HOàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới - Pdf 11

Lời mở đầu
Thuế là một trong những công cụ quản lý và điều tiết của nhà nớc
về tình hình sản xuất, kinh doanh và lu thông hàng hoá - dịch vụ trong n-
ớc. Ngoài ra chính sách thuế còn là một trong những công cụ để thực
hiện các chiến lợc kinh tế của đất nớc. Trong hoạt động kinh doanh thơng
mại quốc tế, các nớc thờng dùng các công cụ để quản lý nh: hạn ngạch,
tỷ giá, giấy phép, thuế quan. Trong đó thuế xuất nhập khẩu thờng đợc các
nớc sử dụng cơ bản nhất bởi nó là cơ sở trong trao đổi buôn bán và là một
nguồn thu đối với ngân sách quốc gia.
ở Việt Nam, thuế xuất nhập khẩu đợc ban hành thành luật vào
tháng 12 năm 1987 với tên gọi là Luật thuế xuất nhập khẩu hàng mậu
dịch. Sau hai lần sửa đổi vào các năm 2001 và 2005 và gần đây nhất là tại
kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá X (tháng 4, tháng 5-2004), Luật thuế xuất
nhập khẩu đã có những nội dung thay đổi cơ bản về thời hạn tính thuế,
thuế xuất, về xử lý vi phạm... Tuy vậy trong quá trình thực hiện, thuế
xuất nhập khẩu vẫn còn nhiều hạn chế và có những điểm cha phù hợp với
tình hình thực tế trong nớc, cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung.
Mặt khác, trong thực tiễn phát triển kinh tế của đất nớc cũng nh bối
cảnh quốc tế mới, làm cho luật thuế xuất nhập khẩu vừa đáp ứng đợc nhu
cầu quản lý kinh tế trong nớc, vừa phù hợp với luật lệ và thông lệ quốc tế.
Các yếu tố thúc đẩy hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu là:
1
Do nhu cầu đòi hỏi cần phải có chính sách thuế xuất nhập khẩu phù
hợp để đảm bảo sự công bằng giữa các doanh nghiệp tham gia hoạt động
xuất nhập khẩu; khuyến khích sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu.
Sự gia nhập vào các tổ chức trong khu vực nh ASEAN và sự tham
gia hiệp định AFTA và gần đây nhất là việc Việt Nam ký hiệp định thơng
mại song phơng với Mỹ đang đặt ra nhiều vận hội cho sự phát triển của
đất nớc, nhng cũng đặt ra nhiều thách thức mà chúng ta thực sự phải nỗ
lực thì mới đạt đợc những mục tiêu phát triển mong muốn. Thách thức tr-
ớc mắt là chúng ta phải thực hiện những cắt giảm thuế quan với nhiều

1. Thuế xuất nhập khẩu và tác dụng của nó.
3
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phát sinh khi có sự chuyển dịch
hàng hoá qua cửa khẩu và qua khu chế xuất. Đối tợng nộp thuế là tất cả
hàng hoá đợc phép xuất nhập khẩu qua biên giới và hàng hoá ngoài thị tr-
ờng mua bán với khu chế xuất. Hàng vận chuyển quá cảnh, hàng chuyển
khẩu và hàng nhân đạo không thuộc diện chịu thuế.
Thuế xuất nhập khẩu là một trong những biện pháp tài chính mà các
nớc dùng để can thiệp vào hoạt động ngoại thơng. Thuế xuất nhập khẩu
thực chất là một khoản thu bắt buộc điều tiết vào giá của các hàng hoá,
dịch vụ đợc trao đổi buôn bán giữa các quốc gia mà chủ sở hữu chúng
phải nộp thuế cho nhà nớc.
Thuế chính là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nớc. Thông th-
ờng nguồn thu từ thuế chiếm từ 60 - 90% ngân sách. Cho nên thuế thờng
trở nên là một công cụ quan trọng của chính phủ góp phần tích cực vào
việc điều chỉnh các mất cân đối lớn trong nền kinh tế; góp phần khuyến
khích tăng trởng kinh tế; khuyến khích cạnh tranh và mở rộng các thành
phần kinh tế, động viên khai thác tài nguyên lao động, nguyên nhiên vật
liệu trong nớc; kích thích khai thác nguồn vốn từ nớc ngoài; mở rộng
giao lu hàng hoá... Ngoài ra, thuế còn có tác dụng góp phần bảo đảm
công bằng xã hội, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế...
Việt Nam là một trong những nớc mà hệ thống thuế cha phát triển
thì thuế xuất nhập khẩu đợc xem là một nguồn thu quan trọng trong ngân
sách của chính phủ. Khối lợng thuế nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong toàn bộ nguồn thu của nớc ta, do đặc điểm là sản xuất công nghiệp
4
còn non yếu và tiêu thụ lại theo khuynh hớng chuộng đồ ngoại. Nên tốc
độ nhập khẩu luôn tăng nhanh hơn tốc độ phát triển kinh tế và vì vậy thuế
nhập khẩu càng trở nên quan trọng. Thuế nhập khẩu bảo hộ sản xuất
trong nớc, nâng đỡ các ngành công nghiệp non trẻ trong nớc, đảm bảo

tăng cờng mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế đối ngoại với các nớc, đẩy
nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, hớng mạnh về xuất
khẩu thì chính sách thuế xuất nhập khẩu của nớc ta đã bộc lộ những hạn
chế nh:
Cha đáp ứng đợc yêu cầu thực hiện chiến lợc hớng mạnh về xuất
khẩu; Cha phù hợp với chiến lợc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần;
Cha phù hợp với thông lệ và các nguyên tắc của các tổ chức quốc tế mà
6
nớc ta đã và sẽ hội nhập; Trong tổ chức thực hiện chính sách thuế xuất
nhập khẩu còn nhiều bất cập.
Trong những năm qua mặc dù chính sách thuế xuất nhập khẩu của
Việt Nam đã có nhiều thay đổi, tuy nhiên vẫn còn nhiều những điểm cha
hợp lý. Cụ thể nh sau:
1. Biểu thuế:
Việc ban hành biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu (xuất nhập khẩu)
hiện hành là cha phù hợp: thuế suất dàn trải quá rộng, thuế xuất nhập
khẩu do phải gánh chịu nhiều mục tiêu bao gồm cả kinh tế, văn hoá và xã
hội, cho chính sách thuế xuất nhập khẩu nằm trong hệ thống thuế với tính
chất là một công cụ điều tiết trong tay nhà nớc. Do vậy, mà cơ cấu thuế
trở lên quá phức tạp, trùng lắp nhiều mức thuế qui định quá chi tiết. Một
vài mức thuế rất sát nhau, đặc biệt là thuế nhập khẩu nh: 0,5%, 1%, 2%
và 3%, 5%, 6% và 7%, 10% và 11%, 15% và 16%, 38% và 40%... có thể
hiện có nhiều mức thuế chi tiết nh thế là do phải thực hiện nhiều mục tiêu
làm kinh tế - xã hội, nhiều trờng hợp thuế bảo hộ đến từng doanh nghiệp
sản xuất hoặc từng doanh nghiệp sản xuất trong từng nhóm doanh nghiệp
trong nớc. Điều này làm cho biểu thuế mất tính trung lập của nó. Quá
nhiều mức thuế suất làm cho cơ cấu thuế phức tạp một cách không cần
thiết. Thuế dàn trải là có hại - thậm chí tai hại hơn mức thuế suất cao nh-
ng thống nhất - vì chúng có thể đa nguồn vốn vào hoạt động không có
hiệu quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status