1
Đề tài: “Vận dụng bảng hỏi trong phương
pháp định giá ngẫu nhiên – CVM” 2
I. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài:
Ngày nay, khi mà mục tiêu của các quốc gia không chỉ dừng lại ở tăng
trưởng kinh tế mà hướng tới phát triển bền vững thì vấn đề bảo vệ môi
trường được đặt lên ngang hàng với tăng trưởng. Dù ở tầm vĩ mô như chiến
lược, chính sách phát triển kinh tế hay ở tầm vi mô như dự án đầu tư, dự án
kinh doanh thì việc cân nhắc và đánh giá ảnh hưởng, tác động của nó đến
môi trường đều là cần thiết và vô cùng quan trọng. Những dự án chỉ hướng
tới lợi ích kinh tế mà bỏ qua các tác động môi trường không đem lại sự phát
triển bền vững và lâu dài cho địa phương và quốc gia. Chính vì vậy, hiện
nay, tại nhiều quốc gia trên thế giới đã có quy định bắt buộc về việc cung
cấp tài liệu về đánh giá tác động môi trường của dự án kèm theo hồ sơ về dự
án. Nhu cầu đánh giá tác động môi trường do đó cũng trở nên cần thiết hơn.
Tác động môi trường thường rất phức tạp trong việc đánh giá. Vì tùy theo
hỏi trong nghiên cứu CVM
- Chỉ ra những ưu điểm và những tồn tại khi sử dụng bảng hỏi trong
CVM và một vài gợi ý để khắc phục.
II. Vận dụng bảng hỏi trong phương pháp định giá ngẫu nhiên – CVM:
1. Phương pháp CVM:
1.1 Khái niệm CVM:
Việc đánh giá giá trị môi trường thường rất khó khăn và phức tạp. Điều
này xuất phát từ đặc điểm mà các giá trị môi trường đem lại. Ngoài giá trị sử
dụng của môi trường có thể dễ dàng tiến hành đo đạc, lượng hóa và đánh giá
(như trữ lượng gỗ, trữ lượng cá,…) thì các giá trị khác mà môi trường đem
lại thường rất khó đo lường, lượng hóa và đánh giá. Ví dụ như giá trị cảnh
quan, lợi ích sinh thái, chất lượng môi trường nước, môi trường không
khí,… Bên cạnh đó, một đặc điểm khác của những giá trị này khiến cho việc
định giá càng khó khăn hơn. Đó là bản thân những lợi ích này không phải là
hàng hóa, dịch vụ được trao đổi, mua bán trên thị trường như các loại hàng
hóa, dịch vụ thông thường khác. Việc không tồn tại thị trường, cung hay cầu
của lợi ích môi trường khiến cho việc định giá hoàn toàn mang tính chủ
quan chứ không phải do cơ chế thị trường, cung, cầu điều chỉnh và xác định.
Vì vậy, nếu như với giá trị sử dụng của môi trường có thể dùng phương
pháp quan sát đơn giản hành vi người tiêu dùng trên thị trường để xác định
giá của giá trị sử dụng thì với những giá trị phi sử dụng khác cần phải tiếp
cận bằng nhiều phương pháp phức tạp hơn như: suy luận từ hành vi của con
người trên thị trường liên quan đến môi trường, quan sát những thay đổi môi
4
trường và ước tính sự chênh lệch giá trị của tài sản môi trường do những
thay đổi này gây ra,… Trong các phương pháp trên, CVM là phương pháp
được nhiều nhà nghiên cứu ưa thích sử dụng. Phương pháp CVM được định
nghĩa như sau:
“Phương pháp định giá ngẫu nhiên – CVM là phương pháp xác định giá
- Phân tích và tổng hợp kết quả (phân tích kinh tế lượng, phân tích lợi ích
chi phí).
4 bước này liên quan đến một loạt các lý thuyết về kinh tế học môi trường,
kinh tế lượng và thiết kế điều tra. Trên thực tế, CVM thường được tiến hành
bởi những nhà nghiên cứu môi trường nên kĩ thuật về thiết kế bảng hỏi, thiết
kế điều tra không được họ nghiên cứu nhiều. Trong khi đó, việc thiết kế bảng
hỏi lại đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc mang lại thông tin đầy đủ
và chính xác để định giá giá trị môi trường hợp lí. Chinh vì thế, bước thứ 3
cần phải được chú trọng xem xét trong quá trình tiến hành CVM.
