185
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72A, số 3, năm 2012 BIẾN ĐỔI NGHI LỄ VÒNG ĐỜI NGƯỜI CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
TÀÔI, CƠ TU, BRU- VÂN KIỀU Ở BẮC TRUNG BỘ HIỆN NAY
Nguyễn Văn Mạnh
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Tóm tắt. Sau khi nêu lên tình hình dân số và phân bố dân cư các dân tộc Tàôi,
Cơtu, Bru - Vân Kiều ở Bắc Trung bộ và nội dung khái niệm chu kỳ vòng đời
người, tác giả tập trung giải quyết những nội dung chính sau đây:
- Thực trạng biến đổi nghi lễ vòng đời người.
- Tác động của sự biến đổi các nghi lễ vòng đời người.
- Những biện pháp bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống qua nghi lễ vòng đời người.
Những biến đổi trong nghi lễ vòng đời người của các dân tộc Tàôi, Cơtu, Bru –
Vân Kiều đã từng bước loại bỏ những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan và bổ sung
vào kho tàng văn hóa truyền thống những yếu tố văn hóa mới phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại, đồng thời những biến đổi đó còn mang đến những tác động
tích cực trong đời sống kinh tế góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao cuộc sống
của người dân.
Hiện nay, ở vùng núi Bắc Trung bộ, ngoài các dân tộc thiểu số nói ngôn ngữ Việt
– Mường, Tày – Thái, Mông – Dao, còn có bộ phận khá lớn các dân tộc nói ngôn ngữ
Môn – Khơmer, với 3 dân tộc: Tàôi, Cơtu và Bru – Vân Kiều. Người Tàôi phân bố chủ
yếu ở huyện Đăkrông (tỉnh Quảng Trị) và huyện A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế) với số
lượng hơn 37.000 người, người Cơtu phân bố ở huyện Nam Đông (tỉnh Thừa Thiên
tộc Tàôi, Cơtu, Bru – Vân Kiều về cơ bản thể hiện qua các lễ nghi chính sau đây: Mang
thai, sinh đẻ, trưởng thành, hôn nhân, làm nhà, tang ma. Trong các nghi lễ đó tồn tại
nhiều tục lệ, kiêng kỵ, phòng ngừa mang nặng hình thức mê tín dị đoan, như tổ chức
cúng tế, bói toán trong sinh đẻ, làm nhà, tang ma, những Tabu (cấm kỵ) về máu của
người phụ nữ, nhất là trong quá trình sinh đẻ, không cho mang xác người chết bất đắc
kỳ tử vào làng, tổ chức lễ nghi cúng tế, ăn uống linh đình, tốn kém công sức tiền bạc
của người dân.
Trong những năm gần đây, nghi lễ vòng đời người truyền thống ở các dân tộc
Tàôi, Cơtu, Bru – Vân Kiều vẫn tồn tại nhưng đã có nhiều đổi mới theo xu hướng tích
cực; Tuy nhiên, cũng không ít sự biến đổi thể hiện một số mặt không bình thường phần
nào làm cho nét đẹp văn hóa truyền thống về nghi lễ vòng đời người bị xói mòn, pha tạp.
Chúng ta có thể biểu hiện sự biến đổi nghi lễ vòng đời người của các dân tộc
Tàôi, Cơtu, Bru – Vân Kiều qua bảng tổng hợp sau đây:
STT
Các nghi lễ
vòng đời
người
Truyền thống Hiện đại
1
Mang thai –
sinh đẻ và
chăm sóc trẻ sơ
sinh
- Khi mang thai, phụ nữ phải
kiêng nhiều thức ăn, như không
ăn thịt con thú rừng mắc bẫy,
không ăn thịt trăn, rắn, không ăn
quả, cử nằm ngược,
- Treo cành lá để báo hiệu nhà có
bệnh viện để tiện chăm
sóc và sinh con.
- Các kinh nghiệm của
người dân về chăm sóc
sản phụ và trẻ nhỏ bị mai
một dần.
- Lễ nghi bớt rườm rà,
đông bào chỉ tiến hành lễ
đầy tháng, đầy năm cho
trẻ nhỏ.
- Trẻ ốm đau, chậm lớn
được mang đến bệnh
viện.
2 Trưởng thành
- Tuổi trưởng thành 13 tuổi với
nữ, 15 tuổi với nam.
- Điều kiện công nhận người
trưởng thành là phải trải qua
nghi thức “cà răng, căng tai”.
- Tuổi trưởng thành với
nam và nữ là từ 14 đến
15 tuổi.
