Một số Giải pháp về đầu tư cho nghành y tế - Pdf 12

Lời mở đầu
Con ngời vừa là động lực vừa là mục tiêu của quá trình phát triển kinh
tế xã hội mà sức khoẻ là một yếu tố quan trọng tạo nên một con ngời có ích
cho xã hội. Bác Hồ đã từng nói: ... giữ gìn sức khoẻ, xây dựng nớc nhà, gây
đời sống mới, việc gì cũng cần phải có sức khoẻ mới thành công... Chính
phủ Việt Nam cũng có quan điểm rằng con ngời là yếu tố hàng đầu, quyết
định sự phát triển của đất nớc, sức khoẻ là cái gốc để con ngời phát triển, là
niềm hạnh phúc của mỗi ngời, mỗi gia đình.
Với chức năng bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, ngành y tế giữ vai trò
quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế xã hội. Tuy nhiên, hoạt
động y tế chỉ đợc duy trì và phát triển khi đợc đầu t đúng và đủ. Đầu t xây
dựng các cơ sở y tế, mua sắm trang thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực ... là
những yếu tố cơ bản cho các hoạt động y tế đợc tiến hành.
Trong những năm qua, đặc biệt từ năm 1990 trở lại đây, đầu t đã góp
phần làm cho ngành y tế đạt đợc những bớc tiến bộ đợc nhân dân và bạn bè
trên thế giới công nhận. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại cần
khắc phục.
Sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu về y tế Việt Nam tại Vụ Lao
động- Văn hoá- Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu t, em đã có những nhận thức
nhất định về y tế Việt Nam. Em xin đợc đa ra một số ý kiến của mình trong
khuôn khổ đề tài:
Thực trạng và một số giải pháp về đầu t cho ngành y tế.
Nội dung bài viết bao gồm:
- Phần 1: Tổng quan về đầu t trong ngành y tế.
- Phần 2: Thực trạng về đầu t cho ngành y tế Việt Nam thời kỳ 1991-
2000.
- Phần 3: Một số giải pháp về đầu t cho ngành y tế.
1
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại bộ môn kinh tế đầu t cũng
nh trong quá trình thực hiện đề tài , em đã nhận đợc sự giúp đỡ của giáo viên
- Thạc sĩ Từ Quang Phơng và các thầy cô giáo trong Bộ môn kinh tế đầu t.

kinh doanh của công ty phát hành. Đầu t tài sản tài chính không tạo ra tài sản
3
mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá
nhân ngời đầu t. Tuy nhiên, đầu t tài chính là một nguồn cung cấp vốn quan
trọng cho đầu t phát triển.
Đầu t th ơng mại là loại đầu t trong đó ngời có tiền bỏ tiền ra để mua
hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận chênh lệch. Loại
đầu t này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng tài
sản tài chính của ngời đầu t trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao sở
hữu hàng hoá. Đầu t thơng mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lu thông của
cải vật chất do đầu t phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu t phát triển, tăng thu
ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói
riêng và cho nền sản xuất xã hội nói chung.
Đầu t tài sản vật chất và sức lao động là đầu t trong đó ngời có tiền
bỏ ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm
tăng năng lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện
chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi ngời dân trong xã hội.
Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ
tầng, mua sắm trang thiết bị ...
Theo nghĩa hẹp, đầu t chỉ bao gồm các hoạt động sử dụng các nguồn
lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tơng
lai lớn hơn các nguồn đã sử dụng để đạt đợc những kết quả đó.
Nh vậy, nếu xét trên phạm vi quốc gia thì chỉ có hoạt động sử dụng các
nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân lực
và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực
sẵn có thuộc phạm trù đầu t theo nghĩa hẹp hay phạm trù đầu t phát triển.
Tóm lại, đầu t phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính,
nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà
cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, bồi dỡng đào tạo nguồn nhân
lực, thực hiện chi phí thờng xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này

