Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển
chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế. Xu thế này có tác dụng hỗ trợ và bổ xung
cho nhau, trong đó các quốc gia trên thế giới đều được tích cực đan xen và phối
hợp các chính sách kinh tế theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn
hàng rào thuế quan và phi thuế quan nhằm tạo thuận lợi và tiến tới tự do hoá
thương mại, hàng hoá, dịch vụ, đầu tư; tự do hoá tài chính tiền tệ, vốn và lao
động. Trên thực tế, phần lớn các quốc gia trên thế giới đạt được tăng trưởng kinh
tế bền vững là do có sự hoà nhập về thương mại với thế giới. Thương mại không
bao giờ chỉ đem lại lợi ích cho quốc gia này mà quốc gia kia lại chịu thiệt thòi.
Nhận thức được vấn đề này, Việt Nam đã, đang và sẽ thực hiện công nghiệp
hoá - hiện đại hoá theo xu thế tự do hoá thương mại. Hiện nay, Việt Nam đã là
thành viên của ASEAN, APEC, ASEM, đã kí kết hiệp định thương mại Việt –
Mỹ và đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO. Việc tham gia vào các tổ
chức kinh tế khu vực và thế giới đồng nghĩa với việc Việt Nam phải tuân thủ các
cam kết bắt buộc. Nội dung các cam kết liên quan đến tất cả các lĩnh vực của nền
kinh tế quốc dân, trong đó có quy định về hạ thấp, thậm chí loại bỏ hàng rào thuế
quan và phi thuế quan.
Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, thuế xuất
nhập khẩu là một công cụ bảo hộ sản xuất trong nước; điều chỉnh, kiểm soát hoạt
động ngoại thương và là một nguồn thu không nhỏ của Ngân sách Nhà nước. . .
Việc tuân thủ các cam kết về giảm và loại bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế
quan sẽ có ảnh hưởng nhất định đến các vấn đề trên. Do đó, việc xem xét, nghiên
cứu chính sách thuế xuất – nhập khẩu, đánh giá những mặt ưu điểm và mặt
nhược điểm của nó, từ đó rút ra những bài học để xây dựng một chính sách phù
hợp nhất, vừa thực hiện được các mục tiêu của quốc gia vừa đảm bảo hội nhập
kinh tế quốc tế trong tương lai là rất cần thiết.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhận thức được điều này, em đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện chính sách
Kết luận.
Do những hạn chế về lý luận và kinh nghiệm thực tế còn ít, bài viết này chác
chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong được sự thông cảm
của các thầy cô giáo cũng như mong được sự góp ý để bài viết được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Vũ Duy Hào, các thầy cô giáo trong khoa
Ngân hàng – Tài chính, cùng toàn thể các cô, chú, anh, chị công tác tại phòng
Thuế xuất nhập khẩu – Tổng cục Thuế đã giúp đỡ em thực hiện chuyên đề này.
Hà nội ngày 02/05/2003.
Sinh viên thực hiện
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương I:
Tổng quan về thuế xuất - nhập khẩu và Chính sách thuế xuât - nhập khẩu.
I. Lý luận chung về thuế xuất - nhập khẩu
A. Khái niệm về thuế
1. Khái niệm.
Thuế là một biện pháp động viên bắt buộc của Nhà nước đối với các thể nhân
và pháp nhân nhằm buộc các thể nhân và pháp nhân trích một phần thu nhập do
kinh doanh, do lao động, do đầu tư tài chính, do lưu giữ, chuyển dịch tài sản
mang lại cho Nhà nước.
2. Đặc điểm.
- Thuế là một biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính quyền lực, tính
cưỡng chế và tính pháp lý.
Đặc điểm này đã được thể chế hoá trong Hiến pháp của mọi quốc gia. Việc
trả bằng đúng số lượng và khoản thu mà Nhà nước thu được từ công dân đó. Nó
sẽ được hoàn trả lại cho người nộp thuế thông qua cơ chế đầu tư của Ngân sách
Nhà nước cho việc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng.5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3. Phân loại thuế.
3.1. Phân loại dựa vào cơ sở đánh thuế.
Căn cứ vào cơ sở đánh thuế, có thể chia các sắc thuế thành 3 loại:
- Thuế thu nhập: bao gồm các sắc thuế đánh trên cơ sở là thu nhập. Thu nhập
hình thành từ nhiều nguồn: thu nhập từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công;
thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, cổ tức, trái
tức. . . Thu nhập được biểu hiện dưới nhiều dạng do đó, thuế thu nhập cũng có
nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp. . .
