Phương pháp định giá ngẫu nhiên - Pdf 23

I. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài:
Ngày nay, khi mà mục tiêu của các quốc gia không chỉ dừng lại ở tăng
trưởng kinh tế mà hướng tới phát triển bền vững thì vấn đề bảo vệ môi
trường được đặt lên ngang hàng với tăng trưởng. Dù ở tầm vĩ mô như chiến
lược, chính sách phát triển kinh tế hay ở tầm vi mô như dự án đầu tư, dự án
kinh doanh thì việc cân nhắc và đánh giá ảnh hưởng, tác động của nó đến
môi trường đều là cần thiết và vô cùng quan trọng. Những dự án chỉ hướng
tới lợi ích kinh tế mà bỏ qua các tác động môi trường không đem lại sự phát
triển bền vững và lâu dài cho địa phương và quốc gia. Chính vì vậy, hiện
nay, tại nhiều quốc gia trên thế giới đã có quy định bắt buộc về việc cung
cấp tài liệu về đánh giá tác động môi trường của dự án kèm theo hồ sơ về dự
án. Nhu cầu đánh giá tác động môi trường do đó cũng trở nên cần thiết hơn.
Tác động môi trường thường rất phức tạp trong việc đánh giá. Vì tùy theo
quan điểm của mỗi bên cũng như lợi ích về mặt môi trường họ nhận được
mà họ coi đó là tác động tích cực hay tiêu cực. Bên cạnh đó, tác động môi
trường thường không chỉ ảnh hưởng lên một mặt cuộc sống mà thường có
tác động tổng hợp, đồng thời và lâu dài lên nhiều khía cạnh như sức khỏe,
năng suất, tiện nghi,… Vì thế, để đánh giá chính xác được các tác động này
thì các nhà nghiên cứu phải sử dụng một loạt các phương pháp đánh giá giá
trị môi trường khác nhau. Hiện nay, trên thế giới hệ thống các phương pháp
này vẫn đang được nghiên cứu, mở rộng và hoàn thiện. Một trong các
phương pháp được nhiều nhà nghiên cứu ưa thích do phạm vi nghiên cứu
linh hoạt của nó trong việc đánh giá nhiều loại tác động môi trường và giá
trị môi trường là phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contigent valuation
method) – CVM hay còn gọi là phương pháp phát biểu sự ưa thích. Nội
dung chủ yếu của phương pháp này là thông qua việc sử dụng những cuộc
điều tra và bảng hỏi để thu thập thông tin và thăm dò về mức giá sẵn lòng
trả của các cá nhân cho những cải thiện môi trường. Những câu hỏi được
đưa ra dựa trên những điều kiện thị trường mà người nghiên cứu nêu ra
trong bảng hỏi. Do các câu trả lời là cơ sở của việc đánh giá giá trị môi

quan chứ không phải do cơ chế thị trường, cung, cầu điều chỉnh và xác định.
Vì vậy, nếu như với giá trị sử dụng của môi trường có thể dùng phương
pháp quan sát đơn giản hành vi người tiêu dùng trên thị trường để xác định
giá của giá trị sử dụng thì với những giá trị phi sử dụng khác cần phải tiếp
cận bằng nhiều phương pháp phức tạp hơn như: suy luận từ hành vi của con
người trên thị trường liên quan đến môi trường, quan sát những thay đổi môi
trường và ước tính sự chênh lệch giá trị của tài sản môi trường do những
2
2
thay đổi này gây ra,… Trong các phương pháp trên, CVM là phương pháp
được nhiều nhà nghiên cứu ưa thích sử dụng. Phương pháp CVM được định
nghĩa như sau:
“Phương pháp định giá ngẫu nhiên – CVM là phương pháp xác định giá
trị kinh tế của các hàng hóa và dịch vụ không mua bán trên thị trường.
Phương pháp này sử dụng bảng hỏi phỏng vấn để xác định giá trị của hàng
hóa, dịch vụ không trao đổi và do đó không có giá trên thị trường” (Theo
Katherine Bolt – Estimating the Cost of Environmental Degradation).
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là việc ước lượng các giá trị môi
trường trực tiếp theo cách tiếp cận hành vi, dựa trên các câu trả lời và phản
hồi của người được hỏi đối với những vấn đề liên quan đến chất lượng môi
trường. Điều đáng chú ý ở đây là những câu hỏi này hoàn toàn dựa trên
những giả định mà người nghiên cứu đưa ra về việc đóng góp, mức chi trả
của người được hỏi cho các giá trị môi trường (vì bản thân các giá trị này
không hề được đưa ra trao đổi, mua bán). Số liệu điều tra được về giá mà
người được hỏi sẵn lòng trả cho các giá trị môi trường, các biện pháp cải
thiện môi trường hoặc đền bù thiệt hại môi trường sẽ là cơ sở để đánh giá
giá trị môi trường. Tổng mức sẵn lòng chi trả này chính là giá trị của tài sản
môi trường cần đánh giá.
Như vậy, thông qua việc tiếp cận hành vi của người trả lời dựa trên
những câu hỏi giả định nêu ra trong bảng hỏi, người nghiên cứu thu được