1.3 Ưu điểm của phương pháp CVM:
Ưu điểm lớn nhất của CVM là có phạm vi ứng dụng rộng và linh họat. Do
phương pháp CVM dựa trên giá sẵn lòng chi trả cho các giá trị môi trường
của các cá nhân nên nó có thể áp dụng để định giá nhiều loại hàng hóa môi
trường khác nhau cũng như những giá trị khác nhau của môi trường. Ví dụ
như giá trị tồn tại của môi trường – được coi là một trong những yếu tố khó
lượng hóa nhất như lợi ích sinh thái, chất lượng môi trường nước,… Những
giá trị đôi khi được đánh giá rất cao nhưng thực tế lại không đòi hỏi người
tham gia phỏng vấn phải trực tiếp hưởng thụ giá trị này. Do đó, việc điều tra
được tiến hành dễ dàng và thuận tiện hơn, cũng như ít tốn kém hơn. Ví dụ
như khi nghiên cứu giá trị môi trường của Nam Cực. Trên thực tế, giá trị môi
trường của Nam Cực thường được trả rất cao nhưng rất ít người thực sự đến
tham quan địa điểm này. Nếu sử dụng các phương pháp khác như TCM
(phương pháp chi phí du lịch) đòi hỏi người được phỏng vấn phải là người đã
đến Nam Cực và thực sự chi trả cho các chi phí du lịch ở đây thì chi phí tiến
hành điều tra sẽ rất tốn kém. Nhưng nếu sử dụng phương pháp CVM, người
nghiên cứu chỉ cần đưa ra các giả định và nhận được thông tin về giá sẵn sàng
chi trả của người được phỏng vấn cho việc bảo vệ các giá trị của Nam Cực
trong khi thực tế họ không cần phải đến tận Nam Cực.
Một ưu điểm khác nữa của CVM là nó không đòi hỏi một số lượng lớn
thông tin như những phương pháp đánh giá môi trường khác.
đến vấn đề nghiên cứu. Từ đó có thể xem xét những yếu tố như môi trường
sống, trình độ học vấn, mức thu nhập,… có ảnh hưởng như thế nào tới các câu
trả lời của họ.
- Phần mô tả những đặc điểm môi trường có liên quan. Từ đó, đối tượng
điều tra có hình dung về những giá trị môi trường mà họ đánh giá, từ đó đưa
ra mức giá sẵn sàng chi trả phù hợp.
- Phần câu hỏi được thiết kế để thu thập thông tin, phản hồi về giá sẵn
lòng trả của đối tượng điều tra.
7
Thông qua bảng hỏi, người nghiên cứu phải nhận được đánh giá của đối
tượng điều tra về đặc điểm môi trường đang nghiên cứu có giá trị như thế nào
đối với họ. Điều này được thể hiện qua giá mà đối tượng điều tra sẵn lòng trả
tối đa để được tiếp tục sử dụng tài sản môi trường này so với việc mà họ
không được sử dụng nữa. Con số mà đối tượng điều tra đưa ra chính là giá trị
lợi ích ròng của hàng hóa, dịch vụ môi trường đang cần đánh giá. Đây chính
là cách thức để lượng hóa được giá trị tài sản môi trường – yếu tố vốn không
có giá trị thị trường và không được trao đổi, mua bán. Có rất nhiều cách để
thu được những phản hồi này. Trên bảng hỏi, các mức giá có thể được đưa ra
trước và đề nghị đối tượng điều tra đánh dấu vào con số mà họ cho là thích
hợp và sẵn sàng trả cao nhất hoặc để họ hoàn toàn tự trả giá.
2.2 Các loại câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu CVM:
Cũng như các cuộc điều tra khác, các loại câu hỏi được sử dụng trong
nghiên cứu CVM cũng phân chia theo nhiều tiêu thức. Tùy thuộc vào mục
đích nghiên cứu, đặc điểm thông tin mà người nghiên cứu muốn thu thập mà
có thể sử dụng các loại câu hỏi cho phù hợp. Mỗi loại câu hỏi đều có tác dụng,
ưu điểm riêng, nên để đạt hiệu quả cao nhất khi thu thập thông tin, người
nghiên cứu nên sử dụng kết hợp linh hoạt, xen kẽ các loại câu hỏi trong bảng
hỏi, thậm chí cho cùng một thông tin cần thu thập. Bằng việc sử dụng kết hợp
các câu hỏi như vậy, người nghiên cứu có thể thu nhận được những thông tin
phần đầu của bảng hỏi để thu thập thông tin về đối tượng điều tra như tên,
tuổi, nghề nghiệp, nơi ở, thu nhập,… Ngoài ra cũng có tác dụng dẫn dắt đối
tượng vào vấn đề được hỏi bằng cách hỏi đối tượng điều tra về các sự kiện có
liên quan tới vấn đề môi trường nghiên cứu.