- Thuế tiêu dùng: là các loại thuế đánh vào phần thu nhập được mang tiêu dùng
trong hiện tại. Trong thực tế, thuế tiêu dùng được thể hiện dưới nhiều dạng: thuế
doanh thu, thuế TTĐB, thuế GTGT . . .
- Thuế tài sản: là các loại thuế đánh vào tài sản. Tài sản co nhiều hình thức
biểu hiện: tài sản lưu động (tiền mặt, tiền gửi. . .), tài sản cố định (nhà cửa, đất
đai, máy móc. . .). Thuế tài sản đánh trên giá trị tài sản cố định được gọi là thuế
bất động sản, đánh trên tài sản tài chính gọi là thuế động sản.
3.2. Phân loại dựa vào phương thức đánh thuế.
bỏ nó trong buôn bán giao dịch quốc tế. Quan điểm này đặc biệt thịnh hành ở
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Anh, nơi mà chủ nghĩa tư bản phát triển sớm nhất. Tuy nhiên, cũng trong giai
đoạn này ở một số nước mà nền kinh tế chưa phát triển , được khuyến khích
bằng tư tưởng bảo hộ nền sản xuất trong nước, người ta lại sử dụng mạnh mẽ
hàng rào thuế quan để che chắn cho nền sản xuất nội địa.
ở giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, hầu hết các nước đế quốc đều sử dụng
thuế quan như là một công cụ quan trọng trong chính sách ngoại thương để giành
lấy ưu thế trong lĩnh vực buôn bán. Hàng rào thuế quan được dựng lên, nhưng
không phải để bảo hộ nền sản xuất trong nước mà để hỗ trợ các ngành có thế lực
mang tính chất độc quyền. Thuế quan cao cho phép độc quyền trong nước thâu
tóm thị trường nội địa và nâng giá để trang trải cho các khoản lỗ cho xuất khẩu
nhằm chiếm lấy ưu thế trên thị trường quốc tế.
ở thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất, thuế quan được coi là một công cụ quan
trọng của Nhà nước dùng để điều chỉnh hoạt động ngoại thương. Sự mất cân đối
kinh tế của các nước tham chiến và sự tan rã của việc buôn bán quốc tế sau chiến
tranh, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế vào những năm 30, làm người ta cảm
thấy nếu chỉ sử dụng riêng thuế quan thì không đủ sức điều chỉnh quá trình hoạt
động ngoại thương. Vì vậy, các quốc gia còn kết hợp hàng rào thuế quan với các
công cụ khác như: hạn mức ngoại tệ trong thanh toán, tạo ra hạn ngạch xuất
khẩu, quy định danh mục hàng hoá xuất -nhập khẩu. . .
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, việc sử dụng công cụ thuế quan ở các nước
phát triển đã có sự thay đổi căn bản. Sự phát triển tương đối nhanh chóng của
nền kinh tế các nước phát triển đã đưa tới sự ổn định trong buôn bán quốc tế và
sự ra đời của hệ thống tiền tệ thế giới. Trong xu thế đó, hầu hết các nước đã dần
dần từ bỏ cac biện pháp quản lý hành chính trong buôn bán ngoại thương. Người
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ta hạ thấp hoặc xoá bỏ hàng rào thuế quan vốn được coi trọng trong chiến tranh
những lý do kinh tế và xã hộ mà hạn chế nhập khẩu như rượu, bia, thuốc lá. . .
- Thuế quan bảo hộ: Loại thuế quan này có nhiệm vụ chủ yếu là bảo hộ sản
xuất trong nước. Thuế quan bảo hộ thường được dùng trong các trường hợp sau
đây:
+ Bảo hộ hàng xuất khẩu bán dưới giá sản xuất trên thị trường quốc tế để đảm
bảo ưu thế cạnh tranh.
+ Hạn chế việc nhập khẩu hàng hoá bằng việc thực hiện thuế xuất cao.
+ Bù đắp lỗ do chủ trương ưu tiên xuất khẩu vào những thị trường đặc biệt để
tăng khả năng cạnh tranh đối với hàng sản xuất trong nước hoặc sử dụng chế độ
ưu tiên về thuế quan phục vụ cho việc nhập nguyên, nhiên vật liệu cần thiết cho
việc sản xuất trong nước.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Thuế quan đàm phán thương mại: loại thuế quan này thường được ấn định
trên giới hạn cần thiết để bảo hộ nền sản xuât trong nước, đồng thời là phương
tiện dùng để đạt được những kết quả nhất định trong đàm phán với những bên
tham gia.