tham gia phỏng vấn phải trực tiếp hưởng thụ giá trị này. Do đó, việc điều tra
được tiến hành dễ dàng và thuận tiện hơn, cũng như ít tốn kém hơn. Ví dụ
như khi nghiên cứu giá trị môi trường của Nam Cực. Trên thực tế, giá trị môi
trường của Nam Cực thường được trả rất cao nhưng rất ít người thực sự đến
tham quan địa điểm này. Nếu sử dụng các phương pháp khác như TCM
(phương pháp chi phí du lịch) đòi hỏi người được phỏng vấn phải là người đã
đến Nam Cực và thực sự chi trả cho các chi phí du lịch ở đây thì chi phí tiến
hành điều tra sẽ rất tốn kém. Nhưng nếu sử dụng phương pháp CVM, người
nghiên cứu chỉ cần đưa ra các giả định và nhận được thông tin về giá sẵn sàng
chi trả của người được phỏng vấn cho việc bảo vệ các giá trị của Nam Cực
trong khi thực tế họ không cần phải đến tận Nam Cực.
Một ưu điểm khác nữa của CVM là nó không đòi hỏi một số lượng lớn
thông tin như những phương pháp đánh giá môi trường khác.
Vì thế, trong các báo cáo đánh giá môi trường của các dự án, chính sách,
CVM thường được sử dụng rộng rãi.
4
4
2. Vận dụng bảng hỏi trong nghiên cứu CVM:
2.1 Bảng hỏi:
“Bảng hỏi (hay còn gọi là phiếu điều tra) là hệ thống các câu hỏi được sắp
xếp trên cơ sở các nguyên tắc, trình tự logic và theo nội dung nhất định nhằm
giúp cho người điều tra có thể thu được thông tin về hiện tượng nghiên cứu
một cách đầy đủ, đáp ứng mục tiêu nghiên cứu đã được thiết lập.” (Giáo trình
Lý thuyết thống kê – 2006).
Đối với các cuộc điều tra nói chung, cho dù là điều tra nghiên cứu thị
trường hay điều tra xã hội học thì bảng hỏi luôn là công cụ quan trọng nhất để
thu thập thông tin. Bảng hỏi cũng là biểu hiện cụ thể nội dung nghiên cứu, là
công cụ để người nghiên cứu truyền tải nội dung này đến người được hỏi và
thu nhận những phản hồi từ họ. Vì vậy, chỉ cần nhìn vào bảng hỏi cũng có thể
cho ta biết được những thông tin sơ lược nhất về cuộc điều tra như mục đích

