LỜINÓIĐẦU
Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày nay, muốn phát triển mỗi quốc gia phải
tích cực tham gia mở rộng quan hệ hợp tác Kinh tế – Thương mại. Thực tếđã chứng
minh “ Ngoại thương” là con đường tốt nhất đểđưa đất nước hoà nhập với xu thế phát
triển chung của thế giới. Hoạt động ngoại thương đã có vai trò quan trọng trong sự
phát triển của mỗi quốc gia.
Thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ ....hiện đại và tiên tiến.
Trong khi Việt Nam đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoáđất nước
thì các hoạt động mở rộng quan hệ quốc tế vàđẩy mạnh hoạt động ngoại thương là
nghiệp vụ cóý nghĩa chiến lược và là một bộ phận trọng yếu trong cơ cấu kinh tế. Kinh
doanh xuất nhập khẩu là một hoạt động Thương mại quốc tế bao gồm nhiều nghiệp vụ
kinh doanh trong đó có việc tiến hành thoả thuận và soạn thảo hợp đồng ngoại thương.
Mọi thiệt hại có thể do nhiều nguyên nhân: như nguyên nhân khách quan, nguyên
nhân chủ quan do thiếu kinh nghiệm kiến thức, chưa chú trọng đúng mức đến tầm
quan trọng trong khi thực thi tìm hiểu, đàm phán, soạn thảo, ký kết và thực hiện hợp
đồng. Quan tâm, cẩn thận trong đàm phán, kí kết hợp đồng sẽ tránh được những tranh
chấp, thiệt hại không đáng có. Do vậy vấn đề hợp đồng ngoại thương thực sự là vấn đề
quan trọng của các doanh nghiệp nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và
mở rộng quan hệ buôn bán với tất cả các nước.
Từ những lý do nêu trên, em chọn đề tài “Soạn thảo và thoả thuận hợp đồng
ngoại thương. Những phát sinh và cách giải quyết”, bài tiểu luận của em gồm 3 phần
chính:
Phần 1: Đàm phán thoả thuận hợp đồng ngoại thương
Phần 2: Những phát sinh trong soạn thảo và thoả thuận
Phần 3: Giải pháp giải quyết phát sinh và một số biện pháp nâng cao
1
1, ĐÀMPHÁNTHOẢTHUẬNHỢPĐỒNGNGOẠITHƯƠNG
1.1. Một số khái niệm vàý nghĩa của hợp đồng ngoại thương
1.1.1. Khái niệm đàm phán
Đàm phán là việc bàn bạc, trao đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các bên
đểđi đến thống nhất kí kết hợp đồng. Nội dung của cuộc đàm phán cũng giống như nội
xuất nhập khẩu của nước ta. Với hình thức này, nó bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho các
bên mua bán, xác định rõ trách nhiệm của các bên. Hơn nữa, trong kinh doanh thương
mại quốc tế có sự khác nhau về ngôn từ, chính trị, luật pháp. tôn giáo, tập quán,….
Hợp đồng dưới hình thức văn bản sẽ giúp cho các bên thống nhất về mặt ngôn từ, tập
quán. Để tiếp tục kinh doanh thương mại quốc tế, là một lĩnh vực kinh doanh phức tạp
do ảnh hưởng của nhiều nhân tố trong nước và ngoài nước, ảnh hưởng của khả năng
thực hiện, thiện chí của các bên tham gia kí kết mà có thể dẫn tới nhiều rủi ro, nhiều
tranh chấp xảy ra giữa các bên, khi đó hợp đồng sẽ trở thành một bằng chứng quan
trọng để tiến hành giải quyết các tranh chấp về mua bán xảy ra giữa các bên. Ngoài ra,
hợp đồng tạo thuận lợi cho việc theo dõi, kiểm tra, thống kê việc thực hiện hợp đồng
theo quy định chung của quản lý nhà nước.
1.2. Các giai đoạn đàm phán hợp đồng ngoại thương
1.2.1. Giai đoạn chuẩn bị:
Thu thập thông tin: trước khi đàm phán cần phải nắm bắt được các thông tin
như:
Mỗi bên có lợi gì trong thương vụ này
Đối phương là ai và người đại diện cho đối phương là người như thế nào
Khuynh hướng thị trường ra sao
3
Chuẩn bị chiến lược: trước khi đàm phán ta cần xác định tư duy chiến lược của
mình. Chúng ta sẽ sử dụng công cụ hay phương tiện gì trong quá trình đàm phán (hăng
hái, nhiệt tình, thờơ, đơn giản, thúc ép hay lạnh nhạt).
Chuẩn bị kế hoạch: trước khi đàm phán, cần phải xác định được mục tiêu của
cuộc đàm phán (yêu cầu tối đa, tối thiểu, giá cả cao nhất và thấp nhất, v.v...).
1.2.2. Giai đoạn đàm phán
Tiếp xúc ban đầu: Đây là giai đoạn nhằm xây dựng bầu không khí hợp tác trong
cuộc đàm phán bởi lẽ những ấn tượng ban đầu thường khó quên.
Tiến hành thương lương: Đây là giai đoạn chính của đàm phán, là giai đoạn
triển khai các vấn đềđàm phán theo như kế hoạch đã vạch ra trong giai đoạn chuẩn bị.
Kết thúc thương lượng: Trong giai đoạn này thì cuộc đàm phán đã hoàn thành,
Làđiều khoản quan trọng trong hợp đồng. Nó nói lên chính xác đối tượng của
trao đổi mua bán, giúp các bên xác định được sơ bộ loại hàng cần mua bán. Để làm
được điều đó phải ghi tên hàng như sau:
+ Ghi tên hàng bao gồm tên thông thường, tên Thương mại, tên khoa học,
+ Ghi tên hàng kèm tên địa phương sản xuất ra nó,
+ Ghi tên hàng kèm với quy cách chính thức của nó,
+ Ghi tên hàng kèm tên nhà sản xuất ra nó,
+ Ghi tên hàng kèm công dụng của hàng hoáđó .
1.4.2. Điều khoản về số lượng
Nhằm nói lên mặt lượng của hàng hoáđược giao dịch, điều khảon này bao gồm
các vấn đềđơn vị tinh số lượng hàng hoá, phương pháp quy định số lượng, phương
pháp quan điểm trọng lượng
5