chất lợng cuộc sống mà một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh
giá chất lợng cuộc sống đó là sức khoẻ. Nh vậy, sức khoẻ vừa là phơng tiện,
vừa là mục đích của quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Do đó, ngành y tế là
một ngành đặc biệt quan trọng vì nó có chức năng bảo vệ và chăm sóc sức
khoẻ cộng đồng. Nói cách khác, ngành y tế vừa tạo điều kiện cho quá trình
phát triển kinh tế - xã hội vừa tạo ra kết quả trực tiếp cho quá trình đó.
b/ Vốn đầu t.
5
Đối với đầu t của một quốc gia nói chung, vốn đầu t đợc hiểu là tiền
tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, là tiền tiết
kiệm của dân c và vốn huy động từ các nguồn khác đợc đa vào sử dụng trong
quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra các tiềm
lực mới cho nền sản xuất xã hội. Đối với các nớc nghèo, để phát triển kinh tế,
và từ đó thoát khỏi cảnh nghèo thì một vấn đề nan giải ngay từ đầu là thiếu
vố gay gắt và thiếu các điều kiện khác cho sự phát triển nh công nghệ, cơ sở
hạ tầng... Do đó trong những bớc đi ban đầu, để tạo ra đợc cái hích đầu tiên
cho sự phát triển, để có đợc tích luỹ ban đầu từ trong nớc, không thể không
huy động vốn nớc ngoài. Không có một nớc chậm phát triển nào trên con đ-
ờng phát triển lại không tranh thủ nguồn vốn đầu t nớc ngoài, nhất là trong
điều kiện nền kinh tế mở.
Đối với một quốc gia, vốn đầu t đợc hình thành từ hai nguồn chính, đó
là nguồn trong nớc và nguồn nớc ngoài. Nguồn trong nớc bao gồm: vốn tích
luỹ từ ngân sách, vốn tích luỹ từ doanh nghiệp và tiền tiết kiệm của dân c.
Đây là nguồn vốn quan trọng và khá ổn định, đóng vai trò trọng yếu trong
việc thực hiện các chiến lợc phát triển kinh tế xã hội của đất nớc. Vốn nớc
ngoài bao gồm: vốn đầu t trực tiếp và vốn đầu t gián tiếp. Trong đó, vốn đầu
t trực tiếp có các hình thức nh: hợp đồng hợp tác kinh doanh, công ty 100%
vốn nớc ngoài, công ty liên doanh; vốn đầu t gián tiếp bao gồm các hình
thức: viện trợ không hoàn lại, hợp tác, vay u đãi, vay thơng mại... Trong điều
kiện hiện nay, khi mà nền kinh tế nớc ta còn cha phát triển, tích luỹ trong nớc

kiện tiên quyết đối với kết quả của hoạt động y tế. Nguồn nhân lực y tế đủ về
số lợng, mạnh về chất lợng đang là mục tiêu quan trọng trong chiến lợc phát
triển ngành y tế Việt Nam.
Đầu t mua sắm trang thiết bị y tế là hoạt động đầu t nhằm cung cấp
trang thiết bị cho các cơ sở y tế. Trong thời đại hiện nay, khoa học công nghệ
phát triển với một tốc độ chóng mặt và có tác động không nhỏ đến hoạt động
y tế. Nhờ có khoa học công nghệ mà rất nhiều bệnh dịch bị đẩy lùi, nhiều
bệnh trớc đây không phát hiện ra hoặc không có khả năng chữa trị nay đã đợc
chẩn đoán và điều trị kịp thời. Vì vậy, khi lập kế hoạch đầu t cho y tế cần
xem xét và giành một phần kinh phí thoả đáng cho mua sắm trang thiết bị y
tế.
7
Đầu t thực hiện các chơng trình y tế quốc gia là đầu t của Nhà nớc, lấy
kinh phí từ ngân sách Nhà nớc (bao gồm cả nguồn viện trợ). Mục đích của
các chơng trình y tế quốc gia là tiêu diệt hoặc đẩy lùi các bệnh dịch lớn, các
bệnh lây truyền hoặc bệnh xã hội có ảnh hởng trên diện rộng. Đây là một
lĩnh vực hoạt động quan trọng của ngành y tế bởi vì nó có tác dụng rộng rãi
và ảnh hởng mạnh đến các chỉ số về sức khoẻ của cộng đồng trong một quốc
gia.
Đầu t nghiên cứu, xây dựng và ban hành các chính sách y tế là việc
đầu t cho các cơ quan chức năng nhằm nghiên cứu và đa ra hành lang pháp lý
cho ngành y tế bao gồm các chính sách về biện pháp quản lý trong ngành y
tế, các chính sách về viện phí, chế độ thu viện phí và bảo hiểm y tế, các chính
sách về thu nhập đối với nhân viên y tế, chế độ quản lý bệnh viện, phát triển
y tế t nhân, chính sách về quản lý thuốc...
c/ Đặc điểm của hoạt động đầu t phát triển.
Hoạt động đầu t phát triển thờng đòi hỏi khối lợng vốn lớn, vốn này
nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu t. Khác với hoạt
động đầu t tài chính và đầu t thơng mại, vốn nhỏ, ít rủi ro và có thể
nhanh chóng sinh lời, vốn cho đầu t phát triển thờng lớn và không

toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu t thờng chiếm
khoảng 24 - 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nớc trên thế giới. Khi
thành quả của đầu t phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì
tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên làm thúc đẩy sản lợng của
nền kinh tế.
Đầu t có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế. Sự tác động không
đồng thời về mặt thời gian của đầu t đối với tổng cầu và tổng cung của nền
kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu t, dù là tăng hay giảm đều cùng một
lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định nền kinh
tế của mọi quốc gia.
Đầu t tác động đến tốc độ tăng tr ởng và phát triển kinh tế. Kết quả
nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ phát triển kinh tế ở
9
mức trung bình thì tỷ lệ đầu t phải đạt đợc từ 15- 25% so với GDP tuỳ thuộc
vào ICOR của mỗi nớc.
Từ đó suy ra:
Nếu ICOR không thay đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào
vốn đầu t.
Đầu t tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Kinh nghiệm của
các nớc trên thế giới cho thấy con đờng tất yếu để tăng trởng nhanh là tăng c-
ờng đầu t nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Nh vậy, chính sách đầu t quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
các quốc gia nhằm đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh ở toàn bộ nền kinh tế. Về
cơ cấu lãnh thổ, đầu t có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển
giữa các vùng lãnh thổ. Đa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng
đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh
tế, chính trị,... của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn làm bàn đạp
cho những vùng khác phát triển.
Đầu t góp phần tăng c ờng khả năng khoa học và công nghệ của đất
n ớc. Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu t là điều kiện tiên

độ về viện phí và bảo hiểm y tế đợc thực hiện. Hàng năm, Nhà nớc đã giành
một phần ngân sách để đầu t cho y tế, mở rộng và nâng cao chất lợng của hệ
thống y tế, đầu t mua sắm trang thiết bị hiện đại, đào tạo và đào tạo lại đội
ngũ cán bộ y tế cho phù hợp với thời kỳ mới về cả chuyên môn và trình độ
quản lý; thực hiện các chơng trình y tế quốc gia... Bên cạnh đó khu vực kinh
tế t nhân cũng bắt đầu tham gia đầu t phát triển hệ hệ thống y tế và góp phần
không nhỏ trong sự phát triển chung của ngành y tế. Nhờ có sự tăng cờng đầu
t mà hệ thống y tế nớc ta cho đến nay đã có những bớc tiến bộ đáng ghi nhận.
Các cơ sở y tế trong cả nớc đợc mở rộng, nâng cấp và hoạt động có hiệu quả
hơn. Cán bộ y tế nâng cao đợc trình độ chuyên môn và trình độ quản lý. Một
số kỹ thuật y tế hiện đại đợc áp dụng. Hệ thống cung cấp thuốc hoạt động tốt,
đa thuốc kịp thời tới tay ngời tiêu dùng. Các bệnh dịch giảm hẳn, một số
bệnh trớc đây phải bó tay nay đã đợc phát hiện và chữa trị kịp thời. Vì vậy,
các chỉ số về sức khoẻ của nhân dân Việt Nam đợc cải thiện và đợc đánh giá
cao trong khu vực và trên thế giới. Ví dụ nh các chỉ số về tỷ lệ sinh, tỷ lệ
chết, tăng dân số tự nhiên, chết trẻ em, chết mẹ của một số nớc đợc đa ra
trong bảng 1.
Bảng 1 - Dân số, tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, tăng tự nhiên, chết trẻ em,
chết mẹ ở một số nớc châu á 1994 - 1995
11
Nớc Tỷ lệ sinh
thô
CBR %o
Tỷ lệ chết
thô
CDR %o
Tỷ lệ tăng
TN
NGR %o
Tỷ lệ chết