thu được những phản hồi này. Trên bảng hỏi, các mức giá có thể được đưa ra
trước và đề nghị đối tượng điều tra đánh dấu vào con số mà họ cho là thích
hợp và sẵn sàng trả cao nhất hoặc để họ hoàn toàn tự trả giá.
2.2 Các loại câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu CVM:
Cũng như các cuộc điều tra khác, các loại câu hỏi được sử dụng trong
nghiên cứu CVM cũng phân chia theo nhiều tiêu thức. Tùy thuộc vào mục
đích nghiên cứu, đặc điểm thông tin mà người nghiên cứu muốn thu thập mà
có thể sử dụng các loại câu hỏi cho phù hợp. Mỗi loại câu hỏi đều có tác
dụng, ưu điểm riêng, nên để đạt hiệu quả cao nhất khi thu thập thông tin,
người nghiên cứu nên sử dụng kết hợp linh hoạt, xen kẽ các loại câu hỏi trong
bảng hỏi, thậm chí cho cùng một thông tin cần thu thập. Bằng việc sử dụng
kết hợp các câu hỏi như vậy, người nghiên cứu có thể thu nhận được những
thông tin chính xác, phù hợp và dễ lượng hóa khi tổng hợp.
2.2.1 Câu hỏi theo nội dung:
Câu hỏi theo nội dung thu thập thông tin về thực tế vấn đề môi trường mà
câu hỏi này đề cập đến . Có thể phân biệt cụ thể hơn 3 nhóm câu hỏi theo nội
dung:
Câu hỏi về sự kiện:
Câu hỏi sự kiện là câu hỏi về một sự kiện hiện thực nào đó đã và đang tồn
tại trong không gian. Những câu hỏi này nhằm thu thập thông tin về vấn đề
môi trường đã hoặc đang diễn ra hoặc chỉ đơn thuần là có hiểu biết về đối
tượng điều tra.
Câu hỏi sự kiện thường được sử dụng phổ biến trong hầu hết các bảng hỏi,
các phiếu điều tra do tính ứng dụng cao của nó. Nó mang lại thông tin về
những sự kiện liên quan đến vấn đề điều tra từ đơn giản đến phức tạp. Đối với
6
6
những sự kiện thông thường, câu hỏi sự kiện thường được sử dụng để bắt đầu
hỏi trong phỏng vấn nhằm giúp người được hỏi quen dần với cuộc phỏng vấn.
Hoặc khi đi chuyển sang một ý khác, câu hỏi sự kiện cũng được sử dụng để

7
7
một người có nhận thức về vấn đề cân bằng sinh thái sẽ đánh giá cao việc bảo
vệ loài sếu đầu đỏ đang bị tuyệt chủng hơn là một người không có hiều biết
về vấn đề này.
Khi sử dụng câu hỏi tri thức nên hạn chế việc dùng câu hỏi lưỡng cực:
Có/Không, Đã biết/Chưa biết,… Do người được hỏi có thể bị ngộ nhận, ngại
ngùng về mục đích sử dụng câu hỏi là để đánh giá nhận thức của họ nên họ có
xu hướng chọn câu trả lời “Có” hoặc “Đã biết”,… làm sai lệch thông tin thu
thập. Trong trường hợp này, nên sử dụng các câu hỏi phụ để kiểm tra thêm về
mức độ hiểu biết thực sự của đối tượng về vấn đề đó như thế nào.
Câu hỏi về quan điểm, thái độ, động cơ:
Loại câu hỏi cuối cùng trong nhóm câu hỏi theo nội dung là câu hỏi về
quan điểm, thái độ, động cơ. Có thể nói hai loại câu hỏi trên thường chỉ nhằm
mục đích dẫn dắt đối tượng điều tra để thu được thông tin quan trọng nhất từ
câu hỏi này. Câu hỏi này nhằm tìm hiểu quan điểm, sự đánh giá, mức độ quan
tâm, phản ứng, thái độ, nguyên nhân và động cơ của đối tượng điều tra về sự
kiện đang nghiên cứu.
Trên thực tế, những đánh giá, mong muốn mà đối tượng điều tra bộc lộ
trong câu trả lời thường có tính ổn định thấp, dễ thay đổi, tùy thuộc vào điều
kiện kinh tế xã hội khách quan hay tâm lí, nhận thức chủ quan của đối tượng
điều tra. Vì vậy, nếu như câu hỏi sự kiện thường cho câu trả lời có độ chính
xác cao, ổn định, không thay đổi theo thời gian, từ cuộc điều tra này tới cuộc
điều tra khác do nó gắn liền với hiện thực khách quan thì câu hỏi về quan
điểm, thái độ, động cơ lại dễ thay đổi và thiếu chính xác. Tùy thuộc vào thời
điểm điều tra mà câu trả lời này có thể biến động, nguồn dữ liệu từ câu hỏi
này vì thế không thể sử dụng nhiều lần ở những cuộc điều tra khác nhau. Bên
cạnh đó, khi sử dụng loại câu hỏi này về những vấn đề riêng tư, nhạy cảm
biểu hiện lập trường quan điểm cá nhân thì còn cần chú ý đến việc diễn đạt tế
nhị, khéo léo để người được hỏi dễ dàng hiểu câu hỏi và trả lời chính xác, đầy

