Một số biện pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam - Pdf 24

Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Như bất kỳ một quốc gia nào, đối với đời sống kinh tế xã hội, thuế
đóng vai trò là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, điều tiết sản xuất
kinh doanh cũng như phân phối tiêu dùng, thúc đẩy kinh tế phát triển. Có
được một hệ thống chính sách thuế phù hợp, đồng bộ, hoàn thiện và luôn theo
kịp sự vận động phát triển của thực tiễn là điều kiện cần thiết và cấp bách.
Theo tinh thần đó, Đảng và Nhà nước ta trong quá trình vận hành, đổi mới
nền kinh tế đã rất chú trọng đến cải cách hệ thống thuế .
Hệ thống thuế về tính chất được chia thành hai loại: thuế trực thu và
thuế gián thu. Tùy vào điều kiện phát triển, phương thức sản xuất và kết cấu
xã hội ... của mỗi nước mà cơ cấu các khoản thu này có sự khác nhau. Hiện
nay, tại các nước phát triển có xu hướng coi trọng thuế gián thu trong khi đó
các nước đang phát triển lại có xu hướng ngược lại là coi trọng thuế trực thu
trong đó có Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là việc gia nhập
WTO trong thời gian tới, hệ thống thuế Việt Nam cần phải sửa đổi cho phù
hợp hơn nhằm mục tiêu đơn giản, dễ hiểu, đảm bảo công bằng, phù hợp với
các cam kết quốc tế.Với tinh thần đó Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã
được sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2004.
Luật thuế mới có nhiều thay đổi trong đó đảm bảo thống nhất việc áp
dụng thuế TNDN đối với mọi thành phần kinh tế, không phân biệt DNTN với
DN có vốn ĐTNN. Đây là một chủ trương rất quan trọng của Nhà nước tạo ra
bước tiến quan trọng trong lộ trình hướng tới xây dựng một luật thuế TNDN
thống nhất và hoàn chỉnh. Tuy nhiên, luật thuế mới bên cạnh những mặt tích
cực đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần xem xét và sửa đổi, bổ sung. Những
vướng mắc này đang tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp chịu tác động

Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
Thuế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển
của Nhà nước. Nó là một công cụ tài chính để tạo lập nguồn thu nhằm duy trì
hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trải qua quá trình phát triển và hoàn thiện lâu dài, tính đến hiện nay có
rất nhiều quan niệm về thuế với những góc độ nhìn nhận khác nhau.
- Các nhà kinh điển cho rằng: “ Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân
nhưng không bù lại” và “thuế cấu thành nên phần thu của Chính phủ, nó được
lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế
được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế ”(Lênin toàn tập - tập
15)
- Theo quan điểm luật pháp: Thuế là khoản đóng góp theo quy định
của pháp luật mà Nhà nước bắt buộc mọi tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ
nộp vào cho ngân sách Nhà nước.
- Trên góc độ phân phối thu nhập: Thuế là hình thức phân phối và
phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành
nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách Nhà nước) để
đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước.
- Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuế, song có khái niệm chung
nhất về thuế như sau:
Thuế là một phần thu nhập mà các cá nhân hoặc tổ chức đóng góp bắt
buộc cho Nhà nước để phục vụ nhu cầu và nhiệm vụ của Nhà nước, thuế thể
hiện mối quan hệ kinh tế cơ bản giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế và tầng
lớp dân cư.
Thuế mang bản chất giai cấp của Nhà nước. Sự khác nhau của Nhà
nước được thể hiện qua nội dung của việc thu thuế như : thu thuế của ai là chủ