Ví dụ như hỏi đối tượng về việc sử dụng các hàng hóa dịch vụ môi trường
trước đây hoặc việc thay đổi về hiện trạng của hàng hóa dịch vụ môi trường
đang/đã xảy ra, cách thức người được hỏi đối xử với hàng hóa môi trường,…
Câu hỏi về tri thức:
Sau khi thu được thông tin về sự kiện, người nghiên cứu có thể muốn tìm
hiểu rõ hơn về nhận thức của người được hỏi về vấn đề này. Câu hỏi tri thức
nhằm giúp người nghiên cứu thu được thông tin về mức độ hiểu biết, trình độ
nhận thức của người được hỏi về vấn đề. Điều này là vô cùng cần thiết, đặc
biệt là trong nghiên cứu CVM. Do đặc điểm của hàng hóa môi trường là việc
phân định giữa ảnh hưởng tích cực và tiêu cực chỉ mang tính tương đối nên
trình độ nhận thức của người được hỏi có ảnh hưởng rất quan trọng tới giá mà
họ sẵn sàng chi trả cho hàng hóa môi trường này. Với những đối tượng điều
tra có nhận thức cao về vấn đề môi trường, họ thường có nhận định, đánh giá
chính xác hơn về giá trị của hàng hóa môi trường đang nghiên cứu. Ví dụ như
9
một người có nhận thức về vấn đề cân bằng sinh thái sẽ đánh giá cao việc bảo
vệ loài sếu đầu đỏ đang bị tuyệt chủng hơn là một người không có hiều biết
về vấn đề này.
Khi sử dụng câu hỏi tri thức nên hạn chế việc dùng câu hỏi lưỡng cực:
Có/Không, Đã biết/Chưa biết,… Do người được hỏi có thể bị ngộ nhận, ngại
ngùng về mục đích sử dụng câu hỏi là để đánh giá nhận thức của họ nên họ có
xu hướng chọn câu trả lời “Có” hoặc “Đã biết”,… làm sai lệch thông tin thu
thập. Trong trường hợp này, nên sử dụng các câu hỏi phụ để kiểm tra thêm về
mức độ hiểu biết thực sự của đối tượng về vấn đề đó như thế nào.
Câu hỏi về quan điểm, thái độ, động cơ:
hợp linh hoạt 3 loại câu hỏi này do bản thân tính phức tạp của vấn đề môi
trường và không phải lúc nào người được hỏi cũng đã biết và nhận thức về
môi trường. Cần sử dụng câu hỏi sự kiện và câu hỏi tri thức để dẫn dắt, giúp
người được hỏi có những ý niệm chung về vấn đề môi trường rồi từ đó mới
tìm hiểu về đánh giá của họ về vấn đề này.
2.2.2 Câu hỏi theo chức năng:
Việc phân loại câu hỏi theo chức năng xuất phát từ yêu cầu về kĩ thuật
điều tra. Khi thực hiện phỏng vấn, truyền tải thông tin, đặc biệt là khi phỏng
vấn về những vấn đề nhạy cảm (trong CVM như đánh giá tác động chính sách
môi trường, thái độ của người được hỏi về chính sách của cơ quan quản lí môi
trường), độ chính xác của thông tin thấp thì việc sử dụng loại câu hỏi này rất
quan trọng. Có thể phân biệt 3 loại câu hỏi chức năng: câu hỏi tâm lí, câu học
lọc và câu hỏi kiểm tra.
Câu hỏi tâm lí:
Đây là thường là câu hỏi tiếp xúc ban đầu với người được hỏi, dùng để bắt
đầu bảng hỏi. Chức năng chủ yếu của câu hỏi này là để gạt bỏ nghi ngờ có thể
nảy sinh của người được hỏi, hoặc để chuyển tiếp giữa các chủ đề.