Mắc
bệnh
Chết Mắc
Bệnh
Chết Mắc
Bệnh
Chết
1
2
3
4
Bạch hầu
Ho gà
Uốn ván
Sởi
0,77
6,14
0,48
9,80
0,09
0,04
0,31
o,06
0,12
0,43
0,31
13,17
0,02
0,004
0,21

0,001
2,96
.....
0.23
còn 2ca
.......
.......
2,5
tới 0
........
.......
30
(Nguồn: Niên giám thống kê y tế 1998- Bộ Y tế).
Theo số liệu bảng 2, trừ bệnh uốn ván có xu hớng tăng, còn lại hầu hết
các bệnh nh Bạch hầu, ho gà, sởi, bại liệt, phong, lao... đều có xu hớng giảm.
Đặc biệt các bệnh nh ho gà, sởi, bại liệt giảm tiến tới 0. Điều này chứng tỏ
đầu t cho y tế đã đạt đợc những kết quả khả quan.
Nhờ có chính sách tăng cờng đầu t cho y tế cơ sở, đầu t cho chơng
trình mục tiêu nên công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân đã đợc
đẩy mạnh. Trên 95% trẻ em dới 1 tuổi đã đợc tiêm chủng đầy đủ phòng 6
bệnh gây dịch nguy hiểm, 99% trẻ em dới 3 tuổi đợc phòng bệnh mù loà vì
thiếu Vitamin A, 95% trẻ em dới 5 tuổi đợc chơng trình phòng chống tiêu
chảy bảo vệ. Với hệ thống điều trị và dự phòng tích cực, tỷ lệ bệnh tật của trẻ
em đã giảm rõ rệt. đặc biệt tỷ lệ trẻ em chết dới 1 tuổi, một chỉ số khá quan
trọng để đánh giá tình trạng y tế của một nớc trong thập kỷ 90 đã giảm đáng
kể: giảm từ 46%o năm 1990 xuống 37%o năm 1998.
Nh vậy, hoạt động đầu t có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát
triển của ngành y tế. Đầu t đúng hớng, đúng đối tợng, đúng địa chỉ, đúng
điểm can thiệp sẽ tạo những điều kiện quan trọng để Nhà nớc thực hiện việc
phân phối lợi ích Nhà nớc về y tế công bằng và hiệu quả. Ngợc lại, nếu đầu t

hợp với khả năng chi trả của ngời dân. Đối với ngời nghèo và các đối tợng xã
hội nh thơng binh, ngời có công với cách mạng, trẻ em cơ nhỡ, ngời già cô
đơn..., Nhà nớc có chế độ miễn giảm viện phí hoặc cung cấp bảo hiểm y tế
miễn phí. Đây là những hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc của nền y tế
xã hội chủ nghĩa.
T ơng quan cung - cầu trong thị tr ờng y tế và thị tr ờng th ơng mại có
sự khác biệt. Trong thị trờng thơng mại, nhu cầu không phải cầu, cầu là nhu
cầu đợc thể hiện trong sức mua (nhu cầu này đợc đáp ứng tuỳ thuộc vào khả
năng chi trả và vào sở thích của mỗi đối tợng). Trong thị trờng y tế nhu cầu
về khám chữa bệnh của mỗi con ngời là những nhu cầu cụ thể, nhu cầu này
chính là nhu cầu của thị trờng y tế. Những nhu cầu này không do chủ quan
14
bản thân con ngời quyết định đợc khi mắc bệnh, không phụ thuộc vào khả
năng chi trả cũng không phụ thuộc và sở thích của ngời tiêu dùng dịch vụ y
tế. Họ không thể lựa chọn và quyết định đợc dịch vụ mình cần và càng
không thể mặc cả khi cần phải sử dụng dịch vụ đó.
Kết quả của hoạt động y tế có ảnh h ởng đến tất cả các ngành khác
đến toàn xã hội và có tác dụng lâu dài. Sức khoẻ cộng đồng đợc nâng cao có
tác dụng nâng cao chất lợng nguồn nhân lực cả hiện tại và tơng lai. Ngời lao
động có sức khoẻ tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp bằng việc
nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung khi làm việc. Việc nuôi d-
ỡng và chăm sóc sức khoẻ tốt sẽ góp phần làm tăng năng suất lao động. Từ
đó có ảnh hởng tích cực đến hoạt động của tất cả các ngành khác. Đối với
toàn xã hội, những thành viên khoẻ về thể chất, lành mạnh về tinh thần là yếu
tố quyết định cho một xã hội phát triển bền vững.
2. Quan điểm phát triển sự nghiệp y tế của Đảng và Nhà nớc
*) Chính phủ Việt Nam cho rằng con ngời là yếu tố hàng đầu, quyết
định sự phát triển của đất nớc. Sức khoẻ là cái gốc để con ngời phát triển, là
niềm hạnh phúc của mỗi ngời, mỗi gia đình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói...
giữ gìn sức khoẻ, xây dựng nớc nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần đến

