Hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam đã là thành viên của WTO - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa trên thế giới ngày càng mạnh mẽ. Tự do hóa thương mại là vấn đề
cần thiết với mỗi quốc gia hiện nay, hệ quả của nó là vấn đề khu vực hóa và toàn cầu hóa
nền kinh tế . Hội nhập kinh tế được xem là tất yếu khách quan và trở thành vấn đề thời sự
quốc tế.
Việt Nam trong hơn một thập niên gần đây đã có những nỗ lực rất lớn để hội nhập
kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Đặc biêt trong
những năm đầu của thiên niên kỷ mới, chính sách thuế và trợ cấp của Việt Nam đã từng
bước để điều chỉnh nhằm thực thi các hiệp định thương mại song phương và khu vực, đồng
thời gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Trong chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách thuế quan được coi là phải điều chỉnh
nhiều nhất sau khi gia nhập WTO do chúng có liên quan trực tiếp với việc thực thi các cam
kết gia nhập
Ngày 29-12-1987, Quốc hội khóa VIII kỳ họp lần thứ 2 thông qua Luật Thuế xuất
khẩu, Thuế nhập khẩu, đồng thời có ban hành kèm theo biểu thuế chung, biểu thuế xuất
nhập khẩu cho từng mặt hàng, chưa tách 2 biểu thuế riêng biệt. Biểu thuế này, được xây
dựng dựa trên danh mục hàng xuất nhập khẩu Việt Nam theo tiêu chuẩn của Hội đồng
Tương trợ kinh tế (khối SEV). Biểu thuế này hoàn toàn tuân theo từng mục đích sử dụng.
Nói chung, biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và cả Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu
chỉ phù hợp cho giai đoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, việc xuất nhập khẩu theo chế
độ nghị định thư ký giữa các chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa (thị trường khu vực I),
sau đó cải tiến ban hành thêm khung thuế xuất nhập khẩu để chính phủ kịp thời điều chỉnh
cho hợp lý.Việc điều chỉnh chính sách thuế nhằm hướng tới việc đáp ứng các nguyên tắc và
quy định WTO như từng bước cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan, đối xử bình
đẳng với các loại hình doanh nghiệp trong và ngoài nước và nỗ lực cải thiện tính công khai,
minh bạch trong hoạch định và thực thi chính sách kinh tế
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Luật Thuế xuất - nhập khẩu cũ bộc lộ nhiều
nhược điểm và chưa bảo vệ nền sản xuất hàng hóa nội địa, hướng dẫn tiêu dùng, tăng thu
cho ngân sách... Vì vậy, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng và trình Quốc hội
thông qua Luật Thuế xuất - nhập khẩu ngày 26-11-1991. Mục đích của thuế xuất khẩu, thuế


Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển dẫn đến các quan hệ mua bán trao đổi hàng
hoá giữa các quốc gia diễn ra ngày càng tăng. Mỗi một quốc gia độc lập có chủ quyền đều
sử dụng một loại thuế thu vào hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới nước
mình. Thuế này được gọi chung là thuế quan (Custom duty).
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới phát triển theo xu hướng quốc tế hóa thì pháp luật
của các nước về thuế quan ngày càng có xu thế hội nhập với các quốc gia trong khu vực và
trên phạm vi toàn thế giới.
Thuế quan ở Việt Nam có tên gọi là thuế xuất nhập khẩu (XNK).
Thuế XNK là loại thuế gián thu đánh vào những mặt hàng được phép xuất khẩu, nhập
khẩu qua biên giới Việt Nam kể cả thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu
phi thuế quan vào thị trường trong nước
Thuế XNK được nhà nước ta ban hành vào năm 1951, thời điểm này thuế XNK là
công cụ để nhà nước thực hiện chức năng quản lý việc XNK hàng hoá giữa vùng tự do và
vùng bị tạm chiếm, bảo vệ và phát triển kinh tế vùng tự do, xúc tiến việc giao lưu các loại
hàng hoá là nhu yếu phẩm cần thiết cho quân đội và nhân dân. Phương châm đấu tranh kinh
tế với địch là đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ nhập khẩu các loại hàng hoá cần thiết cho
kháng chiến, sản xuất và đời sống nhân dân. Do đó, nhà nước miễn thuế xuất khẩu cho tất
cả các loại hàng hoá của vùng tự do. Mặt khác, hạn chế nhập khẩu hàng hoá từ vùng địch.
Thuế suất áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu là từ 30 % trở lên.
Huy động nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước. Đối với thuế XNK ở mức cao vừa
bảo hộ sản xuất trong nước, vừa đóng góp nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên
thuế nhập khẩu ở mức thấp, số thu cho ngân sách nhà nước sẽ thấp hoặc không đáng kể,
nhưng thuế xuất nhập khẩu thấp có nghĩa là khuyến khích nhập khẩu, thu ngân sách nhà
nước sã tăng lên ở khâu tiêu thụ sản phẩm bằng các loại thuế nội địa.
Đối với thuế nhập khẩu nếu ở mức cao thì tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước,
nhưng hạn chế xuất khẩu . Nếu thuế nhập khẩu ở mức thấp sẽ khuyến khích xuất khẩu và
nguồn thu ngân sách Nhà nước sẽ tăng bằng các thuế nội địa khác.