tế, chính trị, xã hội trong nước và quan hệ kinh tế thế giới.
Thứ hai: Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp
Khác với các khoản vay, Nhà nước thu thuế từ các tổ chức kinh tế và
các cá nhân nhưng không phải hoàn trả lại trực tiếp cho người nộp thuế sau
một khoảng thời gian với một khoản tiền mà họ đã nộp vào Ngân sách Nhà
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
nước. Số tiền thuế thu được, Nhà nước sẽ sử dụng cho các chi tiêu công cộng,
phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước và của mọi cá nhân trong xã hội. Mọi cá
nhân, người có nộp thuế cho Nhà nước cũng như người không nộp thuế,
người nộp nhiều cũng như người nộp ít, đều bình đẳng trong việc nhận được
các phúc lợi công cộng từ phía Nhà nước. Số thuế mà các đối tượng phải nộp
vào cho Nhà nước, được tính toán không dựa trên khối lượng lợi ích công
cộng họ nhận được mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ.
Đặc điểm này cũng phân biệt giữa thuế với phí và lệ phí.
1.1.2. Phân loại thuế và yếu tố cấu thành của một sắc thuế
1.1.2.1. Phân loại thuế
• Phân loại thuế dưới góc độ người nộp thuế và người chịu thuế :
(Người nộp thuế là các cá nhân, tổ chức (thể nhân hay pháp nhân) trực tiếp
đứng ra nộp thuế cho Nhà nước, người chịu thuế là người có thu nhập bị giảm
đi do nộp thuế cho Nhà nước)
+ Thuế trực thu : Thuế trực thu là thuế mà người nộp thuế cũng đồng
thời là người chịu thuế. Điển hình của thuế trực thu là thuế Thu nhập doanh
nghiệp, thuế Thu nhập cá nhân, thuế Tài sản...Căn cứ vào mức thuế được quy
định trong biểu thuế người nộp thuế tính một phần thu nhập của mình để trực
tiếp nộp cho Nhà nước.
+ Thuế gián thu: Là thuế mà người nộp thuế không phải là người chịu

vụ đặc biệt, thuế “Xuất, nhập khẩu” tác động vào các hàng hóa xuất, nhập
khẩu qua biên giới.
- Đối tượng nộp thuế : Là tổ chức kinh tế hoặc cá nhân có trách nhiệm
phải kê khai và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và ngân sách Nhà nước theo các
quy định cụ thể trong mỗi sắc thuế. Đối tượng nộp thuế thể hiện phạm vi áp
dụng của một chính sách thuế cụ thể. Trong hệ thống chính sách thuế của
nước ta hiện nay, có những sắc thuế có phạm vi rất rộng như thuế Giá trị gia
tăng, thuế Môn bài; nhưng cũng có những sắc thuế có phạm vi áp dụng hẹp
như thuế Chuyển quyền sử dụng đất, thuế Xuất, Nhập khẩu. Có những đối
tượng nộp thuế chỉ kê khai và nộp một loại thuế, song cũng có những đối
tượng, trong một thời gian phải nộp nhiều loại thuế khác nhau (thuế Giá trị
gia tăng, thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Nhập khẩu), điều đó hoàn toàn
tuỳ thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của họ.
- Cơ sở thuế: Là đối tượng tác động của một chính sách thuế.
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
Tuỳ theo mục đích và tính chất của từng sắc thuế, cơ sở thuế có thể là các
khoản thu nhập nhận được trong một thời gian nhất định của một tổ chức kinh
tế hoặc một cá nhân, tổng giá trị tài sản do tổ chức kinh tế hoặc cá nhân đó
nắm giữ, tổng trị giá một lô hàng hóa hoặc một lượng giá trị nhất định của
hàng hóa, dịch vụ....
- Thuế suất: Là yếu tố quan trọng nhất của một sắc thuế. Có thể nói
thuế suất là linh hồn của một sắc thuế. Nó phản ánh mức độ điều tiết trên một
cơ sở thuế. Do đó, thuế suất thể hiện quan điểm của Nhà nước về yêu cầu
động viên nhằm khuyến khích hay không khuyến khích sự phát triển của một
ngành nghề, một loại sản phẩm cụ thể nào đó. Thuế suất là mức thu được ấn
định trên một cơ sở thuế bằng những phương pháp tính toán thích hợp.