những câu hỏi đơn giản, dễ trả lời và mục đích không nhất thiết để thu thập
thông tin. Chức năng chủ yếu của câu hỏi tâm lí chỉ là để làm quen, tạo sự
thân thiện, thoải mái và lôi cuốn người được hỏi vào vấn đề nghiên cứu. Đối
với nhiều người, vấn đề môi trường thường không phải là vấn đề được họ
quan tâm. Bằng việc sử dụng câu hỏi tâm lí, người nghiên cứu có thể thu hút
sự chú ý của người được hỏi để họ hợp tác nhiệt tình hơn, đưa lại thông tin cụ
thể, chính xác hơn.
- Để giảm bớt sự căng thẳng, đặc biệt là khi nội dung bảng hỏi có liên
quan đến vấn đề chỉ đạo, chính sách,… nhạy cảm thì người nghiên cứu có thể
9
9
đan cài những câu hỏi tâm lí về cuộc sống hàng ngày, những vấn đề đơn giản.
Nội dung của những câu hỏi này có thể không liên quan tới vấn đề đang
nghiên cứu mà chỉ giúp tạo bầu không khí thoải mái, sau đó sẽ trở lại với nội
dung chính của bảng hỏi. Ví dụ như khi phỏng vấn về phản ứng của người
dân về chủ trương cải tạo công viên Thống Nhất thành khu vui chơi hiện đại
của Thành phố Hà Nội, người nghiên cứu có thể đan cài các câu hỏi về việc
vui chơi của trẻ em trong gia đình tại công viên.
- Câu hỏi tâm lí còn được dùng để chuyển tiếp giữa các chủ đề trong
bảng hỏi một cách hợp lí, liền mạch nhằm duy trì sự tập trung nhưng vẫn tự
nhiên, thoải mái của người được hỏi. Việc chuyển vấn đề nhanh hoặc bất ngờ
có thể gây tâm lí nghi ngờ về logic của bảng hỏi hoặc sự hụt hẫng, đảo lộn về
tư duy từ người được hỏi. Trong bảng hỏi CVM, người nghiên cứu có thể
muốn đánh giá nhiều loại giá trị của cùng một loại hàng hóa dịch vụ môi
trường thì việc sử dụng câu hỏi tâm lí cũng vẫn cần thiết nhằm loại bỏ sự
nhàm chán, lặp lại của các câu hỏi và tạo ra sự uyển chuyển, hợp lí giữa các
nội dung.
Do các câu hỏi tâm lí không yêu cầu thu được thông tin hoặc phải liên
quan trực tiếp tới nội dung được hỏi nên việc sử dụng cần có mức độ. Việc sử
dụng quá nhiều câu hỏi vừa làm dài bảng hỏi, vừa gây loãng nội dung bảng

Câu hỏi kiểm tra được sử dụng để kiểm tra độ chính xác của các thông tin
đã thu thập được hoặc của các câu trả lời của các câu hỏi thường hay bị trả lời
sai, độ chính xác thấp. Câu hỏi kiểm tra có thể chỉ để xác định mức tin cậy
của từng câu hỏi hoặc của từng nội dung hay của toàn bộ bảng hỏi. Câu hỏi
kiểm tra còn có thể giúp người nghiên cứu tìm ra câu trả lời chính xác. Có
nhiều cách để xây dựng câu hỏi kiểm tra. Có thể nêu ra câu hỏi, sau đó đưa ra
các phương án trả lời mà có cả phương án đúng và sai hoặc gài một câu trả lời
chắc chắn đúng (hoặc chắc chắn sai) để thử. Đối với các câu hỏi nội dung, có
thể sử dụng cách dùng hai câu hỏi về cùng một vấn đề nhưng diễn đạt dưới
hình thức, sắc thái khác nhau. Cũng có thể đưa ra một tình tiết, một vấn đề hư
cấu nhưng về hình thức lại gần với thực tế để kiểm tra tính xác thực của các
thông tin từ các câu hỏi trước đó,… Ngoài ra còn một cách phổ biến khác là
kiểm tra mối liên hệ, tính logic giữa các câu hỏi để kiểm tra chéo độ chính xác
của các câu trả lời.
Việc thiết kế câu hỏi kiểm tra và đưa câu hỏi kiểm tra vào bảng hỏi tuy vậy
cần chú ý tới những vấn đề sau:
- Các câu hỏi kiểm tra sẽ kéo dài độ dài bảng hỏi vì vậy cần sử dụng hợp
lí. Chỉ nên sử dụng câu hỏi kiểm tra với những nội dung nghiên cứu quan
trọng và những câu hỏi thường bị trả lời sai.
11
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status