3
Thuế XNK đánh vào giá trị hàng hóa xuất khẩu nhằm hạn chế xuất khẩu các mặt hàng


4
Thứ hai : Thuế XNK là loại thuế gắn liền với hoạt động ngoại thương. Hoạt động
ngoại thương giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển của nền kinh tế quốc dân, tuy
nhiên hoạt động này đòi hỏi có sự quản lý của nhà nước. Thuế XNK là công cụ quan trọng
của nhà nước nhằm kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua việc kiểm soát giá cả và
chủng loại hàng hóa XNK. Việc đánh thuế XNK thường căn cứ vào giá trị và chủng loại
hàng hóa XNK. Giá cả của hàng hóa được xác định làm căn cứ tính thuế XNK là giá trị cuối
cùng của hàng hóa qua cửa khẩu xuất( đối với thuế xuất khẩu) và giá cả hàng hóa tại cửa
khẩu nhập đầu tiên( đối với thuế nhập khẩu ).
Thứ ba: Thuế XNK chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố quốc tế như: sự biến
đông kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế…Thuế XNK điều chỉnh vào hoạt động
XNK hàng hóa của một quốc gia. Sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mai quốc
tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa XNK của các quốc gia. Sự biến đông
kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới
hàng hóa XNK của các quốc gia nhất là xu thế tự do hóa thương mại, mở cửa và hội nhập
kinh tế như hiện nay. Để đạt được những mục tiêu đặt ra đòi hỏi chính sách thuế XNK phải
có tính linh hoạt cao, có những biến đổi phù hợp tùy theo tình hình kinh tế thế giới và đảm
bảo phù hợp với những cam kết quốc tế.
1.1.3. Quá trình phát triển thuế xuất nhập khẩu.
Thuế XNK hay còn gọi là thuế quan có lịch sử phát triển từ lâu đời. Nó ra đời từ thời
cổ đại, tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Trong lịch sử phát triển, luôn tồn tại hai
trường phái về việc sử dụng thuế XNK. Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển do
nhu cầu xuất khẩu tư bản và hàng hóa lớn thì muốn xóa bỏ hàng rào thuế quan để củng cố
và tăng cường bành trướng kinh tế. Ngược lại các nước có nền kinh tế kém phát triển,
không bị lệ thuộc hoặc thống trị bởi các nền kinh tế bên ngoài thì muốn duy trì và củng cố
hàng rào thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước. Hai quan điểm sử dụng thuế XNK đã
được thể hiện rõ nét qua tiến trình phát triển kinh tế thế giới
Vào thời kỳ đầu của Chủ nghĩa Tư bản, được khuyến khích bởi các học thuyết kinh tế
thuộc trào lưu tự do hóa kinh tế, người ta cho rằng thuế XNK là một cản trở lớn cho quá

của nhà nước còn hạn hẹp cần phải tranh thủ mọi nguồn thu để phát triển kinh tế
Ngày nay với lý thuyết lợi thế so sánh trong hoạt động ngoại thương, các nước phát
triển cũng như đang phát triển đều bị lôi kéo theo trào lưu mở cửa hội nhâp, tự do hóa
thương mai. Giữa các nước có trình độ phát triển kinh tế tương đồng hoặc có chung lợi ích
hình thành nên những khu vực kinh tế phi thuế quan hoặc hạn chế thuế quan. Trong hoàn

6
cảnh đó buộc tất cả các nước phải xem xét lai chính sách sử dụng thuế XNK sao cho phù
hợp với diễn biến và trình độ phát triển của kinh tế thế giới
Ở Việt Nam thuế XNK phát triển qua nhiều giai đoạn
Năm 1946 sau khi giành được độc lập và tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp,
nhà nước đã ban hành thuế quan đánh vào hoạt động kinh doanh xuất khẩu qua cửa khẩu
biên giới và trao đổi hàng hóa giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm. Thuế suất được quy
định theo tỷ lệ % tính trên giá trị lô hàng XNK. Giai đoạn từ 1965-1988, đây là thời kỳ kế
hoạch hóa tập trung, nhà nước thực hiện độc quyền ngoại thương nên chỉ có các tổ chức
kinh tế nhà nước mới được phép trao đổi hàng hóa với nước ngoài thông qua tổ chức
XNK. Thị trường ngoại thương rất hẹp, chủ yếu được thực hiện trong phạm vi các nước
XHCN. Vì vậy nhà nước thực hiện chế độ thu bù trừ chênh lệch ngoại thương và thu kết
hối ngoại tệ từ 5% đến 20% đối với hàng hóa XNK mậu dịch. Đối với hàng hóa XNK phi
mậu dịch thì thực hiện chế độ hàng hóa XNK phi mậu dịch. Nhiệm vụ chủ yếu của chế độ
thu bù chênh lệch ngoại thương là nhà nước đảm bảo về mặt tài chính cho các tổ chức
XNK, nó chưa đặt ra mục tiêu thu ngân sách nhà nước và hoạt động quản lý ngoại thương.
Việc chuyển sang cơ chế thị trường, cùng với chủ trương mở rộng kinh tế đối ngoại đã
làm cho hoạt động ngoại thương ở nước ta có điều kiện phát triển đòi hỏi phải có sự can
thiệp của nhà nước bằng các chính sách công cụ tài chính trong đó có thuế XNK. Luật thuế
XNK mậu dịch được quốc hội khóa 8 thông qua vào tháng 12/1987 có hiệu lực thi hành
vào năm 1988. Từ năm 1989 nước ta đã bãi bỏ thuế hàng hóa nhập khẩu mậu dịch, chỉ còn
thu vào hoạt động XNK theo 2 biểu thuế riêng biệt: thuế XNK hàng mậu dịch và thuế
XNK hàng phi mậu dịch. Mục tiêu của thuế XNK thời kỳ này là khuyến khích xuất khẩu ,
hạn chế nhập khẩu để bảo hộ hàng hóa trong nước: thuế xuất khẩu đã giảm bớt nhóm mặt

(thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu). Thuế xuất khẩu là một công cụ mà các nước đang phát
triển thường sử dụng để đánh vào một số mặt hàng nhằm tăng lợi ích quốc gia. Trái lại, ở
nhiều nước phát triển người ta không sử dụng thuế xuất khẩu do họ không đặt mục tiêu tăng
nguồn thu ngân sách từ thuế xuất khẩu. Vì vậy, ở những nước đó, khi nói tới thuế quan
người ta đồng nhất nó với thuế nhập khẩu. Để xác định mức độ chịu thuế của các hàng hóa
khác nhau mỗi nước đều xây dựng một biểu thuế quan. Biểu thuế quan là một bảng tổng
hợp quy định một cách có hệ thống các mức thuế quan đánh vào các loại hàng hóa chịu thuế
khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Biểu thuế quan có thể được xây dựng dựa trên phương pháp
tự định hoặc phương pháp thương lượng giữa các quốc gia. Có hai biểu thuế quan là biểu
thuế quan đơn và biểu thuế quan kép. Biểu thuế quan đơn là biểu thuế quan trong đó chỉ quy
định một mức thuế quan cho mỗi loại hàng hóa. Hiện nay, hầu hết các nước không còn áp

8
dụng biểu thuế quan này. Biểu thuế quan kép là biểu thuế quan trong đó mỗi loại hàng hóa
quy định từ hai mức thuế trở lên. Những loại hàng hóa có xuất xứ khác nhau sẽ chịu những
mức thuế khác nhau.
Thuế quan có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, theo phương pháp tính
thuế, thuế quan được chia thành thuế quan đặc định, thuế suất theo giá trị và thuế suất hỗn
hợp. Thuế suất đặc định là thuế tính trên một đơn vị hiện vật của hàng hóa, ví dụ thuế tính
trên 1 tấn, 1 chiếc... Thuế trị giá là thuế đánh vào giá trị hàng hóa và được tính theo tỷ lệ
phần trăm của giá trị hàng hóa đó. Thuế quan hỗn hợp là sự kết hợp giữa thuế đặc trưng và
thuế suất theo giá trị. Theo mục đích đánh thuế, thuế quan được phân chia thành thuế quan
tài chính và thuế quan bảo hộ. Thuế quan tài chính là thuế quan nhằm vào mục tiêu tăng thu
cho ngân sách quốc gia. Thuế quan bảo hộ là thuế quan nhằm bảo hộ các ngành sản xuất
trong nước, làm giảm sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Theo mức thuế, thuế quan được
chia ra mức thuế tối đa, mức thuế tối thiểu và mức thuế ưu đãi. Mức thuế tối đa được áp
dụng cho những hàng hóa có xuất xứ từ các nước chưa có quan hệ thương mại bình thường.
Mức thuế tối thiểu được áp dụng cho những hàng hóa có xuất xứ từ các nước có quan hệ
bình thường. Mức thuế ưu đãi được áp dụng cho hàng hóa xuất xứ từ các nước có thỏa
thuận hợp tác.

hàng hóa, do vậy sẽ khuyến khích các nhà sản xuất trong nước. Tuy nhiên, điều đó cũng sẽ
làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước. Thuế nhập khẩu có thể
giúp cải thiện thương mại của nước đánh thuế. Có thể có nhiều sản phẩm mà giá của chúng
không tăng đáng kể khi bị đánh thuế. Đối với loại hàng hóa này thuế quan có thể khuyến
khích nhà sản xuất ở nước ngoài giảm giá. Khi đó lợi nhuận sẽ được chuyển dịch một phần
cho nước nhập khẩu. Tuy nhiên, để đạt được hiệu ứng đó, nước nhập khẩu phải là nước có
khả năng chi phối đáng kể đối với cầu thế giới của hàng hóa nhập khẩu.
Chính sách thuế quan trọng trong điều kiện hội nhập: Nhìn chung chính sách thuế
quan của các quốc gia trong điều kiện hiện nay đều có ảnh hưởng nới lỏng sự hạn chế
thương mại, từng bước giảm dần các mức thuế trên cơ sở các hiệp định đa phương và song
phương. Thương lượng trong việc xây dựng biểu thuế quan được coi như là một đặc trưng
cơ bản của chính sách thuế xuất nhập khẩu trong những thập kỷ gần đây. Sự hình thành của
các liên minh thuế quan đã có những ảnh hưởng nhất định đến lượng hàng hóa được trao
đổi giữa các nước trong liên minh và các nước ngoài liên minh. Chính sách liên minh thuế
quan đã có tác động làm tăng đáng kể khối lượng thương mại giữa các nước thuộc liên minh
trong khi đó nó tạo ra một hàng rào ngăn cản hàng hóa của các nước ngoài liên minh. Điều

10
này dường như đã trở thành một xu hướng trong việc hoạch định chính sách thuế quan hiện
nay nhằm tự do hóa thương mại giữa các nước trong khu vực và bảo hộ thị trường khu vực
trước sự cạnh tranh của hàng hóa đến từ bên ngoài. Trong trường hợp tự do hóa thương mại,
lợi ích thương mại cho các thành viên không còn là điều phải tranh cãi vì mỗi quốc gia nhờ
đó sẽ tận dụng triệt để những nguồn lực có thế mạnh, loại bỏ những ngành sản xuất không
hiệu quả, đồng thời người dân cũng sẽ được tiêu dùng những sản phẩm rẻ hơn với chất
lượng tốt hơn. Trong trường hợp bảo hộ thị trường khu vực, nếu chỉ xét trong một ngành
duy nhất, có thể có một số nước sẽ lâm vào tình trạng bất lợi do phải nhập khẩu những sản
phẩm của các nước trong liên minh với giá cao hơn giá quốc tế. Tuy nhiên, liên minh thuế
quan là một thỏa thuận hợp tác giữa các nước tham gia. Do vậy, nếu như một nước chịu
thiệt hại về một ngành nào đó thì đổi lại nó sẽ được lợi từ một ngành khác trên cơ sở cân
bằng về lợi ích giữa các thành viên.

ưu đãi đối với hàng nhập khẩu. Các quốc gia khi tham gia ký kết hiệp định phải từ bỏ tính
chủ quyền trong đánh thuế XNK mà phải tuân thủ các hiệp định thuế đã được ký kết . Theo
đó hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ khu vực thị trường phổ thông( không có cam kêt) thì
áp dụng thuế suất phổ thông, đối với khu vực có cam kết đối xử tối huệ quốc thì áp dụng
thuế suất ưu đãi, đối với khu vực thị trường có cam kết ưu đãi đặc biệt thì áp dụng thuế
suất ưu đãi đặc biêt
Nguyên tắc 3: Căn cứ vào lợi thế so sánh thương mại và yêu cầu bảo hộ của từng loại
hàng hóa và khu vực thị trường để thiết lập biểu thuế phù hợp:
Một trong những mục tiêu khi xây dựng chính sách thuế XNK mà các nước hướng tới
là bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế XHCN của
từng quốc gia mà mục tiêu trên có thể nhấn mạnh hoặc giảm bớt. Căn cứ vào lợi thế so
sánh thương mại của các mặt hàng sản xuất trong nước, chính sách thuế XNK sẽ xây dựng
biểu thuế cho phù hợp. Những mặt hàng có lơi thế so sánh tương đối thấp, tính cạnh tranh
kém, nhà nước sẽ xây dựng biểu thuế nhập khẩu cao nhằm bảo hộ sản xuất trong nước và
ngược lại. Biểu thuế nhập khẩu phải chi tiết, cụ thể với từng nhóm hàng, cũng như tính
năng và công dụng của nó. Sự cụ thể chi tiết của biểu thuế một mặt góp phần tăng cường
quản lý của nhà nước với hoạt động XNK đồng thời nó cũng tạo ra những khẽ hở để các
đối tượng lợi dụng tránh thuế gây khó khăn cho công tác quản lý thuế. Do đó vấn đề đặt ra
là làm sao dung hóa được mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước và mục tiêu đơn giản hóa,
tiết kiệm chi phí quản lý. Bên cạnh đó chính sách XNK phải có tính linh hoạt cao. Tùy theo
biến động của thị trường trong nước và quốc tế, thuế suất thuế XNK thường xuyên được

12
điều chỉnh cho mục tiêu phát triển kinh tế và điều kiện kinh tế xã hội trong nước và thế
giới trong từng thời kỳ
Nguyên tắc 4: Tuân thủ các quy định về thông lệ quốc tế về phân loại mã hàng XNK
và giá tính thuế hàng hóa XNK
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa, các quốc gia cần tuân thủ các
quy định chung liên quan đến hoạt động ngoại thương. Trong đó đánh thuế bao nhiêu vào
hàng nào có liên quan chặt chẽ đến phân loại hàng hóa và xác định trị giá tính thuế của

Hàng hoá nhập khẩu trong các trường hợp sau, ngoài việc chịu thuế theo quy định như
trên còn phải chịu thuế bổ sung
• Hàng hoá được nhập khẩu vào Việt Nam với giá bán của hàng hoá đó quá thấp so
với giá thông thường do được bán phá giá, gây khó khăn cho sự phát triễn ngành sản xuất
hàng hoá tương tự cuả Việt Nam .
• Hàng hoá được nhập khẩu vào Việt Nam với giá bán của hàng hoá đó quá thấp so
với giá thông thường do có sự trợ cấp của nước xuất khẩu, gây khó khăn cho sự phát triển
ngành sản xuất hàng hoá tương tự cuả Việt Nam.
• Hàng hoá được nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ nước mà nước đó có sự phân
biệt đối xử về thuế nhập khẩu hoặc có những biện pháp phân biệt đối xử khác đối với hàng
hoá cuả Việt Nam.
Thứ ba: Căn cứ vào số lượng hàng hoá XNK:
Là số lượng hàng hoá thực tế ghi trên tờ khai mà cơ sở có hàng xuất khẩu, nhập khẩu
nộp cho cơ quan hải quan .
1.2.2.2. Phương pháp tính thuế xuất nhập khẩu:
Đối với hàng hóa áp dụng thuế suất theo tỷ lệ phần trăm:
Số thuế xuất
khẩu, thuế
nhập khẩu
= Số lượng đơn vị từng mặt
hàng thực tế xuất khẩu, nhập
khẩu ghi trong Tờ khai hải
X Trị giá tính thuế
tính trên một đơn
vị hàng hóa
X Thuế suất của
từng mặt hàng

14
phải nộp quan

c. Miễn thuế hàng là tài sản di chuyển cuả tổ chức, cá nhân Việt Nam hay nước ngoài
di chuyển vào Việt Nam hay đưa ra nước ngoài trong mức quy định bao gồm:
Hàng là tài sản di chuyển của các tổ chức, cá nhân người nước ngoài khi được phép
vào cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc chuyển ra khỏi Việt Nam khi hết thời hạn cư trú và
làm việc tại Việt Nam.
Hàng hoá là tài sản di chuyển cuả tổ chức, cá nhân Việt Nam được Chính phủ Việt
Nam cho phép đưa ra nước ngoài để kinh doanh và làm việc, khi hết hạn chuyển về nước.

15
Hàng hoá là tài sản di chuyển cuả cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang
về nước khi được phép trở về định cư ở Việt Nam hoặc mang ra nước ngoài khi được phép
định cư ở nước ngoài.
Hàng hoá mang theo hoặc gửi về nước cuả công dân Việt Nam đi hợp tác lao động,
hợp tác chuyên gia, công tác và học tập ở nước ngoài trong tiêu chuẩn hành lý xuất nhập
cảnh theo quy định cuả Chính phủ.
d. Hàng hoá XNK cuả tổ chức, cá nhân người nước ngoài được hưởng tiêu chuẩn miễn
trừ ngoại giao do Chính phủ quy định phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết
hoặc tham gia.
e. Hàng hoá là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để gia công cho nước ngoài rồi xuất khẩu
cho nước ngoài theo hợp đồng đã kí kết bao gồm các hình thức: nhận vật tư, nguyên liệu về
sản xuất rồi giao lại toàn bộ thành phẩm; hoặc trả tiền một phần hay toàn bộ vật tư, nguyên
liệu để bán lại toàn bộ thành phẩm cho nước ngoài theo hợp đồng gia công đã ký kết.
f. Ngoài các trường hợp quy định miễn thuế trên đây, các tổ chức và cá nhân còn được
xét miễn thuế XNK đối với hàng hoá XNK theo các mục đích mà nhà nước cần khuyến
khích vì lợi ích mang tính quốc gia; trường hợp đặc biệt cần khuyến khích đầu tư hoặc hàng
hoá là quà biếu, quà tặng trong mức quy định hoặc một số trường hợp khác do Chính phủ
quy định. Các trường hợp được xét miễn thuế bao gồm:
Hàng nhập khẩu chuyên dùng phục vụ trực tiếp cho an ninh, quốc phòng, nghiên cứu
khoa học và giáo dục, đào tạo trên cơ sở kế hoạch hàng năm đã được Bộ trưởng Bộ chủ
quản duyệt.

hàng theo lộ trình, đã có nhiều ý kiến cho rằng số thu ngân sách Nhà nước (NSNN) sẽ giảm
mạnh do cắt giảm thuế quan. Thế nhưng, trên thực tế tổng số thu NSNN từ đầu năm đến nay
vẫn tăng trưởng, thể hiện ở hiện tượng nhập khẩu của nước ta đã gia tăng mạnh trong thời
gian gần đây cả về quy mô tuyệt đối, cả về tỷ lệ so với GDP. Nếu năm 1995 mới có 8,15 tỷ
USD, bằng 39,2% GDP, năm 2000 là 15,63 tỷ USD, bằng 50,1% GDP thì năm 2007 là
62,68 tỷ USD, bằng 88% GDP.
Như vậy, tuy việc cắt giảm hàng loạt các dòng thuế theo các cam kết đa phương và
song phương, khu vực và thế giới được thực hiện ngày càng sâu rộng đối với hàng nhập
khẩu thì kim ngạch nhập khẩu vẫn tăng, thể hiện ở hiện tượng nhập siêu năm 2007 là
14,1200 tỷ USD và 6 tháng đầu năm nay đã vượt cả năm trước đây. Nguyên nhân của số thu
NSNN tăng mạnh trong thời gian qua, do hiện tượng nhập siêu gia tăng nhanh chóng từ khi
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO.

17
Thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân giảm đi 23% so với mức thuế bình
quân hiện hành (thuế suất MFN) của Biểu thuế (từ 17,4% xuống còn 13,4%). Thời gian thực
hiện sau 5- 7 năm.
Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế
(chiếm 35,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700
dòng (chiếm 34,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc theo mức thuế trần – cao hơn mức
thuế suất hiện hành với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của Biểu thuế), chủ yếu là đối
với các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hoá chất, một số phương tiện vận tải.
Một số mặt hàng đang có thuế suất cao từ trên 20%, 30% sẽ được cắt giảm thuế ngay
khi gia nhập. Những nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may,
cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện-điện tử.
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân là 25,2% vào thời điểm gia
nhập và 21,0% sẽ là mức cắt giảm cuối cùng. So sánh với mức thuế MFN bình quân đối với
lĩnh vực nông nghiệp hiện nay là 23,5% thì mức cắt giảm đi sẽ là 10%. Trong lĩnh vực nông
nghiệp, Việt Nam sẽ được áp dụng cơ chế hạn ngạch thuế quan đối với 4 mặt hàng, gồm:
trứng, đường, thuốc lá lá, muối (muối trong WTO không được coi là mặt hàng nông sản).

6. Da, cao su 19,1 14,6
7. Kim loại 14,8 11,4
8. Hóa chất 11,1 6,9
9. Thiết bị vận tải 46,9 37,4
10. Máy móc thiết bị cơ khí 9,2 7,3
11. Máy móc thiết bị điện 13,9 9,5
12. Khoáng sản 16,1 14,1
13. Hàng chế tạo khác 12,9 10,2
Cả biểu thuế 17,2 13,4

Như tất cả các nước mới gia nhập khác, Việt Nam cũng cam kết tham gia vào một số
Hiệp định tự do hoá theo ngành. Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia đầy đủ là sản
phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may và thiết bị y tế. Những ngành mà Việt Nam tham
gia một phần là thiết bị máy bay, hoá chất và thiết bị xây dựng. Thời gian để thực hiện cam
kết giảm thuế là từ 3-5 năm.
Trong các Hiệp định trên, tham gia ITA là quan trọng nhất, theo đó khoảng 330 dòng
thuế thuộc diện công nghệ thông tin sẽ phải có thuế suất 0% sau 3-5 năm. Như vậy, các sản
phẩm điện tử như: máy tính, điện thoại di động; máy ghi hình, máy-ảnh kỹ thuật số… sẽ
đều có thuế suất 0%, thực hiện sau 3-5 năm, tối đa là sau 7 năm.
Việc tham gia Hiệp định dệt may (thực hiện đa phương hoá mức thuế đã cam kết theo
các Hiệp định dệt may với EU, Hoa Kỳ) cũng dẫn đến giảm thuế đáng kể đối với các mặt
hàng này: vải từ 40% xuống 12%, quần áo từ 50% xuống 20%, sợi từ 20% xuống 5%.

19
Bảng 2 dưới đây sẽ đề cập cụ thể về tình hình cam kết theo các Hiệp định tự do hoá
theo ngành của Việt Nam trong WTO.
Bảng 1-2: Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theo ngành
Hiệp định tự do hoá theo ngành Số dòng thuế T/s MFN (%)
T/s cam kết
cuối cùng

VIỆT NAM
2.1. Thực trạng chính sách thuế xuất khẩu hàng hóa
Trong xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới và khu vực, nước ta đã và đang
từng bước hòa mình để phát triển kinh tế và mơ rộng quan hệ đối ngoại.Việc buôn bán, trao
đổi hàng hóa giữa nước ta và các nước trong khu vực cũng như với các nước trên thế giới
ngày càng đa dạng phong phú. Để quản lý được các hoạt động mua bán với các nước, nhà
nước đã có nhiều biện pháp, trong đó thuế XNK là một trong những công cụ chủ yếu.

21
Thông qua việc ban hành và thực thi chính sách thuế XNK, chúng ta có thể nắm đủ tìnhhình
XNK hàng hóa, tạo điều kiện cho nhà nước có căn cứ đề ra chính sách ngoại thương đúng
đắn, cân đối cung, cầu hàng hóa XNKvà cân bằng cán cân thanh toán. Thuế XNK là một
trong những nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Luật thuế XNK của nước ta đã
được Quốc hội thông qua ngày 26.12.1991. Từ đó đến nay đã được sửa đổi, bổ sung cho
phù hợp, đáp ứng các yêu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế và thực tiễn trong
bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực.
Năm 2008 chứng kiến một tần suất hiếm thấy trong điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu
đối với nhiều mặt hàng. Những điều chỉnh này, một mặt được thực hiện theo các cam kết
thuế quan giữa các nước thành viên khối ASEAN và theo lộ trình gia nhập WTO; mặt khác
cũng là ứng xử của nhà quản lý trước những biến động bất thường trên thị trường thế giới
nhằm hỗ trợ cho sản xuất, bình ổn thị trường trong nước, cũng như hỗ trợ các ngành hàng
xuất khẩu. Thuế một loạt các mặt hàng nông sản, đồ gỗ, sắt thép, xăng dầu, gas, ôtô, giấy,
nguyên vật liệu cho sản xuất liên tục được điều chỉnh; điển hình như thuế xuất khẩu thép,
thuế nhập khẩu xăng dầu. Một điểm đáng chú ý là tần suất điều chỉnh chính sách thuế xuất
nhập khẩu tập trung từ tháng 9 về cuối năm, giảm phổ biến ở nhiều mặt hàng (riêng thuế
nhập xăng dầu liên tục tăng).
Mặc dù đã từng bước được cải cách và hoàn thiện vào những năm 1990-2000, nhưng
hiện nay chính sách thuế vẫn còn nhiều vướng mắc cần tiếp tục cải cách, sửa đổi cho phù
hợp với các nguyên tắc của WTO.
Một là: hệ thống chính sách thuế hiện nay vẫn còn phức tạp và thiếu tính ổn định:

mất nguồn vốn, lao động, công nghệ của những hoạt động sản xuất hàng hóa khác có hiệu
quả cao hơn.
Việc kết hợp các mục tiêu của chính sách xã hội trong các sắc thuế xét về khía cạnh
xã hội là tốt, tuy nhiên nó thực sự làm chính sách thuế trở nên phức tạp, tạo ra sự bất bình
đẳng trong kinh doanh, ảnh hưởng đến sự minh bạch của hệ thống thuế.
Bốn là:, còn thiếu sự kết hợp hài hòa giữa các sắc thuế trong hệ thống chính sách
thuế, giữa mục tiêu số thu cho ngân sách và mục tiêu kích thích sản xuất phát triển và điều
tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua từng sắc thuế. Trong điều kiện mở cửa hội nhập và tích cực
chuẩn bị để tham gia WTO, hệ thống chính sách thuế phải được sửa đổi cho phù hợp với
các nguyên tắc của tổ chức này, đồng thời phải đảm bảo được nguồn thu cho ngân sách nhà

23
nước, tăng cường sức cạnh tranh cho các DN trong nước, đồng thời phải có sự bảo hộ hợp
lý cho một số ngành then chốt trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
Xuất khẩu của Việt Nam thời gian từ năm 2001 - 2006 đã đạt được những thành tích
rất ấn tượng và được xác định là một thế mạnh của Việt Nam trên con đường hội nhập đầy
đủ và sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa
(XKHH) của Việt Nam khá chậm vào những năm 2001 - 2002, đã vươn lên đạt mức trên
20%/năm từ 2003 tới nay. Kết quả là kim ngạch XKHH đã tăng gấp 2,64 lần trong thời gian
5 năm, từ 15 tỉ USD năm 2001 lên 39,6 tỉ USD năm 2006.
2.1.1 Khái quát xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006
Cải cách cơ chế xuất khẩu của nước ta cũng có những thành tích nổi bật như cải cách
hệ thống quản lý nhập khẩu. Hệ thống lập kế hoạch xuất khẩu trực tiếp mang tính cứng nhắc
dần được thay thế bằng những hoạt động phi tập trung hoá và theo cơ chế thị trường. Xu
hướng thờ ơ và không coi trọng xuất khẩu của hệ thống thương mại trước cải cách dần dần
đã được huỷ bỏ vì chính phủ phi tập trung hoá hoạt động ngoại thương và đưa vào thực hiện
các chính sách tỷ giá hối đoái không đối xử phân biệt với hàng xuất khẩu.
Mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu: Thay đổi quan trọng nhất là mở rộng quyền
kinh doanh thương mại cho hoạt động xuất khẩu. Như trên đã đề cập, quyền kinh doanh
xuất nhập khẩu đã được nới lỏng, và ngay cả những mặt hàng thiết yếu Nhà nước cũng

trường vào cơ chế xác định tỷ giá.
 Thời kỳ thứ hai: 1992-1997 (trước khi nổ ra khủng hoảng tài chính tiền tệ),
tỷ giá được ấn định và điều chỉnh gần như cố định để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường
tài chính tiền tệ và thu hút đầu tư nước ngoài.
 Thời kỳ thứ ba: từ sau khủng hoảng đến nay, chính phủ đã có những điều
chỉnh có tính chủ động hơn để khắc phục khủng hoảng và tránh đồng Việt Nam bị định giá
quá cao.
Chính sách tỷ giá như trên đã có tác động tích cực đến ngoại thương, đặc biệt đối với
lĩnh vực xuất khẩu. Đồng tiền đã được định giá ngày càng sát với giá trị thực của nó. Tuy
nhiên, tỷ giá hối đoái như hiện nay vẫn cần phải có sự điều chỉnh hơn nữa, tiến tới tự do hoá
tỷ giá trong giai đoạn sớm nhất.
Hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu cho nông nghiệp: Hiệp định nông nghiệp của
WTO yêu cầu các nước phải giảm các hình thức trợ cấp bóp méo thương mại. Hiệp định
nông nghiệp của WTO đã chia trợ cấp thành 4 nhóm: trợ cấp hộp xanh lơ, trợ cấp hộp xanh
lá cây, trợ cấp hộp vàng và trợ cấp hộp đỏ. Trợ cấp thuộc diện hộp xanh lơ và xanh lá cây là
các biện pháp trợ cấp được phép mà không phải chịu sự điều chỉnh. Trợ cấp hộp vàng ảnh

25

Trích đoạn Quan điểm điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu Quá trình điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu Một số giải pháp điều chỉnh chung Lộ trình thực hiện.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status