu cảm thấy q khó khăn về mặt chính trị khi hạ thấp bảo hộ thuế quan cho các
nhà sản xuất cơng nghiệp chế tạo, có lẽ sự cải thiện phúc lợi tương tự cũng sẽ đạt được thơng
qua tăng mức hỗ trợ nơng nghiệp chăng? Trên lý thuyết là có thể, nhưng trong thực tế một
chiến lược đền bù cho thuế quan như thế sẽ là khơng khơn ngoan, vì một số lý do. Thứ nhất,
nếu mức hỗ trợ cho các ngành khác nhau trong phạm vi từng khu vực của hai khu vực mà
khơng đồng đều, tình trạng kém hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực trong nội bộ khu vực
vẫn còn và có thể còn trở nên tồi tệ hơn khi mức hỗ trợ nơng nghiệp bình qn gia tăng. Thứ
thổi phồng một cách giả tạo giá trị đồng tiền của một quốc gia trên quan điểm của các nhà
nơng. Những chính sách như thế khuyến khích sản xuất (và làm nản lòng tiêu dùng trong
nước) đối với những mặt hàng khơng thể ngoại thương so với những mặt hàng có thể ngoại
thương và do đó tiêu biểu cho một nguồn gốc khác dẫn đến tình trạng khơng hiệu quả trong
sử dụng nguồn lực quốc gia và khơng khuyến khích nơng nghiệp.
Về mặt thực nghiệm, đối với mười tám nước đã được Krueger, Schiff và Valdes
nghiên cứu, các chính sách kinh tế vĩ mơ này đã khơng làm nản lòng các nhà sản xuất nơng
nghiệp cho bằng sự bảo hộ cơng nghiệp. Tuy nhiên, chúng cũng gây thêm khó khăn cho các
nhà nơng. Hợp lại, tác động tiêu cực gián tiếp của các chính sách cơng nghiệp và kinh tế vĩ
mơ đối với các động cơ khuyến khích nhà nơng nhiều hơn gấp hai lần rưỡi so với các ảnh
hưởng tiêu cực trực tiếp của các chính sách xuất khẩu nơng sản trong thập niên 1974-84,
tương đương với sự kìm chế giá hàng nơng sản có thể xuất khẩu một khoảng bằng 38 phần
trăm, so với chỉ có 11 phần trăm của các biện pháp trực tiếp. Tình trạng làm nản lòng một
cách gián tiếp này cũng áp dụng cho các nhà nơng cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Trong
mẫu các quốc gia đang phát triển này, các nhà nơng cạnh tranh với hàng nhập khẩu được
hưởng mức bảo hộ danh nghĩa trực tiếp là 20 phần trăm trong thập niên đó, cho nên ngay cả
những nhà nơng được thiên vị nhất tại các quốc gia này cũng rơi vào tình trạng bất lợi bởi sự
vượt trội của các ảnh hưởng gián tiếp bất lợi của các chính sách phi nơng nghiệp đối với các
động cơ khuyến khích nơng nghiệp.
Ý nghĩa trên bình diện tổng thể nền kinh tế của việc giảm thuế quan nhập khẩu trong
trường hợp trên là gì? Chỉ riêng việc cắt giảm các biện pháp hạn chế nhập khẩu thực phẩm
khơng thơi có lẽ sẽ đẩy mạnh sản xuất nơng sản xuất khẩu, sẽ cải thiện việc phân bổ nguồn
lực trong phạm vi khu vực nơng nghiệp. Nhưng nó cũng sẽ giải toả những nguồn lực lưu
động, khi đó có thể được chuyển vào các hoạt động phi nơng nghiệp mà xét bình qn đang
được bảo hộ nhiều hơn so với nơng nghiệp. Vì vậy, vấn đề hiệu quả chung của việc sử dụng
nguồn lực quốc gia sẽ tăng hay giảm là một vấn đề thực nghiệm nếu chỉ có một phân ngành
hạn chế nhập khẩu và sự biến dạng tỷ giá hối đối được giải toả. Chỉ khi nào tự do hố tất cả
các ngành từng được bảo hộ thì các nguồn lực mới được chuyển tới những ngành và khu vực
ít được bảo hộ hơn và do đó mới đảm bảo cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực trong sản
xuất hàng có thể xuất khẩu. Ngay cả khi đó, cũng có khả năng rằng các nguồn lực lưu động
Vì những lý do quốc gia và văn hố, sự di cư thường xun của người lao động
khơng được dễ dàng trong những thập niên gần đây, nhưng nhiều quốc gia đã trải nghiệm
tình trạng di chuyển tạm thời của người lao động, mang đến lợi ích hỗ tương cho những nước
có liên quan. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn nhiều trong hai thập niên qua là sự gia tăng di
chuyển nguồn vốn xun biên giới các nước. Đầu tư trực tiếp nước ngồi có thể mang theo
với nó khơng chỉ vốn tài chính mà cà những kỹ năng quản lý và tiếp thị, tri thức cơng nghệ,
và tài sản trí tuệ – những dạng vốn mà các cơng ty nước ngồi có thể khơng sẵn lòng “xuất
khẩu” nếu họ khơng thể nắm quyền kiểm sốt chúng. Do đó, những quốc gia đang phát triển
tìm cách khai thác trọn vẹn lợi thế so sánh của họ cần phải giải toả các biện pháp hạn chế các
dòng đầu tư nước ngồi chảy vào. Cũng theo cùng lập luận đó, họ cần cho phép dòng đầu tư
nước ngồi chảy ra để cho những người chủ sở hữu vốn trong nước cũng có thể được hưởng
lợi ích cao nhất có thể có.
Các hệ quả động của cải cách ngoại thương
Tự do hố ngoại thương hàng hố, dịch vụ, tiền tệ và vốn khơng chỉ cải thiện hiệu quả sử
dụng nguồn lực quốc gia và phúc lợi người tiêu dùng vào một thời điểm nào đó mà còn đóng
góp cho tăng trưởng kinh tế. Những cơ chế mà qua đó sự mở cửa đóng góp cho tăng trưởng
đang dần dần được người ta am hiểu hơn, nhờ vào các cơng trình nghiên cứu tiên phong của
các lý thuyết gia như Grossman và Helpman (1991) và Rivera-Batiz và Romer (1991). Trong
một khảo sát bổ ích trong tư liệu tiếp theo, Taylor (1999) nhận ra một số kênh mà thơng qua
đó sự mở cửa ngoại thương có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế. Các kênh
đó bao gồm: qui mơ của thị trường khi tri thức được đưa vào các sản phẩm ngoại thương, ảnh
hưởng của sự lan truyền tri thức, và mức độ tạo ra tri thức dư thừa khơng cần thiết mà người
ta nên tránh thơng qua mở cửa. Trên quan điểm của một nhà hoạch định chính sách, điều
quan trọng hơn là: bằng chứng thực nghiệm sẵn có ủng hộ cực lực cho nhận định rằng các
nền kinh tế mở tăng trưởng nhanh hơn (Edwards 1993; USITC 1997).
Nếu cải cách ngoại thương gây tác hại đến mơi trường thì sao?
Một cách lý tưởng, khi nhìn từ góc độ tổng thể nền kinh tế, người ta nên xem xét đến tất cả
các tác động đáng kể của cải cách ngoại thương đối với phúc lợi con người. Điều đó có thể
bao gồm cái gọi là những mục tiêu chính sách phi kinh tế, cũng như những ảnh hưởng kinh tế
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
tối ưu.
Tuy nhiên, lưu ý rằng các chính sách mơi trường và nguồn lực này là đảm bảo phải
có, bất kể mức độ mở cửa của nền kinh tế ra sao. Ngồi ra, tất cả những gì mà cải cách ngoại
thương đòi hỏi thêm nữa là mức độ can thiệp chính sách mơi trường phải được điều chỉnh khi
ngoại thương được tự do hố để bảo đảm rằng bất kỳ sự tổn hại mơi trường nào mà đi kèm
với mở cửa phải tương xứng về giá trị với lợi ích cận biên nhận được từ sự mở rộng ngoại
thương. Lẽ dĩ nhiên, cải cách ngoại thương khơng nhất thiết gây ra thêm thiệt hại về mơi
trường; chí ít người ta thấy triển vọng có khả năng xảy ra tương đương là: những thay đổi về
sản xuất và tiêu dùng đi kèm với tự do hố mậu dịch thực sự còn làm giảm tình trạng ơ
nhiễm hay rút kiệt nguồn lực (Anderson 1997).
Ý nghĩa đối với các nhà sản xuất có tư duy cải cách và các nhà hoạch định chính sách
ngoại thương
Một ý nghĩa rõ ràng của tầm nhìn trên tổng thể nền kinh tế này đối với các nhà sản xuất mưu
cầu ảnh hưởng đến chính sách chính phủ là: tiêu điểm của họ khơng nên hạn chế trong những
biện pháp ảnh hưởng trực tiếp đến chính các ngành sản xuất của họ. Như nghiên cứu của
Krueger, Schiff và Valdes (1988) cho thấy, ảnh hưởng gián tiếp của các chính sách phi nơng
nghiệp và chính sách kinh tế vĩ mơ đối với phúc lợi nhà nơng có thể lớn hơn gấp mấy lần so
với ảnh hưởng trực tiếp đối với các động cơ khuyến khích của các chính sách nơng nghiệp
ảnh hưởng đến các nhà nơng định hướng xuất khẩu. Điều này cũng đúng trong phạm vi một
khu vực, và thậm chí còn đúng hơn thế trong chừng mực mà các yếu tố sản xuất có thể thay
thế cho nhau trong nội bộ một khu vực nhiều hơn là giữa các khu vực với nhau.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Ngoại thương:
Thể chế và tác động
Bài đọc
Phát trịển, thương mại, và WTO
Ch. 2 Chính sách và cải cách ngoại
thương trên bình diện tổng thể nền kinh tế
tiên tiến. Đến lượt các quốc gia đang phát triển, người ta kỳ vọng rằng họ sẽ cho phép sự tiếp
cận thị trường của họ nhiều hơn đối với hàng hố và dịch vụ được xuất khẩu từ các nền kinh
tế tiên tiến – một bình diện khác của sự kết nối liên khu vực của nền kinh tế tồn cầu.
2
Chú thích
1
Trên thực tế có thể có một mức độ phân biệt tinh vi hơn, người ta khơng chỉ tính đến sự biến dạng giá yếu tố
đầu vào (để có được một số đo về sự hỗ trợ hiệu dụng đối với giá trị gia tăng chứ khơng phải chỉ là sự gia tăng
danh nghĩa đối với giá sản lượng), mà còn xét đến mức độ thay thế hay bổ trợ giữa các khu vực trong việc sản
xuất và tiêu dùng. Tìm đọc Corden (1971); Vousden (1990, chương 9).
2
Ví dụ, tìm đọc các nghiên cứu thực nghiệm gần đây về các ảnh hưởng trên tồn thể nền kinh tế của cải cách
ngoại thương tồn cầu và ý nghĩa của chúng đối với sản xuất nơng nghiệp và ngoại thương trong Hertel và
những người khác (sắp xuất bản); Anderson, Hoekman và Strutt (2001).