động và sáng tạo ra của cải, vật chất, nâng cao đời sống cho mọi ngời trong
xã hội. Với sức khoẻ không tốt con ngời không những không có khả năng lao
động giúp ích cho sự phát triển của nền kinh tế mà còn trở thành gánh nặng
của xã hội. Một trong những thớc đo về sự phát triển của một cộng đồng là
sức khoẻ. Xã hội càng phát triển thì con ngời càng quan tâm đến sức khoẻ và
sức khoẻ đợc chăm sóc nhiều hơn. Sức khoẻ tốt, đời sống vật chất và tinh
thần đầy đủ cho nhân dân chính là mục tiêu phấn đấu của các quốc gia trên
thế giới.
Ngoài ra, phát triển y tế góp phần nâng cao các chỉ số về sức khoẻ, tuổi
thọ... góp phần nâng cao vị trí của quốc gia trong khu vực và trên thế giới. ở
Việt Nam, mặc dù kinh tế còn chậm phát triển, tổng sản phẩm quốc nội cũng
nh thu nhập quốc dân / đầu ngời còn thấp song do chú trọng đầu t cho giáo
16
dục và y tế, Việt Nam đã đạt đợc một số chỉ tiêu phát triển con ngời quan
trọng. Về y tế, chúng ta đã đạt đợc những thành tựu to lớn đợc Tổ chức Y tế
thế giới công nhận. Thành tựu này góp phần đa chỉ tiêu phát triển con ngời
(HDI) của Việt Nam tăng 30 bậc so với thành tựu về kinh tế. Ta có thể thấy
điều này qua bảng 3 số liệu về chỉ số HDI của một số quốc gia nh sau:
Bảng 3- Chỉ số HDI của một số nớc châu á
Nớc Triển
vọng
sống
trẻ SS
Tỷ lệ
dân
số
biết
chữ
TL
nhập

Indonesia 63,5 83,2 62 3,740 3,740 0,64 0,76 0,60 0,668
China 68,9 80,9 58 2,604 2,604 0,73 0,73 0,41 0,626
Việt Nam 66,0 93,0 55 1,208 1,208 0,68 0,80 0,18 0,557
India 61,3 50,2 56 1,348 1,348 0,60 0,53 0,21 0,446
Cambodia 52,4 35,0 58 1,084 1,084 0,46 0,43 0,16 0,348
(Nguồn: Niên giám thống kê y tế 1998)
Nhìn vào biểu trên ta thấy, nếu chỉ xét các chỉ tiêu về GDP nh GDP/
đầu ngời, GDP điều chỉnh hay chỉ số GDP thì Việt Nam có các chỉ số này rất
thấp, chỉ cao hơn Cambodia. Tuy nhiên, Việt Nam lại có những chỉ số khác
nh triển vọng sống trẻ sơ sinh, chỉ số triển vọng sống và các chỉ số về giáo
dục khá cao, xấp xỉ một số nớc có thu nhập cao hơn Việt Nam nh Indonesia,
India, China...
b/ Nhiệm vụ của ngành y tế
Nhiệm vụ tổng quát của ngành y tế đợc xác định trong văn kiện đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII nh sau:
Cải thiện các chỉ tiêu cơ bản về sức khoẻ cho mọi ngời, từng bớc nâng
cao thể trạng và tầm vóc, trớc hết là nâng cao thể lực bà mẹ, trẻ em.
17
Tạo chuyển biến nhanh trong việc thực hiện chiến lợc dân số cả về quy
mô, cơ cấu và phân bổ, tập trung trớc hết vào mục tiêu mỗi cặp vợ chồng có
không quá hai con và nuôi dạy con tốt, giảm nhanh tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ
ba trở lên. Ngoài việc đầu t thêm kinh phí và phơng tiện kỹ thuật, cần tăng c-
ờng giáo dục truyền thông, bổ sung các chính sách về hạn chế sinh đẻ, củng
cố hệ thống quản lý dân số, kế hoạch hoá gia đình các cấp, có mạng lới đến
tận thôn xóm, đờng phố. Giảm nhịp độ phát triển dân số xuống dới 1,8% đến
năm 2000.
Thực hiện chơng trình dinh dỡng quốc gia, giảm tỷ lệ suy dinh dỡng
trẻ em dới 5 tuổi xuống dới 30% vào năm 2000 và không còn suy dinh dỡng
nặng, đa tỷ lệ dân số có mức ăn dới 2100 calo/ ngày xuống dới 10%, chăm
sóc phụ nữ có thai và sinh đẻ, giảm tỷ lệ tử vong của phụ nữ khi đẻ xuống

