Tài liệu ôn thi kế toán kiểm toán viên 3 - Pdf 12

Chuyªn ®Ò 9
ThuÕ vµ qu¶n lý thuÕ n©ng cao
1. Những vấn đề chung về thuế
1.1. Nguồn gốc của thuế
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một sự
cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước.
Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện quyền lợi cho giai cấp thống trị, thi
hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. Để có nguồn lực vật chất
bảo đảm cho sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước phải
dùng quyền lực chính trị vốn có để huy động một bộ phận của cải của xã hội. Việc huy
động tập trung nguồn của cải xã hội vào trong tay Nhà nước có thể thực hiện bằng nhiều
cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động dân đóng góp tự nguyện hoặc vay, trong đó,
biện pháp huy động, tập trung của cải có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội
được gọi là thuế.
Thuế luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, song quan niệm về
thuế và việc sử dụng công cụ thuế mỗi thời một khác. Trong chế độ phong kiến và giai
đoạn đầu của nhà nước tư sản thuế đóng vai trò huy động nguồn lực tài chính tối thiểu để
nuôi sống bộ máy Nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho quốc phòng, an ninh. Sau cuộc
khủng hoảng kinh tế những năm 1929 – 1933, vai trò của Nhà nước đã có sự thay đổi:
Nhà nước cần can thiệp vào hoạt động kinh tế bằng cách lập ra các chương trình đầu tư
lớn và thực hiện tái phân phối tổng sản phẩm xã hội thông qua công cụ ngân sách nhà
nước. Lúc này, thuế được Nhà nước sử dụng như là một công cụ để điều chỉnh nền kinh
tế. Cùng với việc mở rộng các chức năng của Nhà nước và sự phát triển các quan hệ hàng
hoá tiền tệ, các hình thức thuế ngày càng phong phú hơn, công tác quản lý thuế ngày càng
được hoàn thiện hơn và thuế đã trở thành một công cụ quan trọng, có hiệu quả của nhà
nước để tác động đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Bàn về mối liên hệ giữa thuế
và Nhà nước, Mác viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản
để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà
nước
1
”. Ang-ghen cũng đã viết: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có đóng góp

hội của Nhà nước”.
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau: Thuế là
hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm
hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để
đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: thuế là khoản đóng
góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật
định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại.
Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: thuế là biện pháp đặc biệt,
theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực
tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước.
Như vậy, đã có nhiều khái niệm khác nhau về thuế. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất
của thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú ý các đặc điểm sau:
- Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền: Về nguyên tắc, thuế là một khoản
trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng
hiện vật đã tồn tại trước đây. Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực
hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường.
- Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường
quyền lực: Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc,
được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước (qua hệ thống pháp luật thuế).
Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định
hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tượng
nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng
chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế. Đây
là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện.
- Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định: Thuế là khoản thu xác định của
các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương. Trái ngược với
vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp.

Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế phải thực hiện được 3 chức
năng cơ bản, đó là: chức năng bảo đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi
tiêu của Nhà nước; chức năng phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảo công bằng
xã hội và chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
1.3.1. Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN
Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền với tổng
số chi tiêu của của nhà nước vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu cho các khoản
chi ngân sách. Nhưng các khoản thu này cũng không phải là nguồn bù đắp duy nhất mà
bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn được bù đắp bằng nguồn vay hoặc phát hành tiền tệ.
Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm hụt ngân sách trên tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) của mỗi nước cho thấy mức độ huy động của Nhà nước để bù đắp cho các
khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trả nợ).
1.3.2. Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội
Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách công bằng; thuế
phải có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm bảo sự
công bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chất tương đối và tuỳ
thuộc vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không trong việc phân
chia quyền sở hữu diễn ra trên thị trường. Chính vì vậy, đánh thuế luỹ tiến, đối với một số
người, có thể được coi như đồng nghĩa với sự công bằng, với một số người khác, lại bị coi
là tuỳ tiện.
1.3.3. Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng
của thị trường
3
Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn
chế hoặc ổn định kinh tế. Thuế có thể được sử dụng để khắc phục những bất cân bằng của
thị trường, ví dụ, dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vi mô để quốc tế hoá những tác động
nội tại của nền kinh tế. Thuế cũng có thể góp phần thực hiện các cân bằng tổng thể trong
khuôn khổ chính sách ngân sách dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vĩ mô.
Cách tiếp cận kinh tế vi mô phù hợp với cách nhìn tự do về sự can thiệp của Nhà
nước mà với chức năng trợ cấp ngân sách, Nhà nước có thể xoá bỏ được những vật cản