thường được ban hành dưới những hình thức như: giảm thuế suất, miễn thuế
cho một số thu nhập nhất định nào đó và những khấu trừ đặc biệt từ thu nhập
chịu thuế.
Trong từng giai đoạn nhất định, các quốc gia khác nhau đều có thái độ
khác nhau với khuyến khích về thuế. Với các nước đang phát triển thường đặt
ra những khuyến khích với mục đích thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, bằng
việc áp dụng thuế suất thấp đối với các hoạt động của các tổ chức có vốn đầu
tư nước ngoài so với các tổ chức trong nước. Còn các quốc gia đã phát triển
thường không có những khuyến khích cho đầu tư nước ngoài vào nước họ,
nhưng họ lại áp dụng những khuyến khích đầu tư trong nước bằng việc áp
dụng mức thuế suất thấp đối với một số ngành, một số lĩnh vực mà Nhà nước
cần khuyến khích phát triển để thu hút đầu tư về ngành đó.Ví dụ miễn trừ
thuế cho hoạt động nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ mới, miễn trừ
thuế trong nông nghiệp.
Tóm lại, ở các quốc gia khác nhau, Nhà nước sử dụng các hình thức ưu
đãi khác nhau tuỳ theo lĩnh vực ưu tiên và đòi hỏi thực tế của nước đó trong
từng thời kỳ nhất định.
Bên cạnh những ưu điểm, việc sử dụng ưu đãi về thuế cũng có những
hạn chế nhất định như nó làm cho hệ thống thuế thêm phần phức tạp, thu hẹp
diện chịu thuế, và giảm thuế, gây khó khăn cho công tác quản lý thuế và trên
một giác độ nhất định còn hạn chế sự cạnh tranh và phát triển sản xuất của
các doanh nghiệp. Nên việc áp dụng các ưu đãi về thuế phải rất linh hoạt, khi
mục đích chính sách đã đạt được thì Nhà nước phải chấm dứt ngay việc sử
dụng các ưu đãi về thuế. Với các nước đang phát triển, cần phải xây dựng hệ
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
thống ưu đãi về thuế phù hợp để vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài mà

Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
1.2.2. Vai trò của thuế Thu nhập doanh nghiệp
Bản chất của thuế TNDN là thuế đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp.
Điều này gây ra nhiều tranh luận của các nhà kinh doanh trên thế giới về sự
tồn tại của sắc thuế này. Cùng một khoản thu nhập từ vốn nhưng khoản thu
nhập có được từ vốn góp vào các công ty cổ phần sẽ phải chịu điều tiết bởi
hai khoản thuế là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Trong
khi đó cũng khoản thuế này nếu đầu tư vào khu vực phi doanh nghiệp thì thu
nhập từ vốn chỉ phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, trong nền kinh tế
thị trường ở nhiều nước đặc biệt là các nước đang phát triển như nước ta thì
sự tồn tại của thuế thu nhập doanh nghiệp là tất yếu khách quan bởi những vai
trò sau đây của nó:
Thứ nhất: Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của
NSNN. Điều này được thể hiện bởi phạm vi áp dụng thuế TNDN là rất rộng.
Nó khai thác nguồn thu từ các đối tượng nộp thuế có tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh đem lại thu nhập ở mọi lĩnh vực, trên mọi địa bàn. Mặt khác,
cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh doanh
này ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao, tích luỹ từ
nội bộ doanh nghiệp ngày càng nhiều sẽ tạo nguồn thu về thuế thu nhập
doanh nghiệp cho ngân sách quốc gia ngày càng lớn.
Thứ hai : Thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc
điều tiết nền kinh tế thông qua hệ thống thuế suất ưu đãi và các chế độ miễn,
giảm góp phần định hướng cho các nhà đầu tư trong nhiều ngành, lĩnh vực mà
Nhà nước cần khuyến khích đầu tư nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý theo
ngành và theo địa bàn. Thuế thu nhập doanh nghiệp còn góp phần thúc đẩy
SXKD phát triển thông qua các hình thức hỗ trợ về thuế đối với các cơ sở mới
thành lập hoặc các cơ sở gặp khó khăn trong kinh doanh.
1.2.3. Nội dung cơ bản của thuế Thu nhập doanh nghiệp.