- Thuế quan trừng phạt: loại thuế quan này thường được sử dụng trong trường
hợp cần thiết phải trả đũa đối với việc phân biệt thuế quan của hàng hoá do một
nước sản xuất sang nước khác. Loại thuế quan này thường được ấn định ở mức
cao.
2.2. Thuế quan theo xu hướng vận động của hàng hoá
- Thuế xuất khẩu: đánh vào hàng xuất khẩu. Xu hướng chung trên thế giới
hiện nay là để thuế xuất thuế xuất khẩu thấp để hỗ trợ cho việc xuất khẩu hàng
hoá. Đối với các nước đang phát triển, nhằm khuyến khích việc xuất khẩu sản
phẩm hoàn thành, các nước thường quy định mức thuế xuất khá cao đối với
nguyên, nhiên vật liệu xuất khẩu.
- Thuế nhập khẩu: đánh vào hàng hoá nhập khẩu. ở mức độ khác nhau, các
nước đều sử dụng loại thuế quan này vào hai mục đích: động viên khai thác
nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo hộ nền sản xuất trong nước.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chính sách bảo hộ mậu dịch: để bảo hộ nền sản xuất trong nước trước sự
cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài, những nước theo đuổi chính sách bảo hộ
mậu dịch thường thi hành chính sách thuế suất cao. Họ lý luận rằng thuế quan
cao sẽ có tác động tích cực cho các ngành công nghiệp non trẻ bởi một số ngành
công nghiệp non trẻ sẽ không vượt qua được những giai đoạn ban đầu nếu phải
đối mặt với cạnh tranh quốc tế. Do vậy, cần phải bảo hộ cho đến khi ngành này
lớn mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trong thực tế, các nhà kinh
tế học sau này đã tổng kết những lý luận này không phải luôn đúng, thậm chí có
trường hợp phản tác dụng.
3.2. Thuế xuất nhập - khẩu và việc làm.
Thuế quan làm tăng giá hàng nhập khẩu do vậy có tác dụng hướng cầu vào sản
phẩm nội địa. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước phát triển sản xuất,
thu hút lao động do đó làm giảm thất nghiệp.
3.3. Thuế xuất - nhập khẩu và đầu tư nước ngoài.
Những nhà kinh tế học cổ điển lập luận về vấn đề này như sau: giả sử nước A
có lợi thế về lao động, nước B có lợi thế về kỹ thuật. Nếu nước A tranh thủ được
kỹ thuật của nước B, nước A sẽ chuyển sang có lợi thế về kỹ thuật. Để tranh thủ
được kỹ thuật của nước B, nước A sẽ đánh thuế suất cao đối với sản phẩm của
nước B. Nước B để tránh thuế suất sẽ chuyển giao vốn và kỹ thuật sang nước A
(đầu tư nước ngoài) để sản xuất sản phẩm tại nước A. Khi đó, nước A sẽ có được
những kỹ thuật của nước B và cộng với những lợi thế về lao động, chi phí trung
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bình tại nước A sẽ thấp hơn nước B và do vậy hàng hoá của nước A sẽ có khả
năng cạnh tranh cao hơn hàng được sản xuất tại nước B. Đây là lập luận khá
“ngây thơ” và thực tế đã không đứng vững.
3.4. Thuế xuất - nhập khẩu và chủ quyền quốc gia.
Một lập luận mà ta thường thấy ở các chính trị gia, họ cho rằng để bảo vệ chủ
Giả sử một quốc gia nào đó đứng trước một mức giá quốc tế Pw của sản phẩm
X, theo đó quốc gia A có thể mua bao nhiêu sản phẩm X tuỳ ý từ nước ngoài.
Các đường DD, SS biểu thị mức cầu của người tiêu dùng quốc gia A về sản
phẩm X và mức cung sản phẩm X của các nhà sản xuất quốc gia A. Ta giả thiết
rằng sản phẩm X nội địa và sản phẩm X nước ngoài hoàn toàn có thể thay thế lẫn
nhau, người tiêu dùng sẽ mua loại nào rẻ hơn.
Tại mức giá Pw, người tiêu dùng quốc gia A sẽ mua Qd sản phẩm X ( họ
muốn ở tại điểm G trên đường cầu Đ) trong khi đó doanh nghiệp nội địa chỉ sản
xuất Qs sản phẩm X (họ muốn tại điểm C trên cung SS). Do vậy, sẽ có sự chênh
lệch giữa mức cung trong nước Qs và mức cầu trong nước Qd, mức chênh lệch
này được bù đắp thông qua nhập khẩu hàng hoá.