- Để tiếp xúc, làm quen, các câu hỏi tâm lí được sử dụng thường là
những câu hỏi đơn giản, dễ trả lời và mục đích không nhất thiết để thu thập
thông tin. Chức năng chủ yếu của câu hỏi tâm lí chỉ là để làm quen, tạo sự
thân thiện, thoải mái và lôi cuốn người được hỏi vào vấn đề nghiên cứu. Đối
với nhiều người, vấn đề môi trường thường không phải là vấn đề được họ
quan tâm. Bằng việc sử dụng câu hỏi tâm lí, người nghiên cứu có thể thu hút
sự chú ý của người được hỏi để họ hợp tác nhiệt tình hơn, đưa lại thông tin cụ
thể, chính xác hơn.
- Để giảm bớt sự căng thẳng, đặc biệt là khi nội dung bảng hỏi có liên
quan đến vấn đề chỉ đạo, chính sách,… nhạy cảm thì người nghiên cứu có thể
11
đan cài những câu hỏi tâm lí về cuộc sống hàng ngày, những vấn đề đơn giản.
chính xác, không logic và không có giá trị. Bằng việc sử dụng đơn giản câu
hỏi lọc, người nghiên cứu có thể phân chia người được hỏi thành các nhóm
12
khác nhau, đưa ra những câu hỏi riêng cho mỗi nhóm và thu được thông tin
có giá trị từ mỗi nhóm này.
Đặc biệt, câu hỏi lọc có ý nghĩa rất lớn trong việc tổng hợp thông tin sau
điều tra. Người nghiên cứu có thể dễ dàng chỉ ra những câu trả lời không
chính xác, không logic của người được hỏi bằng câu hỏi lọc. Trong thiết kế
bảng hỏi, câu hỏi lọc thường được sử dụng kèm theo kĩ thuật “bước nhảy” để
phân loại người được hỏi thành các nhóm và đưa họ đến thẳng tới nhóm câu
hỏi phù hợp cho mỗi nhóm. Như vậy họ không cần đi theo trình tự thông
thường từ trên xuống dưới của bảng hỏi hay phải trả lời các câu hỏi vô nghĩa.
Đối với nghiên cứu CVM nói riêng, bằng câu hỏi lọc, người nghiên cứu có
thể hạn chế sai lầm khi định giá hàng hóa môi trường khi người được hỏi có
thể trả giá rất cao cho hàng hóa đó trong khi thực tế họ hoàn toàn không quan
tâm đến vấn đề môi trường đang nghiên cứu.
Câu hỏi kiểm tra:
Câu hỏi kiểm tra được sử dụng để kiểm tra độ chính xác của các thông tin
đã thu thập được hoặc của các câu trả lời của các câu hỏi thường hay bị trả lời
sai, độ chính xác thấp. Câu hỏi kiểm tra có thể chỉ để xác định mức tin cậy
của từng câu hỏi hoặc của từng nội dung hay của toàn bộ bảng hỏi. Câu hỏi
kiểm tra còn có thể giúp người nghiên cứu tìm ra câu trả lời chính xác. Có
nhiều cách để xây dựng câu hỏi kiểm tra. Có thể nêu ra câu hỏi, sau đó đưa ra
các phương án trả lời mà có cả phương án đúng và sai hoặc gài một câu trả lời
chắc chắn đúng (hoặc chắc chắn sai) để thử. Đối với các câu hỏi nội dung, có
thể sử dụng cách dùng hai câu hỏi về cùng một vấn đề nhưng diễn đạt dưới
hình thức, sắc thái khác nhau. Cũng có thể đưa ra một tình tiết, một vấn đề hư
cấu nhưng về hình thức lại gần với thực tế để kiểm tra tính xác thực của các
thông tin từ các câu hỏi trước đó,… Ngoài ra còn một cách phổ biến khác là
của câu trả lời có tính chất loại trừ nhau. Người được phỏng vấn chỉ có thể
chọn một đáp án cho câu trả lời của mình. Việc lựa chọn từ 2 đáp án trở lên
làm cho câu trả lời vô nghĩa, không hợp logic. Đối với loại câu hỏi này, có thể
có câu hỏi lưỡng cực hoặc câu hỏi cường độ. Câu hỏi lưỡng cực chỉ gồm 2
đáp án trái ngược nhau: Có/Không, Đúng/Sai,… và thường chịu ảnh hưởng
của tâm lí ưa thích “tích cực” của người được hỏi.