nước. Trong trường hợp này các chuyên gia thuế thường tập trung vào nơi mà
các quyết định được đặt ra và cũng thường là nơi hội họp của ban giám đốc.
Xu hướng hiện nay người ta thiên về định nghĩa theo cách kết hợp cả hai tiêu
thức : sự hợp nhất và quản lý điều hành trung ương của công ty.
• Đánh thuế dựa trên xuất xứ của nguồn thu nhập
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
Theo cách đánh thuế dựa trên nguồn phát sinh thu nhập thì chỉ những
thu nhập của công ty phát sinh trên lãnh thổ do công ty kinh doanh mới chịu
sự đánh thuế thu nhập. Trong bối cảnh hiện nay, với sự mở rộng các công ty
đa quốc gia (công ty đăng ký tại một nước nhưng hoạt động rộng rãi ở nhiều
nước) việc đánh thuế thu nhập công ty dựa trên nền móng xuất xứ không còn
phù hợp, nó làm thu hẹp khả năng điều chỉnh của luật thuế thu nhập công ty.
Do vậy hình thức này chỉ được áp dụng tại các nước thuộc địa, hoặc các nước
thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài còn bản thân nước đó ít đầu tư ra nước
ngoài khác như Hồng Kông, Macao, Bruney...
Thu nhập chịu thuế thông thường theo luật các nước trên thế giới chia
ra làm hai loại thuế thu nhập là thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ đầu tư.
Thu nhập từ kinh doanh được xác định là khoản thu nhập tính được sau khi đã
trừ đi mọi chi phí. Còn thu nhập từ đầu tư là tiền lãi cho vay, lợi tức cổ
phần,...Trên cơ sở phân loại đó mà người ta phân biệt thuế suất riêng đối với
thu nhập chịu thuế từ kinh doanh và thu nhập chịu thuế từ hoạt động đầu tư.
Ngoài ra, nhiều nước còn đánh thuế trên hoa lợi từ chuyển nhượng tài sản và
các thu nhập khác.
 Đối với thu nhập từ kinh doanh
Thu nhập từ kinh doanh hay lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
được xác định bằng doanh thu từ hoạt động kinh doanh trừ đi chi phí được trừ

trả lãi vay, thuế và các chi phí hợp lý khác.
Mặc dầu, có những nguyên tắc chung để xác định các khoản chi phí
được khấu trừ, song trong thực tế có những khoản chi phí không nằm trong
các nguyên tắc trên, nhưng với xu hướng phát triển cần phải xem xét khi đánh
thuế TNCT. Nhiều khoản chi phí có được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế
hay không vẫn còn là những vấn đề tranh luận ở nhiều quốc gia. Chẳng hạn,
tiền lương của công nhân được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế, nhưng tiền
lương của chủ sở hữu, chi phí cơ hội của dịch vụ do chủ cung cấp có được
khấu trừ vào thu nhập chịu thuế hay không? Các cổ đông là những người
cung cấp vốn cho công ty, vậy lợi tức cổ phần hay chi phí cơ hội của những
khoản vốn đó có được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế hay không? Khi đó,
lãi thu được của các trái chủ lại được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế.
Các trường hợp thường được đưa ra bàn luận xung quanh việc nên cho
khấu trừ hay không cho khấu trừ khi tính vào thu nhập chịu thuế:
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
- Chi phí dự phòng: là khoản chi dự trù để sẵn ra nhằm phải trả trong
tương lai. Hầu hết các quốc gia đều cho phép khấu trừ chi phí này trước khi
tính thuế TNCT, vì những chi phí này là hết sức cần thiết trong quá trình kinh
doanh của công ty. Để thoả mãn nguyên tắc chi phí được khấu trừ phải là chi
phí thật sự được chi ra, thì chi phí dự phòng chỉ được khẩu trừ khi thoả mãn
điều kiện là khoản chi này phải đặc biệt rõ ràng, dự đoán chi phí phải trả một
cách chính xác và nó được tiên đoán là nhất định sẽ xẩy ra trong tương lai vì
trong quá khứ đã từng có.
- Nợ khó đòi: khi một công ty cho khách hàng mua chịu, thường có
một số ít khách hàng không trả nợ. Các khoản tiền của khách hàng này được
coi là nợ khó đòi và được coi là khoản chi phí của phương thức bán chịu. Lý

không phải là khoản chi phí cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
+ Đối với các khoản thuế gián thu về nguyên tắc phải khấu trừ khỏi thu
nhập chịu thuế, nhưng thể hiện việc khấu trừ đó như thế nào lại tùy thuộc vào
chính sách thuế và chế độ kế toán mỗi quốc gia. Chẳng hạn thuế giá trị gia
tăng (VAT), nếu quan niệm VAT đầu vào là tiền thuế công ty phải trả khi
mua hang, VAT đầu ra là tiền thuế công ty thu được khi bán hàng, thì VAT
phải nộp ngân sách Nhà nước là một yếu tố chi phí khấu trừ khỏi thu nhập
chịu thuế. Nhưng quan niệm VAT là khoản thuế tính trên hàng hóa, người
tiêu dùng phải chịu khoản thuế này thì VAT đầu vào không phải là chi phí
thật, VAT đầu ra sẽ là khoản thu hộ của công ty và VAT phải nộp không đưa
vào chi phí khi tính thu nhập chịu thuế.
+ Một số khoản chi phí khác như chi phí quảng cáo, chi phí hội nghị,
tiếp tân, tiếp khách ... định mức bao nhiêu là hợp lý chỉ mang tính chất ước lệ.
Đối với thu nhập từ đầu tư
- Thu nhập từ lãi cổ phần : Lãi cổ phần được chia lợi nhuận do đầu tư
mua cổ phiếu của một công ty, nghĩa là lãi cổ phiếu đã bị đánh thuế một lần
rồi. Vì vậy, để hạn chế việc đánh thuế trùng người ta đưa ra nhiều phương án
đánh thuế:
+ Phương án đơn giản nhất là không đánh thuế thu nhập đối với loại thu
nhập này. Trừ Hồng Kông, hầu hết các nước không áp dụng phương án này.
+ Phương án miễn thuế từng phần trên thu nhập dưới hình thức lợi tức
cổ phần. Theo phương án này lợi tức cổ phần được chia ra hai phần, một phần
chịu thuế và một phần được miễn thuế.Ví dụ, ở Đài Loan 80% lãi cổ phần
nhận từ công ty khác được miễn thuế và 20% còn lại phải chịu thuế.
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
- Tiền lãi cho vay và tiền bản quyền: Ở hầu hết các nước, tiền lãi cho