Bằng cách nâng giá nội địa, thuế nhập khẩu đã khuyến khích ngành sản xuất
sản phẩm X trong nước. Các doanh nghiệp tăng mức sản xuất từ Qs lên Qs’.
Thuế nhập khẩu đã bảo hộ cho người sản xuất nội địa bằng cách nâng giá nội
địa lên mức mà tại đó, hàng nhập khẩu trở nên kém cạnh tranh hơn. Khi dịch
chuyển đường cung từ điểm C đến điểm E, những người sản xuất trong nước sẽ
cảm thấy dễ thở hơn vì giá hàng nhập khẩu vào trong nước đã bị nâng lên do có
thuế nhập khẩu.
Về phía cầu, việc tăng giá cả làm người tiêu dùng chuyển tiêu dùng của họ
trên đường cầu từ điểm G đến điểm F. Lượng cầu đối với sản phẩm X giảm từ
Qd xuống Qd’. Người tiêu dùng phải trả nhiều tiền hơn để mua sản phẩm X.
Hình 1 cho thấy ảnh hưởng kết hợp của việc tăng cường sản xuất nội địa và
giảm mức tiêu dùng nội địa: đó là giảm nhập khẩu. Nhập khẩu giảm vừa do sản
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xuất nội địa tăng, vừa do tiêu dùng nội địa giảm. Với bất kỳ mức thuế nhập khẩu
cho trước, mức độ giảm nhập khẩu phụ thuộc vào hệ số góc của đường cung và
đường cầu nội địa. Các đồ thị này càng co giãn thì một mức tăng nhất định trong
quá trình nội địa đã cộng thuế sẽ càng làm giảm mức nhập khẩu. Nhưng khi cả
hai đường đều rất dốc thì mức tăng do thuế trong giá nội địa sẽ có ảnh hưởng
J C I H
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khoản tiền trả thêm của người tiêu dùng cũng rơi vào tay các hãng với tư cách
là phần lợi nhuận thêm . Đường cung cho thấy các hãng cần bao nhiêu để tranh
trải chi phí thêm cho việc sản xuất cho lượng hàng hoá Qs’ chứ không phải là
Qs, diện tíchCELJ biểu thị lượng chuyển khoản từ người tiêu dùng vào phần lợi
nhuận thuần tuý hoặc từ lợi ích kinh tế mà các hãng kiếm được. Đó không phải
là chi phí ròng đối với toàn xã hội nói chung.
Diện tích tam giác CEI cũng biểu thị khoản trả thêm của người tiêu dùng, nó
không phải là thu nhập của Chính phủ, cũng không phải là lợi nhuận thêm của
các hãng. Đó là chi phí ròng đối với xã hội gọi là chi phí hỗ trợ cho các hãng nội
địa không hữu hiệu.
Đường cung SS cho thấy chi phí cận biên để làm thêm một sản phẩm X cho
nền kinh tế quốc nội. Nhưng toàn xã hội có thể nhập khẩu sản phẩm X từ phần
còn lại của thế giới với số lượng không hạn chế theo giá quốc tế Pw. Pw là chi
phí cận biên thực sự của sản phẩm X đối với nền kinh tế quốc nội. Tam giác CEI
biểu thị phần nguồn lực mà xã hội phung phí do sản xuất một lượng Iqs-Qs’l sản
phẩm X ở trong nước khi mà đáng lẽ nó đã được nhập khẩu tại mức chi phí thấp
hơn. Các nguồn lực mất vào việc sản xuất sản phẩm X trong nước đáng lẽ đã có
thể được dùng một cách hiệu quả hơn ở đâu đó trong nền kinh tế.
Còn một khoản tổn thất ròng thứ hai đối với xã hội là phần tam giác FGH. Giả
sử thuế nhập khẩu được bãi bỏ và thương mại tự do được phục hồi, số lượng sản
phẩm X được tiêu dùng sẽ là Qd. Tam giác FGH biểu thị phần trội hơn của lợi
ích tiêu dùng khi đo các độ cao của đường cầu, cho thấy rõ những người tiêu
dùng đã định dùng bao nhiêu tiền để chi trả cho một đơn vị hàng hoá cần mua so
với chi phí biên của việc mở rộng từ Qd’ đến Qd xét theo mức giá quốc tế mà tại
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đó hàng nhập khẩu lẽ ra đã có thể được mua. Do việc đánh thuế nhập khẩu xã
hội phải chịu một khoản tổn thất ròng bằng tam giác FGH. Tam giác này biểu thị
II. Chính sách thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện hội nhập.
1. Thuật ngữ hội nhập kinh tế quốc tế và bản chất của quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
1.1. Thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế”.
Hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu là các nước (có thể là các nước trong một
khu vực - các nước Đông Nam á, có thể là giữa hai nước - Việt Nam và Mỹ, có
thể là giữa một nước với một nhóm nước - Việt Nam và EU hoặc có thể là các
nước trên thế giới – WTO) tìm kiếm một số điều kiện nào đó mà họ có thể thống
nhất được với nhau (kể cả dành cho nhau những ưu đãI) tạo ra sự công bằng
trong quan hệ hợp tác nhằm khai thác các khả năng của nhau phục vụ cho nhu
cầu phát triển của mình.