Ví dụ: Với câu hỏi “Bạn có phản đối việc cải tạo công viên Thống Nhất
không?” Thì câu trả lời có xu hướng chọn đáp án tích cực là Có. Trong khi đó,
nếu diễn đạt câu hỏi khác đi mà giữ nguyên nội dung câu hỏi: “Bạn có ủng hộ
việc hiện đại hóa công viên Thống Nhất không?” thì câu trả lời vẫn có thể là
“Có” do tâm lí ưa thích “tính tích cực” của người được hỏi.
14
Ngoài ra, khi sử dụng câu hỏi lưỡng cực cần chú ý tới việc sắp xếp thứ tự
câu hỏi. Việc sắp xếp một loạt các câu hỏi lưỡng cực đứng liền nhau rất dễ
gây ra “xu hướng đồng tình” của đối tượng điều tra. Đây là xu hướng khi
người được hỏi chọn một nhóm câu trả lời nhấ định mà không quan tâm thực
sự tới nội dung câu hỏi. Ví dụ, trong một loạt các câu hỏi “Đồng ý/Không
đồng ý”, “Có/Không”,… người được hỏi thường có xu hướng chọn một đáp
án chung cho tất cả các câu hỏi cho dù nội dung câu hỏi có thể hoàn toàn trái
ngược nhau. Việc thiết kế câu hỏi như vậy gây ra tâm lí nhàm chán cho người
được hỏi khiến họ trả lời một cách máy móc cho tất cả các câu hỏi lưỡng cực.
Ngoài ra, loại câu hỏi đóng lựa chọn còn có câu hỏi cường độ gồm nhiều
mức độ (thang đánh giá) lựa chọn được phân chia theo thứ bậc từ thấp tới cao
(hoặc ngược lại). Vấn đề chủ yếu của loại câu hỏi này là việc nên đưa ra bao
nhiêu hạng mục là phù hợp. Trên thực tế không có một quy định nào về số
lượng hạng mục nên sử dụng trong phần trả lời nhưng nói chung, việc sử
dụng quá ít hạng mục sẽ làm cho tính phân loại của câu trả lời thấp trong khi
sử dụng quá nhiều hạng mục lại làm mức độ khác biệt giữa các đáp án giảm
xuống, việc xử lí thông tin kém ý nghĩa. Thông thường, số hạng mục nên sử
cùng một nghĩa. Đối với người xử lí thông tin, câu hỏi đóng rất thuận tiện cho
việc mã hóa, tổng hợp thông tin.
Tuy nhiên, câu hỏi đóng vẫn có nhiều nhược điểm. Ngoài các xu hướng đã
phân tích ở trên có thể gây ra thông tin sai lệch, việc thiết kế câu hỏi đóng
cũng cần chú ý để tránh gặp phải các nhược điểm sau:
- Các phương án đưa ra chưa đầy đủ khiến người trả lời không chọn
được phương án phù hợp. Người thiết kế vì thế phải lường trước cá phương
án trả lời có thể có, bao quát được các khả năng đáp án có thể xảy ra.
- Các phương án không có mức độ đồng nhất tương đương (theo một
cách phân chia nào đó) làm người được hỏi có xu hướng chọn những đáp án
mà người thiết kế ưa thích, chú trọng hơn. Vì vậy các đáp án cần đảm bảo
đồng nhất với nhau và phải sắp xếp rõ ràng, phù hợp.
Câu hỏi mở:
Câu hỏi mở là loại câu hỏi không có sẵn các phương án trả lời mà hoàn
toàn do người được hỏi nghĩ ra và diễn đạt. Câu hỏi mở cho phép người trả lời
tự do tư duy, trình bày ý kiến quan điểm của mình về vấn đề được hỏi, không
bị gò ép vào những đáp án có sẵn như câu hỏi đóng. Cũng chính vì vậy mà
câu hỏi mở gặp phải một số nhược điểm sau đây:
- Người được hỏi rất dễ hiểu sai, hiểu nhầm, hiểu không chính xác ý của
câu hỏi, dẫn đến không thống nhất trong cách trả lời. Ví dụ: với câu hỏi “Bạn
đánh giá không khí nơi bạn đang sống như thế nào?” Có thể thu được câu trả
16
lời là: “Ô nhiễm”, “Khô, hanh”, “Ồn ào”,… Vì vậy, việc thiết kế câu hỏi đòi
hỏi sự rõ ràng, chính xác cả về từ ngữ, cách hiểu càng cao, càng khó khăn và
phức tạp.
- Việc tổng hợp, xử lí thông tin đòi hỏi nhiều thời gian và công sức hơn
do phải phân loại các nhóm câu trả lời có thể có.
Chính vì vậy mà câu hỏi mở chủ yếu sử dụng khi thu thập ý kiến, quan
điểm hoặc thăm dò ý kiến, tìm hiểu những vấn đề mới nảy sinh, tạo bước mở
đóng và câu hỏi hỗn hợp có ứng dụng lớn và linh hoạt trong nghiên cứu CVM.
2.3 Yêu cầu về bảng hỏi trong nghiên cứu cvm:
Qua những phân tích ở trên ta có thể nhận thấy việc thiết kế một bảng hỏi
là rất khó khăn. Cho dù người nghiên cứu có nhiều kinh nghiệm và cẩn trọng
trong việc thiết kế bảng hỏi đến đâu thì vẫn có thể phát sinh những vấn đề khi
sử dụng bảng hỏi trong điều tra hoặc xử lí thông tin sau điều tra. Đối với
nghiên cứu cvm, thiết kế bảng hỏi càng khó khăn và phức tạp. Vấn đề môi
trường chưa phải là vấn đề được nhiều người quan tâm và việc định giá dựa
trên giả định là tương đối phức tạp và khó hiểu với nhiều người. Vì vậy, bảng
hỏi phải được thiết kế để có thể thu hút được sự quan tâm của người được hỏi
và thu được thông tin chính xác.
Về hình thức:
Bảng hỏi cần đáp ứng yêu cầu về mặt thẩm mĩ, có sức hấp dẫn nhất định
với người được phỏng vấn, dễ đọc và dễ ghi câu trả lời.
- Đánh số: các câu hỏi nên được đánh số thứ tự một cách đầy đủ, không
bị bỏ sót, nhầm lẫn hay lặp lại. Trong trường hợp bảng hỏi gồm nhiều nội
dung lớn độc lập thì nên tách ra thành nhiều phần và đánh số chương để người
được hỏi dễ theo dõi.
- Khoảng trống: cần lưu ý về khoảng trống giữa các câu hỏi để tạo điều
kiện dễ dàng cho việc xử lí thông tin trong trường hợp người nghiên cứu,
người mã hóa muốn chú thích thêm. Đối với câu hỏi đóng, các hộp trả lời
phải được sắp xếp thẳng hàng, hợp lí. Đối với câu hỏi mở phải có đủ chỗ
trống cho độ dài của một câu trả lời trung bình.
- Phông chữ: nhìn chung phông chữ phải rõ ràng, dễ đọc. Trong một câu
hỏi, do có thể hiểu theo các nghĩa khác nhau nếu các từ khác nhau được nhấn
mạnh nên các từ quan trọng cần phải được gạch chân hoặc in đậm để đảm bảo
sự chú ý thống nhất của người nghiên cứu và cách hiểu thống nhất của người
được hỏi.
Ví dụ đối với cùng một câu hỏi:
Tại sao bạn đến thăm vườn quốc gia Ba Bể? > nhấn mạnh tới mục đích
chỉ dẫn và chú thích phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, nên được đánh bằng
phông chữ khác với câu hỏi và đặt ngay trên câu hỏi có liên quan hoặc phần
câu hỏi mà nó áp dụng.
- Từ ngữ sử dụng trong câu hỏi phải trong sáng, dễ hiểu (hạn chế các từ
chuyên môn đòi hỏi trình độ hiểu biết sâu, các chữ viết tắt có nhiều cách hiểu
hoặc khó hiểu), tránh các từ chung chung, trừu tượng, đa nghĩa, khó hiểu, các
19
trạng từ không xác định: “thường”, “đôi khi”, “nói chung”,… Đối với cùng
một đối tượng phải sử dụng thống nhất một định nghĩa trong toàn bộ bảng hỏi.
