LỜI NÓI ĐẦU
Vốn là yếu tố bắt đầu của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của donh
nghiệp. Trong điều kiện giới hạn về nguồn lực sản xuất thì việc làm sao đẻ
quản lí và sử dụng vốn có hiệu quả trở thành một vấn đề được quan tâm hàng
đầu đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước.
Sau quá trình chuyển đổi từ cơ chế bao cấp, bao tiêu sản phẩm của nhà
nước sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề hiệu
quả trong kinh doanh đối với các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam còn nhiều
bất cập, nó trở thành vấn đề có tính thời sự. Do đó, việc nghiên cứu và phân
tích đanhg giá hiệu quả của viậc sử dụng vốn đối với các doanh nghiệp nhà
nước ở Việt Nam có ý nghĩa và vai trò quan trọng. Nó không những giúp cho
bản thân caca doanh nghiệp tìm cách sử dụng có hiệu quả hơn nguồn vốn hiện
có của mình, mà còn giúp cho cơ quan chủ quản của doanh nghiệp có các biện
pháp quản lí thích hợp .
Tổng công ty Than Việt Nam, một doanh nghiệp nhà nước cũng đang
đứng trước thách thức đó, phải làm sao quản lí và sử dụng nghuồn vốn nhà
nước giao có hiệu quả, làm thế nào để bảo toàn và phát triển được nguồn vốn là
câu hỏi thách thức đối với ban lãnh đạo TCT.
Đứng trước những yêu cầu và đòi hỏi đó, sau quá trình thực tập tại Tổng
công ty Than Việt Nam, được sự hướng dẫn của thầy giáo, Ths. và các cô chú
trong Tổng công ty, em đã mạnh dạn chọn đề tài :”Một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tạiTổng công ty Than Việt Nam ”.
Mục đích của chuyên đề này là nêu bật lên thực trạng về tinh hình sử
dụng vốn tại Tổng công ty Than Việt Nam, cả thành tích và những mặt còn
tồn tại, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử
dụng vốn của Tổng công ty.
Với mục đích trên chuyên đề gồm ba bộ phận chính sau:
Ch ương I: Lí luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Ch ương II : Thực trạng sử dụng vốn tại Tổng công ty Than Vệt
Nam
9
2.2. Chi phí vốn
13
TẦM QUAN TRỌNG CỦA VỐN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
16
II. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường.
16
1. Hiệu quả sử dụng vốn.
16
2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn của doang nghiệp .
17
2.1. Chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn .
17
2.2. Chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng VCĐ của doanh nghiệp.
19
2.3. Chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp.20
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn.
22
3.1. Nhân tố khách quan.
22
3.2. Nhân tố chủ quan.
23
III. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
25
1. Lựa chọn phương án kinh doanh, phương án sản phẩm.
25
2. Lựa chọn và sử dụng hợp lí các nguồn vốn.
1.2. Cơ cấu nguồn vốn đầu tư vào các loại tài sản.
41
2. Tình hình sử dụng vốn của TCT TVN.
44
2.1. Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn tại TCT TVN.
46
2.2. Hiệu quả sử dụng VLĐ tại TCT TVN.
48
2.3. Hiệu quả sử dụng VCĐ tại TCT TVN.
53
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại TCT TVN.
55
1. Kết quả đạt được và nguyên nhân.
55
1.1. Kết quả
55
1.2. Nguyên nhân dẫn đế thành công
57
2. Hạn chế và nguyên nhân
59
2.1. Hạn chế.
59
2.2. Nguyên nhân.
60
C HƯƠNG III :
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TẠI TCT TVN
63
Định hướng hoạt động của TCT TVN
63
70
3.4. Quản lí dự trữ định mức hàng hoá
72
3.5. Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu
73
3.6. Kế hoạch hoá việc sử dụng vốn
3.7. Thường xuyên đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ74
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại TCT TVN.
75
1. Tăng cưỡng nguồn VLĐ do nhà nước cấp
75
2. Ngân hàng cần thay đổi hạn mức tín dụng cho TCT
76
3. Tăng cường công tác quản lý thị trường của nhà nước
76
KẾT LUẬN
78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
79
CHƯƠNG I:
LÍ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA
DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.
1. Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân thực
hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích làm tăng giá
trị của chủ sở hữu.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp bao gồm các doanh
Đây là những vấn đề quan trọng nhất của doanh nghiệp liên quan
chặt chẽ đến việc quản lí và sử dụng các nguồn vốn.