1.2. Bản chất của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập là quá trình tự thích nghi, tự phù hợp. Về bản chất đây là quá trình
mà một quốc gia độc lập phấn đấu chủ động tạo ra những điều kiện chung cho
hoạt động kinh tế thương mại không phân biệt đối xử để trở thành một thành
viên chính thức và hoạt động như một tế bào sống, một bộ phận không thể tách
rời trong một tổ chức, tập hợp lớn hơn. Biểu hiện của hội nhập trong lĩnh vực
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kinh tế là quá trình điều chỉnh, thích nghi để gia nhập tổ chức toàn cầu hay khu
vực dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá. Nói cách khác, quá trình toàn cầu hoá
làm nảy sinh nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới đều có những điểm tương đồng pháp
luật quốc tế về hợp tác kinh tế quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc đã được xác
định về tiếp cận thị trường, không phân biệt đối xử, cạnh tranh công bằng, minh
bạch hoá chính sách và pháp luật. Quy định về những hoạt động khẩn cấp của
các thành viên trong những trường hợp cần thiết: cắt giảm hàng rào pháp lý về
thuế quan và phi thuế quan; giảm và loại bỏ các trở ngại khác để thông thương,
phát triển. Mỗi tổ chức quốc tế xác lập và được phân định bằng không gian pháp
lý quốc tế khu vực, trong đó dung nạp trạng thái quan hệ hợp tác kinh tế giữa các
Chính sách thuế xuất - nhập khẩu được thực hiện bằng cách thiết lập các văn bản
pháp luật trong lĩnh vực nộp thuế xuất - nhập khẩu; xây dựng biểu thuế xuất -
nhập khẩu và ưu đãi về thuế xuất - nhập khẩu trong từng giai đoạn phát triển
nhất định.
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.2. Vấn đề xây dựng chính sách thuế xuất - nhập khẩu.
2.2.1. Xác định mục tiêu của chính sách thuế xuất - nhập khẩu.
- Mục tiêu ngân sách: thuế xuất - nhập khẩu có nhiệm vụ động viên tối đa
nguồn tài chính do hoạt động ngoại thương mang lại tập trung vào Ngân sách
nhà nước. Để đạt được mục tiêu này, con đường đúng đắn là mở rộng thúc đẩy
hoạt động ngoại thương. Tuy nhiên, có những nước, đặc biệt là những nước đang
phát triển, do hoạt động ngoại thương chưa phát triển nên thường coi biện pháp
tăng tối đa thuế quan làm biện pháp chủ yếu để đạt được mục đích. Biện pháp
này đôi khi phản tác dụng.
- Mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước: tuỳ theo đặc điểm kinh tế của mỗi
nước mà mục tiêu được xem xét ở những mức độ khác nhau. ở những nước có
nền kinh tế phát triển cao, khả năng cạnh tranh của hàng hóa nội địa lớn thì biện
pháp thuế quan sử dụng cho mục đích này thường ít được coi trọng. Song, đối
với những nước có nền kinh tế đang phát triển hoặc các nước theo đuổi chiến
lược công nghiệp hoá thay thế hàng nhập khẩu, phát triển theo mô hình hướng
nội, lấy độc lập, tự chủ kinh tế làm trọng thì hết sức coi trọng mục tiêu bảo hộ
nền sản xuất trong nước.
- Mục tiêu kiểm soát hoạt động ngoại thương: có nhiều công cụ được sử dụng
để kiểm soát hoạt động ngoại thương như hạn ngạch, tỷ giá, thuế xuất nhập khẩu.
. . nhưng công cụ thuế xuất – nhập khẩu có nhiều ưu điểm và được dùng nhiều
hơn cả. Để khuyến khích nhập khẩu một mặt hàng nào đó, biện pháp đơn giản là
hạ thấp mức thuế xuất. Ngược lại, nếu muốn ngăn cản, hạn chế xuất nhập khẩu,
biện pháp được dùng là nâng thuế suất.
24