- Tránh cách diễn đạt vòng vo, nhiều mệnh đề, nhiều câu phụ, những câu
hỏi đa nghĩa, diễn đạt phủ định hoặc phủ định kép, các câu hỏi dẫn dắt, hàm ý
sẵn câu trả lời,…
Có thể tóm tắt lại 4 tiêu chí phải tuân theo khi tiến hành thiết kế bảng hỏi,
đó là: Ngắn gọn, có mục đích, đơn giản và cụ thể.
2.4 Ưu điểm và nhược điểm khi vận dụng bảng hỏi trong nghiên cứu cvm và
một vài đề xuất khắc phục:
- Ưu điểm: Bằng việc sử dụng bảng hỏi, người nghiên cứu có thể dễ
dàng thu thập giá sẵn lòng trả của các cá nhân khác nhau cho cùng một hàng
hóa dịch vụ môi trường. Từ đó, tổng hợp và định giá chính xác giá trị của
hàng hóa môi trường này. Điều này đảm bảo tính khách quan, xác thực của
thông tin trong khi cách thức tiến hành là tương đối đơn giản, phạm vi ứng
dụng rộng lớn.
- Nhược điểm: Đối với một bảng hỏi cvm, người trả lời hoàn toàn phản
ứng với những tình huống giả định nêu ra trong bảng hỏi và họ cũng đưa ra
những câu trả lời về mức giá sẵn lòng trả giả định mà không bị chi phối bởi
quy luật của thị trường thực. Nhiều người khi nhận định được rằng tình huống
đưa ra hoàn toàn không có thực và họ thực tế không phải trả bất cứ khoản tiền
nào nên sẵn sàng đưa ra mức giá rất cao hoặc rất thấp, không dựa trên căn cứ
nào. Một nhược điểm khác là vì tình huống là giả định nên người nghiên cứu
vụ nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch và giáo dục bảo tồn. Ở đây có
tới 417 loài thực vật và 299 loài động vật có xương sống. Có nhiều loại
động vật quý hiếm như phượng hoàng đất, gà lội, voọc mũi hếch, cá cóc
Tam Đảo…
2. Theo bạn đâu là lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ môi trường tự nhiên
và cả tài nguyên thiên nhiên của khu vực VQG? (trực tiếp ghi 1; gián tiếp
ghi 2; không biết, không rõ ghi 0).
Thu nhập từ gỗ củi Lợi ích từ việc ngăn ngừa xói mòn
Thu nhập từ hoạt động du lịch Lợi ích từ việc hập thụ khí thải
Thu nhập từ cây dược liệu Giá trị cảnh quan
Nguồn lợi thủy sản Giá trị giáo dục và nghiên cứu
Để lại các nguồn gen quý cho thế hệ mai sau
3. Bạn có từng nghe khái niệm Đa dạng sinh học trước đây chưa?
1. Có 2. Chưa
21
Đa dạng sinh học được định nghĩa như là tổng số gen, số loài và hệ sinh
thái của một vùng. Đa dạng di truyền chỉ sự đa dạng của gen trong các loài.
Đa dạng loài chỉ nhiều loài khác nhau trong một vùng. Đa dạng hệ sinh thái
chỉ sự đa dạng các hệ thống sống và môi trường của chúng trong một
vùng…
4. Theo bạn có cần thiết phải duy trì đa dạng sinh học tại VQG Ba Bể
không?