- Công tác chăm sóc sức khoẻ Bà mẹ và trẻ em.
- Công tác dợc.
- Thực hiện các chơng trình y tế quốc gia.
*) Phòng chống dịch bệnh .
Ngành y tế tập trung giả quyết các dịch bệnh có khả năng xuất hiện
hoặc đã xuất hiện nh: dịch tả, sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản ...
không để các dịch lớn xảy ra. Duy trì kết quả phòng bệnh từng đợt, khi có
bệnh dịch xảy ra phải huy động mọi biện pháp dập tắt.
Chủ động và tích cực phòng chống thiên tai địch hoạ, hạn chế thiệt hại
về ngời. Tiếp tục duy trì các cơ sở thuốc và trang thiết bị để hỗ trợ cho các
địa phơng bị thiên tai đặc biệt là trong các mùa ma lũ.
Thực hiện các hoạt động phòng chống HIV/AIDS, t vấn, giáo dục,
truyền thông cho mọi ngời hiểu rõ tác hại của căn bệnh thế kỷ này. Bảo đảm
sàng lọc 100% chai máu trớc khi truyền cho bệnh nhân.
Triển khai mạnh mẽ công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: tổ chức thẩm
định, quản lý hồ sơ, kiểm tra điều kiện vệ sinh tại các cơ sở sản xuất, chế
biến thực phẩm tại các chợ, nhà hàng, quán ăn...
19
Tăng cờng công tác giám sát dịch tễ, chủ động phòng chống dịch
bệnh, không để dịch lớn xảy ra trong điều kiện vệ sinh môi trờng còn ô
nhiễm, nhất là các bệnh sốt xuất huyết, viêm não, tả, lị...
Củng cố và phát triển các cơ sở y tế dự phòng.
*) Công tác khám, chữa bệnh.
Ngành y tế phải luôn nâng cao chất lợng công tác khám, chữa bệnh,
củng cố hệ thống labo, chẩn đoán hình ảnh, hồi sức cấp cứu... Phát triển hệ
thống phòng chống bệnh ung bớu, nâng cao năng lực quản lý các bệnh viện,
quản lý tài chính trong các cơ sở khám chữa bệnh.
Nâng cấp, xây dựng các cơ sở khám chữa bệnh bằng các nguồn lực tại
chỗ, trong nớc cũng nh đầu t nớc ngoài, trong đó có lựa chọn u tiên cho các
vùng tái lập, vùng trọng điểm.