nước thống nhất quản lý và việc phân bổ nguồn lực cho các địa phương, phân chia các
nguồn thu từ thuế trên địa bàn được thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.
Vì vậy, hiện hành ở nước ta không sử dụng cách phân loại này.
1.4.2. Phân loại theo tính chất kinh tế
Theo cách này, thuế có thể được phân loại dựa theo 3 tiêu thức chủ yếu: theo các
yếu tố kinh tế bị đánh thuế; theo tác nhân kinh tế chịu thuế hoặc theo lĩnh vực kinh tế bị
đánh thuế.
4
a) Nếu dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế, thuế được chia thành thuế đánh vào
thu nhập, thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập
được tích luỹ).
b) Nếu dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế, có các loại: thuế đánh vào
doanh nghiệp, thuế đánh vào hộ gia đình và thuế đánh vào sản phẩm.
c) Nếu dựa theo lĩnh vực, thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế,
thí dụ: thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào tiết kiệm, thuế đánh vào bất động sản...
1.4.3. Phân loại dựa theo tính chất kỹ thuật
Cách phân loại này được dựa vào các tiêu thức kỹ thuật trong việc đánh thuế,
mang tính cổ điển, được sử dụng nhiều nhất và thường là trung tâm của các cuộc tranh
luận. Theo cách này, thuế được phân thành các nhóm chủ yếu sau:
a) Thuế trực thu và thuế gián thu:
 Thuế trực thu do người chịu thuế trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước. Thuế trực
thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế, ví dụ như
thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân (hiện hành là thuế thu nhập
đối với người có thu nhập cao). Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu
nhập, tài sản của tổ chức và cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và
khả năng đóng góp của người nộp thuế nên nó rất có tác dụng trong việc điều
hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các
tầng lớp dân cư. Đây cũng là ưu điểm nổi bật của thuế trực thu so với thuế gián
thu. Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía
người nộp thuế hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế nếu quy định mức thuế

Theo cách phân loại này, thuế tỷ lệ là loại thuế áp dụng một thuế suất như nhau đối
với mọi đối tượng chịu thuế, còn thuế luỹ tiến là loại thuế áp dụng các thuế suất tăng dần
đối với các nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế. Thông thường,
đối với các sắc thuế tiêu dùng thường áp dụng thuế suất tỷ lệ; đối với các sắc thuế thu
nhập, thuế tài sản có thể áp dụng thuế suất luỹ tiến.
c) Thuế theo mức riêng biệt và thuế tính theo giá trị:
Theo cách này, được xếp vào loại thuế có mức riêng biệt (cũng có thể được dịch là
thuế đặc biệt, quen được gọi là thuế tuyệt đối) nếu trong đó, mức thuế suất được xác định
bằng mức tiền riêng biệt trên một đơn vị vật chất của đối tượng bị đánh thuế (trọng lượng,
khối lượng, diện tích...), độc lập với giá trị tiền tệ của chúng. Loại thuế này có lợi thế là
rất đơn giản, không cần phải xác định giá trị của đối tượng bị đánh thuế nhưng lại có bất
lợi là không thích ứng trong trường hợp tiền tệ bị mất giá. Ở một số nước, loại thuế này
thường được áp dụng dưới hình thức thuế rượu, thuế thuốc lá, thuế bia...
Ngược lại, thuế tính theo giá trị là loại thuế được tính toán bằng cách áp dụng một
tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) trên căn cứ tính thuế. Ưu điểm của loại thuế này là tính toán
đơn giản, tiện lợi và được áp dụng chủ yếu đối với các loại thuế tiêu dùng như thuế doanh
thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Riêng thuế theo mức riêng biệt ở nước ta ít
sử dụng.
Ngoài các cách phân loại trên đây, trong thực tế ở một số nước còn có những cách
phân loại khác, ví dụ như: thuế phân tích và thuế tổng hợp; thuế phân bổ và thuế định
suất...
1.5. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế
Mỗi sắc thuế được ban hành nhằm đáp ứng các mục tiêu riêng song nhìn chung,
mỗi sắc thuế đều được cấu thành bởi các yếu tố sau:
1.5.1. Tên gọi
Tên gọi của mỗi sắc thuế thể hiện đối tượng tác động của sắc thuế hoặc mục tiêu
của việc áp dụng sắc thuế đó. Ví dụ, thuế “giá trị gia tăng” cho ta thấy loại thuế này chỉ
đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ sau mỗi lần chúng được luân
chuyển; thuế “thu nhập doanh nghiệp” đánh trên thu nhập của doanh nghiệp; thuế “tiêu
thụ đặc biệt” đánh vào việc tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ đặc biệt được sản xuất hoặc