Rất cần Cần nhưng không quan trọng
Không cần thiết
5. Giả sử có một Quỹ bảo tồn được thành lập nhằm bảo tồn các giá trị
của VQG Ba Bể đang cần đến sự đóng góp của bạn. Vậy bản có sẵn sàng
8. Hiện nay Nhà nước giao khoán khoanh nuôi và bảo vệ rừng cho các
hộ dân với mức 50.000đ/ha/năm. Theo bạn mức này là:
Thỏa đáng Chưa thỏa đáng
9. Theo bạn, mức giao khoán cho các hộ gia đình khoanh nuôi và bảo vệ
rừng nên là:
100.000đồng/ha/năm 600.000đồng/ha/năm
200.000đồng/ha/năm 800.000đồng/ha/năm
300.000đồng/ha/năm 1.000.000đồng/ha/năm
400.000đồng/ha/năm
Khác (xin ghi cụ thể)………… đồng/ha/năm Phần 2: Thông tin chung về du khách:
1. Địa chỉ của bạn: Thành phố………… Tỉnh…………………
2. Giới tính của bạn:
Nam Nữ
3. Tình trạng hôn nhân:
Độc thân Có gia đình Khác
4. Tuổi của bạn:…………………tuổi
5. Nghề nghiệp của bạn:
1. Công chức 2. Chủ doanh nghiệp tư nhân
3. Kinh doanh 4. Lao động phổ thông
23
5. Sinh viên 6. Nghỉ hưu
(TCM) và phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM). Bảng hỏi gồm 3 phần:
Phần 1: “Thông tin về chuyến đi của du khách” nhằm thu thập thông tin để
24
tiến hành định giá bằng phương pháp chi phí du hành. Phần 2: “Mức sẵn lòng
chi trả của du khách” phục vụ cho việc tiến hành nghiên cứu bằng phương
pháp CVM. Và phần 3: “Thông tin chung về du khách” cung cấp những thông
tin chung nhất về đối tượng điều tra. Để phù hợp với mục đích nghiên cứu của
đề tài, trên đây chỉ trích dẫn phần 2 và phần 3 của bảng hỏi và phân tích hai
phần này.
3.2 Phân tích về sự phù hợp về thiết kế bảng hỏi:
Về hình thức:
- Các câu hỏi được đánh số lần lượt, chính xác từ câu 1 khiến cho việc
theo dõi bảng hỏi dễ dàng cũng như việc kiểm tra, xử lí thông tin sau điều tra
thuận tiện. 3 phần của bảng hỏi: gồm phần giới thiệu chung về cuộc điều tra,
phần câu hỏi về mức sẵn lòng chi trả của du khách và phần thông tin chung về
du khách đều được phân chia rõ ràng, độc lập.
- Khoảng trống giữa các câu hỏi, các phần là phù hợp tránh việc bỏ sót,
điền thiếu thông tin. Các hộp trả lời được sắp xếp hợp lí, thẳng hàng và cân
đối, vừa đảm bảo tính thầm mĩ, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc mã hóa
thông tin. Đối với các câu hỏi mở, khoảng trống là đủ để điền thông tin.
- Phông chữ, cỡ chữ rõ ràng, dễ đọc. Các phần mở đầu, tên chương, tên
mục đều được đánh dấu bằng những phông chữ khác biệt. Trong câu số 7, để
nhấn mạnh sự khác biệt, tránh nhầm lẫn khi trả lời, người thiết kế đã chú ý
đến việc phân biệt 2 nhóm từ: “thêm mức cao nhất là bao nhiêu” và “ngoài
mức phí”. Điều này giúp đối tượng điều tra hiểu chính xác và thống nhất câu
hỏi, tránh trường hợp một số đối tượng đồng nhất mức phí và mức trả của cá
nhân hoặc tính gộp cả mức phí vào mức trả,… làm sai lệch thông tin thu được.
- Trong bảng hỏi có sử dụng kí hiệu mũi tên hướng dẫn người trả lời ở
những câu hỏi lọc, thực hiện bước chuyển: như câu hỏi số 5. Những kí hiệu
không những bắt đầu gợi mở, dẫn dắt người trả lời vào bảng hỏi mà còn lọc
được đối tượng điều tra thành 2 nhóm cơ bản: đã biết và chưa biết về vườn
quốc gia Ba Bể để đánh giá mức độ chính xác của các câu trả lời tiếp theo.
Tiếp sau câu hỏi lọc, tác giả sử dụng phần chú thích ngắn gọn nhưng đầy đủ
về vườn quốc gia Ba Bể. Phần này giúp cung cấp những thông tin chung nhất
cho những đối tượng chưa từng biết tới vườn quốc gia Ba Bể hoặc đã biết
nhưng thông tin còn mơ hồ, chưa rõ. Điều này là rất quan trọng vì nếu chưa
nhận thức được về vấn đề môi trường đang nghiên cứu thì người được hỏi
không thể đánh giá chính xác và hợp lí về giá trị lợi ích của vấn đề môi
trường đó. Câu hỏi thứ 2 sau phần chú thích vì thế cũng đơn giản và dễ trả lời
hơn, thông tin thu được cũng chính xác hơn. Trong câu hỏi số 2 cũng có một
phần chú thích nhỏ (trong ngoặc) hướng dẫn về cách thức trả lời câu hỏi. Đây