trong từng năm, chú trọng thực hiện các mục tiêu dã cam kết với cộng đồng
Quốc tế.
Giám sát dịch tễ sốt rét, đặc biệt chú ý đến các vùng trọng điểm có
diễn biến bệnh dịch phức tạp, vùng có tỷ lệ mắc và chết cao, biến động dân c
lớn để phát hiện nguy cơ lớn để phát hiện nơi có nguy cơ dịch xảy ra nhất
trong mùa ma.
Xây dựng và củng cố hệ thống kiểm định xét nghiệm tại tuyến tỉnh,
kiểm tra chặt chẽ công tác thực hiện điều trị, mở rộng màng lới chống lao tới
các vùng sâu, vùng xa, cung cấp đầy đủ thuốc chống lao, cốc đờm, lam kính
và hoá chất xét nghiệm cho hoạt động chống lao.
Thành lập các dự án hành động và tổ chức các chiến dịch đặc biệt loại
trừ bệnh phong cho những địa phơng có tỷ lệ lu hành bệnh phong cao.
Tập trung chỉ đạo các tỉnh hoàn thành công tác huấn luyện chuyên
môn, nâng cao chất lợng tiêm chủng, xoá xã trắng về tiêm chủng mở rộng ở
các huyện vùng sâu, vùng xa. Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, Ngành trong
21
công tác chỉ đạo tiêm chủng mở rộng, trình Thủ tớng Chính phủ ra chỉ thị về
đẩy mạnh các hoạt động tiêm chủng mở rộng cho từng năm.
Đánh giá tỷ lệ suy dinh dỡng trẻ em theo từng vùng sinh thái và chung
cho toàn quốc và qua đó xác định u tiên để phấn đấu giảm tỷ lệ suy dinh d-
ỡng trẻ em ở mức cao nhất.
III. Sự cần thiết phải đầu t cho ngành y tế
Đầu t cho ngành y tế là cần thiết bắt nguồn từ vai trò, nhiệm vụ của
hoạt động y tế, từ thực trạng ngành y tế cũng nh từ vai trò của đầu t đối với
ngành y tế.
Nh đã nói ở trên, hoạt động y tế giữ vai trò hết sức quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Hoạt động y tế với chức năng chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân đã góp phần tích cực vào sự tiến bộ chung của
toàn xã hội. Trên thực tế, hoạt động y tế chỉ có thể đợc thực hiện và phát huy
đợc vai trò của mình khi có sự đầu t. Đầu t tạo ra những điều kiện cơ bản cần

bệnh, tiền thuốc mà trong thời gian nằm điều trị còn đợc nuôi ăn.
Trong điều kiện đất nớc tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, ph-
ơng thức quản lý trên là hoàn toàn phù hợp, đóng vai trò quan trọng trong
việc thiết lập và củng cố hệ thống y tế nớc ta, góp phần bảo vệ và chăm sóc
sức khoẻ nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và
chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam, thể hiện tính nhân đạo
của nền y tế xã hội chủ nghĩa. Nhng sau khi kết thúc chiến tranh, bớc vào
thời kỳ hoà bình xây dựng đất nớc, nhất là những năm gần đây khi chúng ta
chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị tr-
ờng, phơng thức trên đã bộc lộ nhiều hạn chế, tạo tâm lý ỷ lại vào ngân sách
nhà nớc. Cán bộ y tế chỉ biết trông chờ vào ngân sách đợc cấp, chi tiêu một
cách thụ động theo danh mục đợc áp đặt, thủ tiêu tính năng động sáng tạo
trong việc khai thác các nguồn kinh tế khác cũng nh tìm ra cơ chế sử dụng
kinh phí hợp lý để tăng cờng hiệu quả sử dụng. Ngời dân có thói quen đợc
phục vụ vô điều kiện mà không biết mình phải có trách nhiệm gì trong việc
đóng góp xây dựng ngành y tế và góp phần chăm lo đời sống của cán bộ y tế.
Năm 1986, Chính phủ đã khởi xớng một chơng trình cải cách kinh tế
trên quy mô lớn. Đây là chơng trình tất yếu phải đợc thực hiện khi mà nền
kinh tế vĩ mô bị lâm vào tình trạng sa sút và khủng hoảng kinh tế trầm trọng.
Sau năm 1979, nguồn tài trợ từ các nớc phơng Tây cho Việt Nam giảm mạnh.
24
Việc nguồn tài trợ từ các nớc phơng Tây giảm cùng với tình trạng cô lập về
chính trị của Việt Nam đã đến cùng với thời kỳ lạm phát trầm trọng và tình
trạng bất ổn của nền kinh tế vĩ mô khoảng đầu và giữa thập kỷ 1980. Nguồn
chi ngân sách Nhà nớc không thể giữ đợc tỷ lệ nh trớc đó và hầu hết các
ngành, đặc biệt là y tế và giáo giục đã phải cắt giảm phần lớn kinh phí.
Nhiều hoạt động đổi mới đã đợc áp dụng cho ngành y tế. Việc đa viện
phí vào áp dụng tại các cơ sở y tế công tuyến trên (bệnh viện), quy định về
pháp luật đối với các hoạt động hành nghề y tế t nhân, tự do hoá ngành công
nghiệp dợc và việc bỏ quy định trong bán lẻ thuốc và dợc phẩm là một số các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status