những nước như Mỹ hoàn toàn không sử dụng các ưu đãi về thuế.
Các ưu đãi về thuế có nhiều hình thức khác nhau. Nhưng thông thường
được thể hiện qua việc giảm thuế suất (Singapo: thuế suất giảm đến 16% đối
với công nghiệp dầu khí), miễn giảm thuế đối với một số thu nhập nào đó
(như đối với lãi từ công trái ở Malaysia) hay cho phép khấu trừ những khoản
đặc biệt từ thu nhập chịu thuế (như đối với khoản đóng góp từ thiện ở Hồng
Kông).
1.3. Vấn đề cần quan tâm khi xây dựng chính sách thuế TNDN
Thuế TNDN không chỉ được coi là một sắc thuế quan trọng trong hệ
thống thuế ở nước ta, là nguồn thu lớn của ngân sách Nhà nước, mà nó còn là
công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu của
Nhà nước trong từng thời kỳ. Trong đó xây dựng chính sách thuế TNDN là
việc xây dựng một hệ thống các biện pháp của từng Nhà nước trong lĩnh vực
thuế TNDN. Nó là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế của Nhà
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
nước. Chính sách thuế thể hiện ở cách xác định phạm vi điều chỉnh của thuế,
thuế suất, việc áp dụng chế độ miễn giảm thuế, chế độ ưu đãi thuế suất…
Thông qua đó Nhà nước sẽ tác động tới mọi hoạt động kinh tế nhằm đạt được
các mục tiêu đã đề ra trong một giai đoạn nhất đinh. Chính vì vậy, khi xây
dựng chính sách thuế TNDN cần phải nắm rõ mục tiêu của giai đoạn tới để
có những sửa đổi, bổ sung phù hợp và hiệu quả. Trong đó, có một số vấn đề
cần quan tâm trong quá trình xây dựng chính sách thuế TNDN như sau:
Thứ nhất, xác định đúng đắn phạm vi điều chỉnh của thuế TNDN
Điều quan trọng trước hết trong việc sử dụng cơ chế, chính sách thuế
TNDN phục vụ cho mục tiêu quản lý của Nhà nước là cần xác định rõ phải
điều tiết khoản thu nhập nào thông qua thuế TNDN. Đối với những khoản thu

hơn thuế suất áp dụng cho các đối tượng khác(thuế suất ưu đãi). Về nguyên
tác, thuế suất ưu đãi thực sự có ý nghĩa trong trường hợp thuế trực thu, đặc
biệt là thuế TNDN. Khi đó, thuế thu vào lợi nhuận kinh doanh của doanh
nghiệp sẽ ít đi làm tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Điều này cho
phép doanh nghiệp có thêm tiềm năng tài chính để đầu tư đổi mới, nâng cấp
máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất hoặc thậm chí giảm giá bán sản
phẩm để chiến thắng trong cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu thuế suất ưu đãi áp
dụng cho những ngành, khu vực không có điều kiện thuận lợi trong kinh
doanh thì nó chỉ có thể giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp, làm cho doanh
nghiệp có điều kiện kinh doanh tương đương với các doanh nghiệp ở các
ngành, khu vực khác, mà chưa hẳn đã tạo ra ưu thế tuyệt đối trong cạnh tranh
của các doanh nghiệp. Như vậy, có thể có hai trường hợp cơ bản có tính chất
khác nhau khi áp dụng thuế suất ưu đãi: Một là, ngành và khu vực đó có lợi
thế tương đối và tuyệt đối trong kinh doanh nhưng vẫn cần áp dụng thuế suất
ưu đãi vì đó là ngành, khu vực quan trọng; sự phát triển của ngành, khu vực
đó có tác dụng quan trọng đến sự phát triển kinh tế quốc gia. Hai là, ngành và
khu vực đó không có lợi thế tương đối và tuyệt đối song lại cần khuyến khích
kinh doanh vì yêu cầu phát triển cân đối nền kinh tế hoặc vì lý do chính trị xã
hội.
Thứ tư, áp dụng chế độ miễn giảm thuế TNDN.
Miễn, giảm thuế là việc Nhà nước miễn một phần hoặc toàn bộ số thuế
đối tượng nộp thuế phải nộp. Miễn, giảm thuế thường được Nhà nước khuyến
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
khích kinh doanh ngành nghề, khu vực nào đó hoặc chiếu cố đến hoàn cảnh
khó khăn của đối tượng nộp thuế, hoặc thậm chí là giải quyết một chính sách
xã hội. Xét về kết quả, thì so với trường hợp áp dụng thuế suất ưu đãi, miễn,