- Điều kiện công nhận cá
nhân trưởng thành, bên
cạnh độ tuổi còn là trình
độ học vấn, năng khiếu,
vị trí xã hội…
3 Hôn nhân
- Trai gái tìm hiểu nhau qua tục
“đi sim”, với hình thức đến nhà
- Lễ lại mặt : Sau 3 ngày nhà trai
và đôi vợ chồng trẻ phải sang
nhà gái làm lễ lại mặt với các lễ
vật, như lợn, gà, rượu, xôi…để
cúng tạ thần linh, tổ tiên nhà gái
và hai gia đình liên hoan vui vẻ.
Lễ khơi/ lễ tạ ơn : Lễ này được
tiến hành khi đôi vợ chồng sinh
con cái làm nên gia thất riêng ;
họ chọn ngày lành, tháng tốt làm
lễ khơi để tạ ơn ông bà, cha mẹ.
- Lễ vật trong hôn nhân hết sức
nặng nề, tốn kém, như lợn 2 con,
gà, rượu, gạo nếp, vải dzèng,
vòng cườm, tiền mừng
- Trang phục trong hôn nhân phổ
biến váy truyền thống.
- Khách đến dự lễ chỉ để chia
vui, ít tặng quà.
- Đám cưới diễn ra 2-3 ngày.
mặt, Lễ tạ ơn /lễ khơi lễ
vật nhẹ nhàng, đơn giản
hơn không mang tính bắt
buộc, nhiều lễ cưới cô
dâu, chú rễ được tặng
nhẫn vòng, hoa tai bằng
vàng, mặc trang phục
hiện đại như người Kinh
- Độ tuổi kết hôn theo
có sổ đỏ, không tự chọn
đất nên những kinh
nghiệm dân gian về chọn
đất làm nhà bị mai một.
- Lễ nghi dựng nhà, lễ
nghi chuyển lên nhà mới
đơn giản hơn trước;
không còn những kiêng
kỵ như trước về tìm gỗ,
chọn gỗ, nhiều nhà hiện
nay làm nhà trệt, xây
tường móng, có khi nhà
sàn nhưng cột bằng bê
tông cốt thép. 189
- Lễ vật tùy theo điều kiện từng
gia đình, nhưng bắt buộc phải có
gà trống, rượu, thịt thú rừng, cá
suối, rau củ rừng,
- Người chịu trách nhiệm
làm lễ cúng nhà mới là
chủ gia đình (thường là
người chồng), già làng và
trưởng họ được mời đến
dự lễ.
- Lễ vật đơn giản, vì
phạm vi thu hep trong
- Có quan niệm người
chết lành, người chết xấu
nhưng trong quá trình
tiến hành tang lễ không
phân biệt, không nghiêm
cấm đưa người chết xấu
vào nhà, vào làng, người
chết xấu cũng được mai
táng ở nghĩa địa của
làng.
- Nghi lễ cơ bản vẫn theo
truyền thống, nhưng một
số tục lệ, như con cháu đi
vòng quanh người chết
vừa khóc vừa thọc gậy
xuống sàn nhà, hoặc tục
lệ cho thức ăn vào miệng
người chết khi chưa
khâm liệm không còn
nữa.
- Đã có nhiều gia đình tổ
chức thăm viếng, chăm
sóc mồ mả tổ tiên sau khi
chôn cất vào dịp lễ tết và
lập bàn thờ tổ tiên trong
nhà, phổ biến kết hợp thờ
Bác Hồ.
-Tang ma rút gọn chỉ 1 -
2 ngày.
thanh niên nam nữ được tự do yêu đương, chủ động trong hôn nhân của mình.
Tang ma là một lĩnh vực mang nhiều hủ tục nặng nề nhất, ngày nay đã có những
thay đổi rất lớn thể hiện trên nhiều khía cạnh, như các lễ nghi phiền phức, lễ vật nặng nề
đã được hạn chế, việc dời bỏ làng khi liên tiếp có các trường hợp chết xấu đã được khắc
phục, việc để người chết trong nhà không còn dài ngày như trước, việc phù phép xua
đuổi ma quỷ, chặn đường không cho linh hồn người chết về quậy phá con cháu không
còn nữa,
Những thay đổi đó từng bước làm chuyển biến nhận thức của đồng bào, góp phần
xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân theo hướng văn minh hiện đại. 191
- Mặt tiêu cực :
Bên cạnh những mặt tích cực như trên, sự biến đổi về nghi lễ vòng đời người
của các dân tộc Tàôi, Cơ-tu, Bru - Vân Kiều cũng không tránh khỏi những mặt tiêu cực.
Ví như tục tình tự đêm hay tục đi sim - một hình thức tìm hiểu tỏ tình của các đôi trai
gái hết sức nhẹ nhàng, lãng mãn, đến nay đã không còn được duy trì nữa [2, tr. 64]; giờ
đây bị giới trẻ lạm dụng trở thành mối lo ngại cho cộng đồng, làng bản, cho các bậc làm
cha, làm mẹ. Trong hôn nhân, nếu như trước đây nam nữ thường tặng cho nhau vòng
bạc, chuỗi cườm, bạc trắng [2, tr. 56]; thì này nay đã xuất hiện các vật dụng mới dùng
để làm quà như đồng hồ, kẹp tóc, các loại trang sức bằng bạc, vàng đắt tiền, đã không
chỉ làm mất đi những giá trị văn hóa vật thể truyền thống của đồng bào mà còn làm
thương mại hóa lễ vật trong hôn nhân. Trong lễ cưới hiện nay trang phục truyền thống,
tục lệ uống rượu cần, nam nữ hát đối đáp trao duyên dần thay bằng trang phục cả sản
phẩm yèng, cả quần bò áo phông, cả rượu cần, rượu trắng, cả bia, cả múa hát theo
những làn điệu truyền thống cả dàn loa phóng thanh, nhạc rốc cạch cởm, lai căng.
Sự biến đổi theo xu hướng đơn giản các lễ vật, lễ nghi trong sinh đẻ, hôn nhân,
làm nhà, tang ma một mặt làm cho các nghi lễ bớt đi tính rườm rà tốn kém về tiền bạc
công sức và thời gian của người dân, nhưng mặt khác làm cho những phong tục tập
dân tộc, các vùng miền, đảm bảo cho thanh niên nam nữ tìm hiểu yêu đương và lựa
chọn bạn đời.
Nghi lễ tang ma của người Tàôi, Cơtu, Bru - Vân Kiều tuy ít biến đổi, nhưng lại
là nghi lễ nặng nề, tốn kém và chứa nhiều hủ tục lạc hậu. Cần có đội ngũ cán bộ cơ sở
vận động bà con trong cộng đồng đơn giản hóa các nghi lễ tang ma, giảm bớt những lễ
nghi phiền phức, tốn kém, nhiều khi không hợp vệ sinh, tổ chức những tang lễ trang
nghiêm phù hợp với đời sống mới, đồng thời vẫn thỏa mãn được nhu cầu tình cảm, tín
ngưỡng của người dân…
Thứ ba, nâng cao trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc Tàôi, Cơtu, Bru -
Vân Kiều. Đây là một biện pháp cực kỳ quan trọng nếu không nói là quan trọng nhất,
bởi lẽ trình độ nhận thức ảnh hưởng quyết định đến việc tiếp thu cái mới, cái tiến bộ.
Thực tế nhận thức được cái xấu cần loại bỏ, cái hay cần học tập trong các nghi lễ vòng
đời người là một điều không đơn giản, vì đồng bào Tàôi, Cơtu, Bru- Vân Kiều đã từ lâu
quen sống với những phong tục tập quán cũ, trình độ mù chữ còn phổ biến trong lớp
người lớn tuổi. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của đồng bào trong việc xóa
bỏ những hủ tục lạc hậu, tiếp thu cái mới phù hợp với thời đại.
Bên cạnh đó, việc nâng cao dân trí của người dân phải đi liền với hoạt động
truyền thông phổ biến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đẩy
mạnh phổ biến luật hôn nhân – gia đình, nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản, giảm
bớt những lễ nghi rườm rà tốn thời gian, tiền bạc cuả nhân dân…
Và cuối cùng trong giai đoạn hiện nay, cần tăng cường mối quan hệ giữa các
dân tộc thiểu số với nhau và giữa các dân tộc thiểu số với người Kinh. Trong quá trình
mở rộng mối quan hệ đó, đồng bào các dân tộc Tàôi, Cơtu, Bru- Vân Kiều có điều kiện
nhìn nhận những cái không phù hợp, lỗi thời trong các lễ tục vòng đời người của dân
tộc mình. Hơn thế nữa, mở rộng mối quan hệ đó, các dân tộc có điều kiện hỗ trợ, bổ
sung những cái hay, cái đẹp trong các lễ tục vòng đời người của từng dân tộc, từng
vùng cho nhau.
Tóm lại, những biến đổi trong nghi lễ vòng đời người của các dân tộc Tàôi, Cơtu,
Bru – Vân Kiều đã mang đến những tác động sâu sắc về nhiều mặt, không chỉ trên lĩnh
vực văn hóa xã hội mà còn trên lĩnh vực kinh tế. Những biến đổi đó đã từng bước loại
Changes in the life-cycle ritual of the ethnic minorities Katu, Bru-VanKieu and
Taoi, have gradually eliminated the superstitions and added some new cultural
elements to the traditional cultural treasures for the adaption of the new
development, and those changes also brought about a positive impact on the
economic life, thus contributing to poverty reduction and improving people's lives.