Các doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể về quy trình công nghệ và
tính chất hoạt động. Sự khác biệt này phần lớn do đặc điểm kinh tế, kỹ
thuật của từng doanh nghiệp quy định. Nhưng chung quy lại thì hoạt động
của mỗi doanh nghiệp đều được thể hiện thông qua các yếu tố đầu vào và các
yếu tố đầu ra.
Hàng hoá và dịch vụ(yếu tố đầu vào)
Sản xuất - chuyển hoá
Hàng hoá và dịch vụ(yếu tố đầu ra)
Một yếu tố đầu vào hay một nhân tố sản xuất là một hàng hoá dịch
vụ mà các doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của
họ. Các nhân tố sản xuất được kết hợp với nhau để tạo ra hàng loạt các
hàng hoá dịch vụ có ích được tiêu dùng hoặc sử dụng trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Như vậy trong một thời kì nhất định các doanh nghiệp đã
chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra để trao đổi. Như vậy
các doanh nghiệp thực hiện trao đổi hàng hoá với thị trường cung cấp hàng
hoá và dịch vụ đầu vào hoặc với thị trường phân phối tiêu thụ hàng hoá và
dịch vụ đầu ra tuỳ thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh và sự
vận hành tài chính của doanh nghiệp được sinh ra từ quá trình trao đổi đó. Quá
trình này quyết định sự vận hành của sản xuất và làm thay đổi cơ cấu vốn của
doanh nghiệp.
1.3. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp.
Để đạt được mức doanh lợi mong muốn, doanh nghiệp phải có
những quy định về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình trao
đổi. Mọi quy định đều phải gắn liền với hệ thống luật pháp và sự hiểu biết
về môi trường xung quanh doanh nghiệp là môi trường kinh tế xã hội phức
tạp và luôn biến động. Doanh nghiệp phải làm chủ được và dự đoán trước
dược sự thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó.Trong môi
trường đó quan hệ tài chính của doanh nghiệp được thể hiện rất phong phú
quá trình sản xuất “. Định nghĩa của Mác có một tầm khái quát lớn vì nó
bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn.Tuy nhiên Mac mới chỉ bó hẹp
khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có qúa
trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.
♥ David - Begg trong cuốn “Kinh tế học” của mình, đã đưa ra hai
định nghĩa về vốn. Đó là vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp :
Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất
các hàng hoá khác.
Vốn tài chính là các giấy tờ có giá và tiền mặt của doanh nghiệp.
Như vậy David Begg đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.
♥ Thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả
các tài sản doanh nghiệp dùng trong sản xuất kinh doanh. Bởi vì mọi quá
trình sản xuất kinh doanh đều được khái quát :
T- H (TLLĐ, TLSX) - H’- T’
Để có các yếu tố đầu vào TLLĐ, TLSX thì doanh nghiệp phải có một
lượng tiền ứng trước, lượng tiền này gọi là vốn của doanh nghiệp và nó
được coi như là một hàng hoá đặc biệt.
Trước hết, vốn là hàng hoá vì nó có giá trị và giá trị sử dụng :
Gía trị của vốn được thể hiện ở chi phí mà chúng ta bỏ ra để có
được nó.
Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc ta sử dụng nó để đầu tư và
quá trình sản xuất kinh doanh – mua máy móc, vật tư, hàng hoá…
Vốn là hàng hoá đặc biệt bởi vì có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử
dụng và sở hữu. Khi mua nó chúng ta chỉ có quyền sử dụng chứ không có
quyền sở hữu. Vốn không bị hao mòn hữu hình trong quá trình sử dụng mà
còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó. Chính vì vậy,giá trị của
vốn phụ thuộc và rất nhiều yếu tố của môi trường kinh tế vĩ mô, nó không
phụ thuộc vào lợi ích cận biên của bất kì một doanh nghiệp nào. Điều này
đặt ra nhiệm vụ đối với các nhà quản trị tài chính là phải làm sao sử dụng
tối đa hiệu quả của vốn để đêm lại một giá trị thặng dư tối đa, đủ chi trả
Tín dụng ngân hàng: Các ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn
tức thời cho doanh nghiệp theo phương thức như cho vay theo từng món,
cho vay luân chuyển...
Nợ dài hạn gồm các khoản tín dụng dài hạn, vốn do phát hành
trái phiếu công ty...
Vốn chủ sở hữu gồm vốn do ngân sách cấp, vốn do thông qua
phát hành cổ phiếu, lợi nhuận giữ lại, thặng dư vốn...
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp thấy được cơ cấu và chi phí vốn của
mình, từ đó xác định được cơ cấu và chi phí vốn hợp lí với mức chi phí thấp nhất.