[email protected]
Tel : 0918.775.368
của nước chủ nhà về mặt tài chính. Các biện pháp ưu đãi thuế TNDN nhằm
thu hút vốn đầu tư nước ngoài thể hiện:
+ Giảm thuế TNDN đối với lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích đầu tư
+ Miễn thuế từ 2 đến 10 năm với các CSSX kinh doanh mới thành lập
+ Khuyến khích theo địa bàn ưu đãi đầu tư
+ Sử dụng điều kiện về lao động để khuyến khích đầu tư...
Đối với nước ta hiện nay, trình độ kinh tế xã hội rất thấp kém, Nhà
nước phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để hướng dẫn nền kinh tế phát
triển theo những quỹ đạo nhất định, trong đó việc sử dụng ưu đãi thuế TNDN
là biện pháp quan trọng. Đây cũng là biện pháp được sử dụng một cách có
hiệu quả trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta. Việc thu hút
được nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài không chỉ giải quyết được nhu cầu thiều
vốn ở nước ta hiện nay mà còn giúp ta có điều kiện tranh thủ kỹ thuật hiện đại
của các nước khác, đồng thời giải quyết việc làm cho lao động trong nước. Do
vậy, sử dụng ưu đãi về thuế TNDN để thu hút đầu tư là đúng đắn. Nhưng khi
sử dụng ưu đãi cần chú ý tới mối quan hệ giữa các DNTN với DN có vốn
ĐTNN về quyền và nghĩa vụ trong hoạt động kinh tế; đồng thời cũng chú ý
tới công bằng trong phân phối thu nhập. Cần thận trọng trong việc sử dụng ưu
đãi như thời gian ưu đãi, các mức thuế suất ưu đãi,... vì bản thân những ưu đãi
về thuế có những mặt trái của nó nếu sử dụng các ưu đãi đó không đúng lúc.
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH
THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Nội dung cơ bản của chính sách thuế TNDN ở Việt Nam hiện nay

Căn cứ tính thuế là thu nhập chịu thuế và thuế suất.
Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
Thuế TNDN = TN chịu thuế x Thuế suất thuế
phải nộp trong kỳ tính thuế TNDN
- Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập chịu thuế
của hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập chịu thuế khác, kể cả thu
nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài.
Kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch. Trường hợp cơ sở
kinh doanh áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch thì kỳ tính thuế
xác định theo năm tài chính áp dụng.
Thu nhập Doanh thu để Chi phí Thu
nhập
chịu thuế = tính thu nhập - hợp lý +
chịu thuế
trong kỳ chịu thuế trong trong kỳ khác
trong
tính thuế kỳ tính thuế tính thuế kỳ tính thuế
Thu nhập chịu thuế khác bao gồm thu nhập từ chênh lệch mua, bán
chứng khoán, quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, thu nhập từ chuyển quyền
sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất; lãi từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý
tài sản, tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; kết dư cuối năm các khoản dự
phòng; thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ...
+ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế: là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia
công , tiền cung ứng dịch vụ, kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh
doanh được hưởng, trường hợp có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra
đồng Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu bằng ngoại tệ.

ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, của các tổ chức kinh tế theo lãi suất
thực tế, chi trả lãi tiền vay của các đối tượng theo lãi suất thực tế khi ký hợp
đồng vay, nhưng tối đa không quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay của ngân hàng
thương mại tại thời điểm vay.
 Trích các khoản dự phòng theo chế độ quy định: dự phòng giảm giá
hàng tồn kho, công nợ khó đòi, giảm giá chứng khoán, trợ cấp mất việc làm...
 Trợ cấp thôi việc cho người lao động.
 Chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại liên quan trực tiếp đến hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các khoản chi phí khác được khống chế
tối đa không quá 10% tổng số chi phí.
 Các khoản thuế, phí, lệ phí, tiền thuế đất phải nộp có liên quan đến hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ được tính vào chi phí hợp lý;

Trích đoạn Chưa quy định rõ về hiệu lực pháp lý Về ưu đãi, miễn giảm thuế Về kê khai nộp thuế, quyết toán thuế Điều kiện nhằm thực hiện tốt các giải pháp 1 Cải cách hệ thống hành thu Đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách, định hướng cải cách thuế Công tác tuyên truyền chính sách, định hướng cải cách thuế phải được tiến
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status