c) Thuế suất luỹ tiến:
Thuế suất tăng dần theo sự tăng lên của cơ sở tính thuế (thường là thu nhập chịu
thuế hoặc trị giá tài sản chịu thuế). Có hai loại thuế suất luỹ tiến: thuế suất luỹ tiến từng
phần và thuế suất luỹ tiến toàn phần.
 Thuế suất luỹ tiến từng phần: Biểu thuế gồm nhiều bậc, ứng với mỗi bậc là một
mức thuế suất tương ứng, theo đó, thuế suất tăng dần theo từng bậc thuế. Thuế
được tính từng phần theo bậc thuế và mức thuế suất tương ứng của từng bậc, số
thuế phải nộp là tổng số thuế tính cho từng bậc. Ví dụ, biểu thuế luỹ tiến từng
phần áp dụng đối với thu nhập thường xuyên quy định tại Pháp lệnh thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao. Thuế suất luỹ tiến từng phần có ưu điểm là
do thuế được đánh tăng dần theo mức tăng của thu nhập, tài sản, sát với khả
năng đóng góp của đối tượng nộp thuế nên đáp ứng được mục tiêu công bằng
xã hội theo chiều dọc, vì vậy, thường được sử dụng trong các sắc thuế thu nhập
và thuế tài sản. Tuy nhiên, loại thuế suất này có nhược điểm là kỹ thuật tính
toán thuế phức tạp.
 Thuế suất luỹ tiến toàn phần: Biểu thuế cũng gồm nhiều bậc, ứng với mỗi bậc
là một mức thuế suất và thuế suất cũng tăng dần theo sự tăng của cơ sở tính
thuế. Khác với thuế suất luỹ tiến từng phần, số thuế phải nộp được tính bằng
cách lấy toàn bộ cơ sở thuế áp dụng mức thuế suất tương ứng. Ưu điểm của loại
thuế suất này là việc tính toán xác định số thuế phải nộp đơn giản, nhanh chóng
hơn so với thuế suất luỹ tiến từng phần. Tuy nhiên, loại thuế suất này có nhược
7
điểm là gây ra sự thay đổi có tính đột biến về tổng số thuế phaỉ nộp của đối
tượng nộp thuế, dẫn đến tình trạng bất hợp lý về mức thu nhập còn lại sau thuế
giữa những người có mức cơ sở tính thuế ở hai bậc thuế liền kề, do đó không
đáp ứng được mục tiêu công bằng xã hội. Trong trường hợp này, giá trị cơ sở
thuế giữa hai bậc thuế liền kề có sự thay đổi không đáng kể nhưng đối tượng
nộp thuế có cơ sở thuế ở bậc cao hơn phải tính thuế theo mức thuế suất tương
ứng cao hơn cho toàn bộ cơ sở thuế nên đã dẫn đến số thuế phải nộp cao hơn
nhiều so với bậc thuế liền kề thấp hơn. Vì những lý do này, loại thuế suất này

đây được quy định trong các Luật thuế. Tuy nhiên, các quy định này đã được chuyển vào
nội dung quy định của Luật quản lý thuế (Luật số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006). Kể từ
ngày Luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành (01/7/2007) các nội dung về quản lý trong các
Luật thuế hiện hành bị bãi bỏ và được thực hiện thống nhất theo quy định của Luật quản
lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này.
1.6. Cơ sở pháp lý của thuế
8
Thuế là một trong những nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định rõ trong
Hiến pháp-đạo luật cơ bản (luật gốc) của nước ta. Điều 80 Hiến pháp năm 1992 của nước
ta đã quy định: "Công dân có nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của pháp luật". Việc quy
định nghĩa vụ đóng góp của dân là một vấn đề lớn của mỗi một quốc gia, cho nên phải do
cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là Quốc hội ban hành dưới hình thức Luật hoặc
Bộ luật. Điều 84 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: "Quốc hội có nhiệm vụ và quyền
hạn: làm Luật và sửa đổi Luật, quyết định chương trình xây dựng luật, Pháp lệnh thuế;
Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế".
Theo quy định hiện hành, trong một số trường hợp Quốc hội có thể uỷ quyền cho
cơ quan thường trực của mình là Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành một số loại thuế
dưới hình thức Pháp lệnh, để sau một thời gian thi hành sẽ hoàn chỉnh, trình Quốc hội ban
hành thành luật.
Căn cứ Luật, Bộ luật do Quốc hội hoặc Pháp lệnh do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
ban hành, Chính phủ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật dưới các hình thức Nghị
định quy định chi tiết thi hành Luật, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của
Thủ tướng Chính phủ để thực thi. Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật của Chính
phủ, Bộ Tài chính ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện. Trong quá trình thi hành
các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, Bộ trưởng Bộ Tài chính có thể ban hành các Chỉ
thị, Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
1.7. Quá trình đổi mới về thuế tại Việt Nam
1.7.1. Khái quát về hệ thống chính sách thuế Việt Nam
Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam được hình thành và phát triển trong thời kỳ
“đổi mới” (sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986). Trước đó nền kinh tế vận

(vi) Thuế sử dụng đất nông nghiệp,
(vii) Thuế nhà đất,
(viii) Thuế chuyển quyền sử dụng đất,
(ix) Thuế tài nguyên.
(x) Thuế môn bài.
Tiếp tục chương trình cải cách thuế bước II, một số dự án luật thuế đang được
nghiên cứu xây dựng để áp dụng trong thời gian tới, như: dự án Luật thuế sử dụng đất (dự
kiến thay thế Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp và Pháp lệnh thuế nhà đất hiện hành); dự
án Luật thuế tài sản, Luật thuế bảo vệ môi trường.
Kể từ 01/01/2009, Luật thuế GTGT, Luật thuế TNDN (mới được Quốc hội Khoá
XII thông qua tại kỳ họp thứ 3, tháng 5/2008), Luật thuế thu nhập cá nhân (được Quốc hội
Khoá XII thông qua tại kỳ họp tháng 11/2007) có hiệu lực, thay thế cho Luật thuế GTGT
hiện hành, Luật thuế TNDN hiện hành và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao hiện hành.
1.7.2. Khái quát về bộ máy quản lý thu thuế hiện hành ở Việt Nam
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế hiện hành bao gồm hệ thống thu nội địa (Thuế
Nhà nước) và hệ thống thu thuế XNK (Xem sơ đồ tổ chức) .
 Hệ thống Thuế Nhà nước:
Theo Nghị định số 281-HĐBT ngày 7/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ), hệ thống thuế Nhà nước được thành lập để thực hiện công tác thu và quản lý
các loại thuế và các khoản thu khác cho NSNN trong nội địa. Bộ máy quản lý thuế được
tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương; cơ quan thuế đặt tại địa
phương chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành thuế cấp trên và Chủ tịch UBND cùng cấp;
Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế là tổ chức trong hệ thống hành chính nhà nước có
tư cách pháp nhân công quyền, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc nhà
nước.
Ngày 28 tháng 10 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
218/2003/QĐ-TTg Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng
cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính. Theo đó, bộ máy quản lý thu thuế nội địa được đổi mới
tổ chức theo mô hình chức năng, chuyển sang thực hiện việc cung cấp thông tin và dịch vụ

với khoảng gần 4 tỷ dân số, chiếm 70% dân số thế giới với nguồn thu hàng năm khoảng 18 tỷ đô la Mỹ).
11
CHÍNH PHỦ
Bộ Tài Chính
Tổng cục Thuế
Cục thuế tỉnh, TP
trực thuộc TW
Chi cục thuế
quận, huyện
Trạm, đội thuế
xã, phường
Tổng cục hải
quan
Cục Hải quan
tỉnh, thành phố
trực thuộc TW
Cục, Vụ, Viện
UBND tỉnh, TP
trực thuộc TW
UBND quận,
huyện
Hải quancửa
khẩu
dịch vụ là người nộp thuế vào NSNN thay cho người tiêu dùng thông qua việc cộng thuế
vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hoá, dịch vụ.
Ở Việt Nam, thuế GTGT được ban hành thành Luật và được Quốc hội Khoá IX
thông qua tại kỳ họp thứ 11 (ngày 10/5/1997) và có hiệu lực thi hành kể từ 01/01/1999,
thay thế cho Luật thuế doanh thu. Trong quá trình thực thi, Luật thuế GTGT đã được sửa
đổi, bổ sung nhiều lần
6

Lần thứ nhất, Nghị quyết 90/NQ-UBTVQH10 ngày 3/9/1999; Lần thứ hai, Nghị quyết 240/NQ-UBTVQH10 ngày
27/10/2000; Lần thứ ba, Nghị quyết 50/2001/NQ-QH10 ngày 27/10/2000; Lần thứ tư, Nghị quyết 09/2002/NQ-
QH11 ngày 28/11/2002; Lần thứ năm, Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế GTGT năm 1997 ngày
3/5/2003-18/6/2003; Lần thứ sáu, Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế TTĐB và Luật GTGT; Luật
thuế GTGT năm 2008, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009 được thay thế cho các Luật thuế GTGT và các văn bản
hướng dẫn hiện hành (Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 đuợc Quốc hội Khoá XII thông qua ngày 3/6/3008).
12
Tổ chức kinh doanh bao gồm: doanh nghiệp dưới mọi loại hình thuộc các thành
phần kinh tế, các tổ chức kinh doanh của các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp,
các loại hình HTX,...;
Cá nhân kinh doanh bao gồm những người kinh doanh độc lập, hộ kinh doanh và
các cá nhân hợp tác với nhau để cùng SXKD nhưng không lập pháp nhân.
2.2.2. Đối tượng chịu thuế, đối tượng không thuộc diện chịu thuế
a) Đối tượng chịu thuế GTGT
Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho SXKD và tiêu dùng ở
Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các
đối tượng không chịu thuế nêu tại Mục b dưới đây.
b) Đối tượng không chịu thuế GTGT
Có 28 danh mục hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT (từ 01/01/2009 còn 25
danh mục), có thể được phân theo các nhóm chủ yếu sau:
 Nhóm hàng hoá, dịch vụ là sản phẩm của nông nghiệp, bao gồm:
- Sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng), chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế thông thường của các tổ
chức, cá nhân tự sản xuất, bán ra và ở khâu nhập khẩu;
- Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng giống, con giống,
cây giống, hạt giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền;
- Tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất
nông nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp;
- Sản phẩm muối bao gồm: muối sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối
tinh, muối i-ốt.

- Duy tu, sửa chữa, xây dựng bằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân, vốn viện trợ
nhân đạo đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, công trình phục vụ công cộng, cơ sở
hạ tầng và nhà ở cho đối tượng chính sách xã hội;
- Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện phục vụ nhu cầu đi lại
của nhân dân trong nội thành, nội thị, trong các khu công nghiệp hoặc giữa thành thị với
khu công nghiệp lân cận theo tuyến đường, điểm đỗ, thời gian chạy, giá vé cước do cấp có
thẩm quyền quy định.
 Không thuộc diện chịu thuế để phù hợp với thông lệ quốc tế:
- Dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư bao gồm hoạt động cho vay vốn, bảo lãnh cho vay,
chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá trị như tiền, bán tài sản đảm bảo tiền vay để thu
hồi nợ, cho thuê tài chính của các tổ chức tài chính tín dụng tại Việt Nam; các hoạt động
chuyển nhượng vốn theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh
nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp); hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao
gồm môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư
chứng khoán;
- Hàng hoá chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam; hàng tạm nhập khẩu, tái
xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu; nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia
công hàng hoá xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất, gia công xuất khẩu ký kết với bên nước
ngoài; hàng hoá, dịch vụ được mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan và giữa
các khu phi thuế quan với nhau.
 Không chịu thuế vì một số lý do khác:
- Chuyển quyền sử dụng đất;
- Chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ; chuyển
nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ; phần mềm máy tính,
trừ phần mềm xuất khẩu;
- Máy móc, thiết bị, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu
để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; máy móc,
thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư thuộc loại trong
nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát
triển mỏ dầu, khí đốt; tàu bay, dàn khoan, tàu thuỷ thuộc loại trong nước chưa sản xuất

định giá tính thuế GTGT như sau:
- Giá nhập khẩu (CIF) là: 4.000.000 đ
- Thuế nhập khẩu phải nộp là: 4.000.000 đ x 30% = 1.200.000 đ
- Giá tính thuế GTGT là: 4.000.000 đ + 1.200.000 đ = 5.200.000 đ
Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế
GTGT là giá hàng hoá nhập khẩu cộng với (+) thuế nhập khẩu xác định theo mức thuế
phải nộp sau khi đã được miễn, giảm.
(iii). Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho là
giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát
sinh các hoạt động này.
Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cơ sở kinh doanh xuất để tiêu dùng không
phục vụ cho SXKD hoặc dùng cho SXKD hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT thì
phải tính thuế GTGT đầu ra, giá tính thuế tính theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ cùng loại.
Đối với hàng hoá luân chuyển nội bộ như xuất hàng hoá để chuyển kho nội bộ,
xuất vật tư, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong một cơ sở sản xuất, kinh
15
doanh không phải tính, nộp thuế GTGT.
Ví dụ: Doanh nghiệp Bình Minh sản xuất quạt điện, trong tháng, bán 150 chiếc
với giá 400.000 đ/chiếc, chưa bao gồm thuế GTGT, Doanh nghiệp dùng 50 chiếc quạt để
trao đổi với cơ sở B lấy sắt thép. Trường hợp này, giá tính thuế đối với số quạt dùng để
trao đổi cũng sẽ là 400.000 đ/chiếc, chưa bao gồm thuế GTGT.
(iv). Đối với dịch vụ do phía nước ngoài cung ứng cho các đối tượng tiêu dùng ở
Việt Nam, giá tính thuế GTGT là giá dịch vụ phải thanh toán cho phía nước ngoài.
Ví dụ: Công ty Lam Sơn ở Việt Nam thuê một Công ty ở nước ngoài thiết kế xây
dựng, giá thanh toán theo hợp đồng phải trả Công ty ở nước ngoài là 100 triệu đồng thì
Công ty Lam Sơn phải tính và nộp thuế GTGT 10% trên giá 100 triệu đồng.
(v). Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT.
Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho một
thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê

16
Ví dụ: Công ty dệt X (gọi là bên A) thuê Công ty Xây dựng Y (gọi là bên B) thực
hiện xây dựng lắp đặt mở rộng xưởng sản xuất. Tổng giá trị công trình chưa có thuế
GTGT là 200 tỷ đ, trong đó:
- Giá trị xây lắp: 80 tỷ
- Giá trị thiết bị bên B cung cấp và lắp đặt (loại thuế suất 5%): 120 tỷ
- Thuế GTGT là: (80 tỷ + 120 tỷ) x 5% = 10 tỷ
- Tổng số tiền bên phải thanh toán là: 210 tỷ
Bên A: Nhận bàn giao nhà xưởng, hạch toán tăng giá trị TSCĐ để tính khấu hao
là 200 tỷ (giá trị không có thuế GTGT). Tiền thuế GTGT đã trả 10 tỷ được khấu trừ vào
thuế đầu ra của hàng hoá bán ra hoặc đề nghị hoàn thuế theo quy định.
Trường hợp bên A chấp nhận thanh toán cho bên B theo từng hạng mục công trình
(giả định phần xây nhà xưởng làm xong và thanh toán trước) thì khi bên A tính tiền trả
phần xây nhà 80 tỷ sẽ phải cộng thêm 5% thuế GTGT trả cho bên B; số tiền phải thanh
toán có thuế GTGT sẽ là 80 tỷ + 4 tỷ = 84 tỷ.
(ix). Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có
thuế giá trị gia tăng, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp ngân
sách nhà nước, cụ thể:
- Trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc trúng đấu giá
quyền sử dụng đất để đầu tư xây dựng nhà để bán, xây dựng cơ sở hạ tầng để chuyển
nhượng, giá tính thuế là giá bán nhà, giá chuyển nhượng cơ sở hạ tầng gắn với đất, chưa
bao gồm thuế giá trị gia tăng, trừ (-) tiền sử dụng đất hoặc tiền trúng đấu giá quyền sử
dụng đất phải nộp Ngân sách nhà nước.
Ví dụ: Công ty Đầu tư và phát triển nhà X được Nhà nước giao 10.000 m
2
đất để
xây dựng nhà bán, trong đó 3.000 m
2
đất sử dụng làm đường nội bộ trong khu quy hoạch
không phải nộp tiền sử dụng đất. Tiền sử dụng đất phải nộp Ngân sách Nhà nước theo giá

tầng một năm là:
(5.000 m
2
x 100.000 đ) - (5.000 m
2
x 30.000 đ) x 1 năm = 350.000.000 đ
- Trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đầu tư xây dựng nhà để
bán, xây dựng cơ sở hạ tầng để chuyển nhượng, giá tính thuế là giá bán nhà, giá chuyển
nhượng cơ sở hạ tầng gắn với đất, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, trừ (-) giá nhận
17
chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Trường hợp có quyền sử dụng đất không thuộc các trường hợp nêu trên đầu tư
xây dựng nhà để bán, xây dựng cơ sở hạ tầng để chuyển nhượng, giá tính thuế là giá bán
nhà, giá chuyển nhượng cơ sở hạ tầng gắn với đất, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, trừ
(-) giá chuyển quyền sử dụng đất tính theo giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định
làm căn cứ tính tiền sử dụng đất nộp Ngân sách nhà nước áp dụng tại thời điểm bán.
(x). Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hoá và dịch vụ hưởng hoa
hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế GTGT.
Đối với đại lý vận tải, đại lý giao nhận hàng hoá, giá tính thuế là toàn bộ doanh thu
bao gồm cả các khoản thu hộ khách hàng. Trường hợp doanh thu có cước vận tải quốc tế
và các khoản phí phát sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam thì doanh thu tính thuế được trừ tiền
cước vận tải quốc tế và phí phát sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam.
(xi). Đối với vận tải, bốc xếp, giá tính thuế là giá cước vận tải, bốc xếp chưa có
thuế GTGT, không phân biệt cơ sở trực tiếp vận tải, bốc xếp hay thuê lại.
Đối với hoạt động vận tải hàng không, tàu biển, đường sắt... có hoạt động vận tải
quốc tế thì doanh thu vận tải quốc tế (doanh thu thu được từ hoạt động vận tải ở nước
ngoài và từ Việt Nam đi nước ngoài) không chịu thuế GTGT.
(xii). Đối với hàng hoá, dịch vụ được sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã
có thuế GTGT (như tem, vé cước vận tải, vé xổ số kiến thiết,...) thì giá tính thuế được xác
định theo công thức sau:

doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân
trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời
điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế.
2.3.2. Thuế suất thuế GTGT
Luật thuế GTGT quy định 3 mức thuế suất: 0%, 5% và 10%, cụ thể như sau:
a) Mức thuế suất 0%
Thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả hàng hoá
gia công xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt các công trình ở nước ngoài và công trình
của doanh nghiệp chế xuất; hàng hoá bán cho cửa hàng miễn thuế; hàng hoá, dịch vụ
không thuộc diện chịu thuế GTGT xuất khẩu (trừ vận tải quốc tế; hàng hoá, dịch vụ cung
cấp trực tiếp cho vận tải quốc tế; dịch vụ du lịch lữ hành ra nước ngoài; dịch vụ bưu chính
viễn thông từ nước ngoài chuyển về Việt Nam; dịch vụ tín dụng, đầu tư tài chính, đầu tư
chứng khoán ra nước ngoài và các hàng hoá xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác
chưa qua chế biến).
b) Mức thuế suất 5%
Hiện hành gồm Danh mục 41 nhóm hàng hoá, dịch vụ
(Xem phụ lục ở phần cuối bài).
c. Mức thuế suất 10%
Áp dụng đối với các hàng hoá, dịch vụ còn lại không thuộc nhóm áp dụng thuế suất
0%, 5% nêu trên (Xem phụ lục ở phần cuối bài).
2.4. Phương pháp tính thuế GTGT
Luật thuế GTGT quy định 2 phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ thuế
(sau đây gọi là phương pháp khấu trừ) và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT (sau đây
gọi là phương pháp trực tiếp).
2.4.1. Phương pháp khấu trừ thuế
a) Đối tượng áp dụng: cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn,
chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế
theo phương pháp khấu trừ thuế.
Trường hợp cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hoạt
động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ thì hạch toán riêng hoạt động kinh

4.560.000 đồng (= 4.800.000 đ - 240.000 đ). Doanh nghiệp mua thép cũng không
được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hoá đơn mua không ghi thuế GTGT này.
- Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ: bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa
đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập khẩu và
đáp ứng đủ các điều kiện về khấu trừ thuế đầu vào theo quy định của Luật thuế GTGT.
c) Nguyên tắc xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ (chỉ áp dụng cho các
đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ):
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ; Đối với hàng hoá, dịch vụ mua
về dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT, thuế GTGT
đầu vào không được khấu trừ mà phải hạch toán vào chi phí hoặc nguyên giá tài sản cố
định.
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá (trừ tài sản cố định), dịch vụ sử dụng đồng
thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được
khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.
Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng
cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT.
Ví dụ: Doanh nghiệp A sử dụng điện trong tháng là 5.000 KWh, trong đó dùng cho
sản xuất xi măng là 4.000 KWh, dùng cho khu tập thể CBCNVC là 1.000 KWh (cơ sở
hạch toán riêng được số điện dùng cho cán bộ CNV). giá bán điện là 700 đ/KW. Trường
hợp này, cơ sở chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của điện dùng cho sản xuất xi
măng là:
4.000 KWh x 700 đ/KWh x 10% = 280.000 đồng
Trường hợp cơ sở không hạch toán riêng được hàng hoá dịch vụ dùng cho hoạt
động chịu thuế và không chịu thuế, thuế đầu vào được tính khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh
số của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hóa, dịch vụ bán
ra trong tháng. Riêng trường hợp tài sản cố định dùng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ toàn bộ.

chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ;
- Hoạt động mua bán vàng, bạc, đá quý.
b) Cách xác định thuế GTGT phải nộp:
Số thuế
GTGT
phải nộp
=
Giá trị gia tăng
của hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế
x
Thuế suất GTGT
(%) của hàng hóa,
dịch vụ đó
Gía trị gia tăng
của hàng hóa,
dịch vụ
=
Giá thanh toán
của hàng hóa,
dịch vụ bán ra
-
Giá thanh toán của
hàng hóa, dịch vụ
mua vào tương ứng
Giá trị gia tăng xác định đối với một số ngành nghề kinh doanh như sau:
- Đối với hoạt động SXKD bán hàng là số chênh lệch giữa doanh số bán với doanh
số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho SXKD. Trường hợp không hạch toán được
doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng với doanh số hàng bán ra thì xác
định như sau:

Doanh số hàng hóa, dịch vụ mua vào quy định trên đây bao gồm cả các khoản thuế
và phí đã trả tính trong giá thanh toán hàng hóa, dịch vụ mua vào.
- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
không được tính giá trị tài sản mua ngoài, đầu tư, xây dựng làm tài sản cố định vào doanh
số hàng hoá, dịch vụ mua vào để tính giá trị gia tăng.
c) Phương pháp xác định GTGT đối với từng cơ sở kinh doanh như sau:
- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ có
hoá đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán thì GTGT được xác định căn cứ vào giá mua,
giá bán ghi trên chứng từ.
- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ bán hàng hóa,
dịch vụ, xác định được đúng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ theo hoá đơn bán hàng hoá,
dịch vụ nhưng không thể hạch toán được giá mua hàng hóa, dịch vụ thì GTGT được xác
định bằng doanh thu nhân (x) với tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu.
- Đối với cá nhân (hộ) kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hoá
đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của từng
22
hộ ấn định mức doanh thu tính thuế; GTGT được xác định bằng doanh thu ấn định nhân
với tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu.
Tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu do Tổng cục thuế hướng dẫn phù hợp với từng
ngành nghề kinh doanh và hợp lý giữa các địa phương.
2.5. Quy định về hóa đơn chứng từ mua bán hàng hóa, dịch vụ
Cơ sở kinh doanh khi mua, bán hàng hóa, dịch vụ phải thực hiện chế độ hóa đơn,
chứng từ theo quy định của Pháp luật.
1. Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ khi bán hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế GTGT phải sử dụng hoá đơn GTGT, trừ trường hợp được dùng hoá đơn,
chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT.
Khi lập hoá đơn GTGT, phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định trên hoá đơn: giá
bán chưa có thuế, phụ thu và phí tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT, tổng giá thanh toán
đã có thuế; trường hợp hoá đơn không ghi tách riêng giá bán chưa có thuế và thuế GTGT, chỉ
ghi chung giá thanh toán thì thuế GTGT đầu ra phải tính trên giá thanh toán.

Thuế phải
nộp
Luỹ kế số thuế
đầu vào chưa
khấu trừ
Tháng 12/2007 200 100 - 100 - 100
23
Tháng 1/2008 300 350 +50 - 50
Tháng 2/2008 300 200 - 100 - 150
Theo ví dụ trên, doanh nghiệp A trong 3 tháng liên tục có số thuế GTGT đầu vào
chưa được khấu trừ hết nên Doanh nghiệp A thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT, số
tiền thuế được hoàn là 150 triệu đồng.
(ii). Trường hợp cơ sở đã đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có
dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ
mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ hết và có số thuế còn lại từ hai trăm
triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.
(iii). Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá xuất khẩu nếu có số thuế GTGT
đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng,
hoặc chuyến hàng (nếu xác định được thuế GTGT đầu vào riêng của chuyến hàng).
(iv). Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể,
phá sản có thuế GTGT nộp thừa, cơ sở có quyền đề nghị cơ quan thuế hoàn lại số thuế
GTGT nộp thừa.
(v). Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật.
(vi). Hoàn thuế GTGT đã trả đối với các dự án sử dụng vốn ODA như sau:
- Chủ dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại mua hàng hoá, dịch vụ từ các nhà
cung cấp trong nước có thuế GTGT để sử dụng cho các dự án này;
- Nhà thầu chính thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ sử
dụng vốn ODA không hoàn lại cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cho các dự án sử dụng vốn
ODA không hoàn lại không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng được tính khấu trừ hoặc

Luật thuế GTGT khi ban hành có các nội dung quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ
của cơ sở kinh doanh, của cơ quan quản lý thuế và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Các
thủ về đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, các loại hồ sơ, mẫu biểu
khai thuế cũng được quy định chi tiết và hướng dẫn tại các văn bản dưới luật.
Kể từ ngày 01/07/2007, Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 có
hiệu lực thi hành, các nội dung nêu trên được thực hiện theo quy định tại các văn bản pháp
luật hướng dẫn thực hiện Luật quản lý thuế:
- Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật quản lý thuế;
- Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 của Chính phủ về xử lý vi phạm
hành chính và cưỡng chế quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế;
- Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-
CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản
lý thuế;
- Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thự
hiện xử lý vi phạm pháp luật về thuế.
PHỤ LỤC: THUẾ SUẤT THUẾ GTGT (hiệu lực đến 31/12/2008)
1. Thuế suất 0%
Áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả hàng hoá gia công xuất
khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt các công trình ở nước ngoài và công trình của doanh
nghiệp chế xuất; hàng hoá bán cho cửa hàng miễn thuế; hàng hoá, dịch vụ không thuộc
diện chịu thuế GTGT xuất khẩu (trừ vận tải quốc tế; hàng hoá, dịch vụ cung cấp trực tiếp
cho vận tải quốc tế; dịch vụ du lịch lữ hành ra nước ngoài; dịch vụ bưu chính viễn thông
từ nước ngoài chuyển về Việt Nam; dịch vụ tín dụng, đầu tư tài chính, đầu tư chứng khoán
ra nước ngoài và các hàng hoá xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế
biến).
1.1- Hàng hóa xuất khẩu bao gồm xuất khẩu ra nước ngoài kể cả uỷ thác xuất khẩu,
bán cho doanh nghiệp chế xuất và các trường hợp được coi là xuất khẩu theo quy định của
Chính phủ như:


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status