♥ Xét trên giác độ luân chuyển của vốn
Vốn gồm hai bộ phận vốn cố định và vốn lưu động
Vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm ,xây dựng
hay lắp đặt các tài sản cố định hữu hình và vô hình. Quy mô của vốn cố
định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của tài sản cố định từ đó ảnh hưởng
đến trình độ trang bị kĩ thuật và công nghệ năng lực sản xuất của doanh
nghiệp.
Ngược lại những đặc điểm kinh tế của tài sản cố định trong quá trình
sử dụng cũng có ảnh hưởng quyết định chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu
chuyển của vốn cố định. Chính vì vậy vốn cố định có những đặc thù sau:
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kì sản xuất sản phẩm.
- Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ
sản xuất, cấu thành nên chi phí sản xuất của sản phẩm(khấu hao).
- Sau nhiều chu kì sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng
luân chuyển (khấu hao hết).
Xuất phát từ những đặc điểm trên việc quản lí vốn cố định phải luôn
được gắn với việc quản lí hình thái hiện vật của nó là tài sản cố định
của doanh nghiệp.
Vốn lưu động là số tiền ứng trước hay đầu tư và tài sản lưu động
nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp diễn ra thường
xuyên liên tục. Quá trình này được gọi là quá trình tuần hoàn chu chuyển
Trong đó :
Kp: Chi phí của cổ phiếu ưu tiên
Dp: Cổ tức ưu tiên
Pn: Giá phát hành thuần (giá công ty nhận được sau khi trừ chi phí phát
hành).
2.2.3. Chi phí đối với lợi nhuận không chia (Ks): Là tỷ lệ cổ tức mà người
nắm giữ cổ phiếu thông thường yêu cầu đối với cổ phần mà công ty đạt
được bằng lợi nhuận không chia.
Ks =
RF
K
+ RP =
S
KgPD
.
=+
01
/
Trong đó :
Ks: Chi phí với lợi nhuận không chia
RF
K
:Lợi tức của một tài sản không có rủi ro
RP: Phần thưởng rủi ro
01
/ PD
:Mức sinh lời của cổ phiếu
g:Tỷ lệ tăng trưởng mong đợi
S
K
Nói chung công ty bắt đầu sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí thấp
nhất nhưng khi đã hết các nguồn tài trợ có chi phí thấp, công ty phải trông
cậy vào các nguồn vốn khác có chi phí rất cao. Câu hỏi đặt ra ở đây là tại
sao doanh nghiệp lại sẵn sàng bỏ ra chi phí để sử dụng vốn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh.
2.3. Tầm quan trọng của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải có
máy móc, nhà xưởng, các trang thiết bị kỹ thuật(TSCĐ), và các nguyên vật
liệu, vật tư, nhân công ...(TSLĐ). Đây chính là những dạng cụ thể của vốn
sản xuất kinh doanh. Như vậy vốn là điều kiền cần thiết là tiền đề cho sự
phát triển của doanh nghiệp. Nếu thiếu vốn thì quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp sẽ bị ngừng trệ thậm chí dẫn đến phá sản từ đó
kéo theo hàng loạt các tác động tiêu cực khác ảnh hưởng đến chính bản
thân doanh nghiệp và xã hội.
Để cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục và có kết quả
thì doanh nghiệp phải có đủ vốn để đầu tư vào các giai đoạn khác nhau của
quá trình sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp có đủ vốn thì mới làm ăn có
hiệu quả và ngược lại khi làm ăn có hiệu quả thì doanh nghiệp mới bảo
toàn và phát triển vốn đầy đủ.
Vốn được sử dụng vào hoạt động sản suất kinh doanh của doanh
nghiệp phải luôn có sẵn trước khi hoạt động này phát sinh. Đó là khoản
vốn mà doanh nghiệp phải ứng trước và nó tham gia vào tất cả các khâu
của quá trình sản xuất kinh doanh. Mỗi khâu được biểu hiện dưới những
hình thái khác nhau như vật tư, nguyên liệu, hàng hoá và cuối cùng lại trở
về hình thái ban đầu là tiền tệ.Như vậy sau một chu kỳ sản xuất vốn phải
được thu hồi để tiếp tục chu kỳ khác nếu không doanh nghiệp sẽ bị phá sản.
Nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải có các biện pháp quản lý vốn có
hiệu quả, đảm bảo vốn đầu tư dùng thời diểm, đúng chỗ từ đó giảm được
tối đa chi phí sử dụng vốn, năng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh