bài tiểu luận lạm phát thất nghiệp tác động và những giải pháp - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
&
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
LẠM PHÁT, THẤT NGHIỆP - TÁC
ĐỘNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
GVHD: TRẦN THỪA
TP HCM , ngày 20 tháng 10 năm 2010
LÔØI MÔÛ ÑAÀU
Lạm phát là một trong những vấn đề chính yếu ở tất cả các quốc gia phát
triển, đồng thời cũng là dấu hiệu đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi, từ hệ
thống kế hoạch hóa tập trung sang hệ thống kinh tế hỗn hợp.
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
Nhiều người coi lạm phát là một vấn đề xã hội lớn. Tất nhiên, các nhà hoạch
định chính sách kinh tế thường xuyên chăm chú theo dõi diễn biến của lạm
phát. Trong thập kỉ 70, tổng thống G. Pho tuyên bố “lạm phát là kẻ thù số
một của mọi người”. Vào những năm 1980, tổng thống R. Rigan gọi lạm phát
là “loại thuế tàn bạo nhất”. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy phần lớn dân
chúng cũng tin rằng lạm phát là kẻ thù nguy hại.
Thất nghiệp cũng là vấn đề kinh tế vĩ mô ảnh hưởng tới con người trực tiếp
nhất và nghiêm trọng nhất. Đối với mọi người, mất việc đồng nghĩa với tình
trạng giảm mức sống và sức ép tâm lí. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên
khi chúng ta thấy thất nghệp thường là chủ đề thường được nêu ra trong các
cuộc tranh luận chính trị. Nhiều nhà chính trị thường sử dụng chỉ số “bất
hạnh”- tính bằng tổng tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp- để phản ánh mức độ
lành mạnh của nền kinh tế và thành công hay thất bại của nền kinh tế.
Mặt khác giữa lạm phát và thất nghiệp thường có sự đánh đổi nhau: để giảm
lạm phát cần phải chấp nhận tăng thất nghiệp, muốn giảm thất nghiệp cần
phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nào đó. Nhưng cũng có lúc nền kinh tế vừa

giỏ hàng hóa và dịch vụ mà một hộ gia đình mua ở thời kì này so với thời kì
gốc. Hay CPI phản ánh tốc độ thay đổi giá trung bình của các mặt hàng tiêu
dùng chính trong nền kinh tế.
CPI=
Với : là khối lượng sản phẩm loại i mà một gia đình tiêu dùng ở năm gốc
: đơn giá sản phẩm loại i ở năm gốc
: đơn giá sản phẩm loại i ở năm t.
Để tính được chỉ số CPI, trước tiên tổng cục thống kê phải chọn năm gốc.
Sau đó xây dựng cơ cấu của giỏ hàng gồm số lượng chủng loại mặt hàng
và khối lượng mỗi mặt hàng. Cuối cùng thu thập giá cả của các hàng hóa ở
các thành phố điển hình, để tính giá bình quân cho từng loại hàng hóa áp
dụng trong công thức tính CPI.
Ví dụ: Giả sử giỏ hàng hóa để tính CPI chỉ gồm ba loại hàng hóa như sau:
Loại hàng Năm 2000 Năm 2008
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
hóa

Thực
phẩm
50 100 5000 150 7500
Quần áo 20 150 3000 300 6000
Giải trí 10 200 2000 500 5000
Tổng 10000 18500
Nếu năm 2000 được chọn làm năm gốc, CPI
2000
= 100
CPI
2008

Tổng 1.550.00
0
800.000
Giả sử năm 2000 được chọn làm năm gốc. Ta có GDP danh nghĩa năm 2008:
GDP thực năm 2008:
Nghĩa là mức giá trung bình của giỏ hàng hóa sản xuất năm 2008 bằng 1,9375
lần hay bằng 193,75% so với giá giỏ hàng hóa sản xuất ở năm gốc; hay giá của
giỏ hàng hóa sản xuất ở năm 2008 tăng 93,75% so với giá năm gốc.
Chỉ số giảm phát theo GDP phản ánh mức giá trung bình của tất cả các hàng
hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế, nên dùng để tính tỷ lệ lạm
phát tương đối chính xác, nhưng lại mất nhiều thời gian mới có được chỉ tiêu
GDP, không đáp ứng được yêu cầu tính tỷ lệ lạm phát thường xuyên hằng
tháng.
So sánh CPI và Id, ta thấy có ba điểm khác nhau:
 Thứ nhất, Id phản ánh mức giá trung bình của tất cả các hàng hóa và dịch
vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế; còn CPI chỉ phản ánh giá của những
hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng mua.
 Thứ hai, Id chỉ phản ánh giá của những hàng hóa sản xuất trong nước. do
đó, khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng lên, chỉ phản ánh trong CPI , không
được phản ánh trong Id.
 Thứ ba, CPI được tính bằng cách sử dụng giỏ hàng hóa cố định; trong khi Id
được tính bằng cách sử dụng giỏ hàng hóa thay đổi theo thời gian.
Cả hai đều có nhược điểm là CPI có xu hướng đánh giá quá cao sự gia tăng giá
sinh hoạt, trong khi Id lại có xu hướng đánh giá quá thấp sự gia tăng giá sinh
hoạt.
VÍ DỤ: Năm nay cam mất mùa, sản lượng thu hoạch giảm đáng kể. Giá cam
tăng vọt. Kết quả CPI tăng cao, còn Id không tăng đáng kể. Trong thực tế khi
giá cam quá đắt, người tiêu dùng sẽ giảm mua cam, tăng tiêu dùng các loại
trái cây thay thế khác.
Qua phân tích trên, chúng ta thấy tính lạm phát bằng Id sẽ chính xác hơn CPI,

• Ở Bolivia năm 1985 có tỷ lệ lạm phát là 12.000%/ năm người dân phải
thích nghi, tìm các đối phó để tồn tại. Chẳng hạn, một nhân viên khi lãnh
lương được 25 triệu peso, lập tức về nhà có vợ đang chờ sẳn, đưa cho vợ
tiền ra cửa hàng mua các nhu yếu phẩm trong tháng, số peso còn lại
người chồng lập tức đem đổi lấy đôla mỹ với giá 500.000 peso/USD. Nếu
chậm trễ, một tuần sau, tỷ giá tăng đến 900.000 peso/ USD. Tuy nhiên,
nếu so với cuộc siêu lạm phát xãy ra ở Đức năm 1921-1923 thì cuộc siêu
lạm phát của Bolivia chẳng đáng kể gì.
• Sau chiến tranh thế giớ thứ nhất, nền kinh tế Đức bị tàn phá nặng nề, sản
lượng giảm sút nghiêm trọng, ngân sách giảm mạnh, Để có tiền duy trì
bộ máy, chính phủ Đức đã phải phát hành một lượng tiền rất lớn, và kết
quả là giá cả hàng hóa tăng với tốc độ chóng mặt. Chính phủ phải mua
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
thêm nhiều máy in tiền, nhưng khối lượng tiền tăng lên vẫn chậm hơn tốc
độ tăng giá. Đến mức vào cuối giai đoạn siêu lạm phát, họ phải lấy những
đồng tiền trong kho đóng thêm vài con số 0 để phát hành. Thị trường tài
chính gần như tê liệt.
• Do tài trợ bằng cách in tiền mặt nên gây ra tình trạng siêu lạm phát. Để
thoát khỏi tình trạng này, chính phủ Đức đã cải cách tài chính và tiền tệ.
Cuối năm 1923, giảm 1/3 số lượng biên chế, đình lại các khoản bồi
thường chiến tranh, thành lập ngân hàng trung ương mới và cam kết
không tài trợ chi tiêu cho chính phủ bằng cách in tiền. Nhờ đó, cuối tháng
12/1923, lượng cung tiền và giá cả đột nhiên ổn định.
• Tình hình siêu lạm phát ở Zimbabwe hiện nay còn vượt xa Đức. Những
năm 1980, 1 đôla Zimbabwe có giá trị tương đương với 1 đôla Mỹ.
Nhưng đến tháng 7 năm 2008 tỷ giá chính thức mà ngân hàng công bố là
20 đôla Zimbabwe/ đôla Mỹ, còn tỷ giá ở thị trường chợ đen là 90 đôla
Zimbabwe/ đôla Mỹ. Ngân hàng liên tục phát hành giấy bạc mệnh giá

SAS
Yp
If cao
P1
If vừa
Y
P
AD0
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
 Ngân hàng trung ương tăng lượng cung tiền
 Người nước ngoài tăng mua hàng hóa và dịch vụ trong nước
Kết quả đường AD dịch chuyển sang phải, trong ngắn hạn sẽ làm cho sản
lượng tăng lên, đồng thời mức giá cũng tăng và tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm
xuống.
Trên đồ thị, khi đường AD dịch chuyển sang phải từ AD
o
sang AD
1
, kết quả
sản lượng Yo sẽ tăng lên Y1, mức giá sẽ tăng từ Po lên P1.
 Lạm phát do cung (còn được gọi là lạm phát do chi phí đẩy)
Xuất phát từ sự sụt giảm trong tổng cung, mà nguyên nhân chính là do
chi phí của nền sản xuất tăng lên khi:
 Tiền lương tăng lên trong khi năng suất lao động không đổi
 Thuế tăng, lãi suất tăng
 Thiên tai, mất mùa, chiến tranh
 Giá các nguyên, vật liệu chính tăng cao,
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
29

tiền tệ V cũng không đổi.
Từ (1) ta có thể viết lại: P = .
Với .V = P.Y
 Log (.V)= log (P.Y)
 Log ()+log(V) = log(P) + Log (Y)
 %∆ +% ∆V=%∆P +%∆Y (3)
Với giả thiết V và Y không đổi nên % ∆V=%∆Y= 0 => %∆=%∆P (3’)
Do đó nhóm nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ cổ điển cho rằng giá cả phụ
thuộc vào lượng tiền phát hành. Khi lượng cung tiền tăng lên thì mức giá cũng
tăng theo cùng tỷ lệ, lạm phát xảy ra. (Thuyết này chỉ đúng khi V và Y không
đổi).
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
Nhóm nhà kinh tế thuộc trường phái trọng tiền hiện đại, tiêu biểu là Milton
Friedman cho rằng: Khi dự đoán được tốc độ tăng trưởng của Y hằng năm và
tốc độ lưu thông tiền tệ ổn định, thì chúng ta có thể xác định tỷ lệ tăng lượng
cung tiền tương ứng mà không gây ra lạm phát. Do đó, ông đưa ra quy tắc tiền
tệ: Khi Y tăng theo tỷ lệ ổn định, thì chính sách tốt nhất là tăng lượng cung
tiền theo một tỷ lệ không đổi đã định thì P sẽ ổn định.
Tuy nhiên trong thực tế, tốc độ tăng trưởng của Y là không ổn định, tốc độ lưu
thông V cũng thay đổi, nên chỉ khi tốc độ tăng của khối tiền tệ hằng năm (,V)
nhanh hơn tốc độ tăng của Y thì P sẽ tăng lên và lạm phát sẽ xảy ra.
Dựa vào phương trình số lượng chúng ta có thể tính tỷ lệ lạm phát như sau:
%∆ +% ∆V=%∆P +%∆Y
 %∆P= %∆ + % ∆V - %∆Y
IV) Các yếu tố gây áp lực lạm phát
Trong khoảng thời gian từ thời điểm này đến cuối năm, nguy cơ lạm phát
có thể nằm ở những yếu tố sau.
Thứ nhất, nguy cơ lạm phát đến từ giá cả hàng hóa thế giới tăng. Trước sự

 Lạm phát ngoài dự đoán: còn được gọi là lạm phát không mong đợi, là tỷ
lệ lạm phát xảy ra nằm ngoài mức dự đoán, nên dạng lạm phát này không
được phản ánh trong các hợp đồng kinh tế.
Ngoài ra cần phân biệt hai loại lãi suất là lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực.
Lãi suất dannh nghĩa (r), là lãi suất cho vay trên thị trường.
Lãi suất thực (r
r
), là tỷ lệ phần trăm gia tăng sức mua của vốn.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực và tỷ lệ lạm phát được thể
hiện qua phương trình Fisher như sau: r= r
r
+ If
Lãi suất danh nghĩa có thể thay đổi do lãi suất thực thay đổi hay do tỷ lệ lạm
phát thay đổi. Khi tỷ lệ lạm phát tăng 1% thì lãi suất danh nghĩa cũng tăng
1%. Tỷ lệ một-một giữa tỷ lệ lạm phát và lãi suất danh nghĩa được gọi là
hiệu ứng Fisher.
Trong các hợp đồng vay mượn, do chưa biết được tỷ lệ lạm phát thực hiện (Ir)
nên lãi suất cho vay trên thị trường hay lãi suất danh nghĩa (r) được tính toán
dựa vào tỷ lệ lạm phát dự đoán (): r = +
Có hai trường hợp có thể xảy ra:
a) Nếu tỷ lệ lạm phát thực hiện bằng tỷ lệ lạm phát dự đoán thì lãi suất thực
hiện bằng lãi suất dự đoán; sẽ không xãy ra việc phân phối lại tài sản và
thu nhập giữa các thành phần dân cư.
Tuy nhiên vẫn gây ra một số tác động như:
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
 Chi phí mòn giày: do khi lạm phát cao xãy ra, để tránh thiệt hại, lượng tiền
mọi người cần giữ sẽ giảm thiểu và do đó số lần đi đến ngân hàng sẽ tăng
lên, hao tốn công sức và lãng phí thời gian.

hàng hóa và người trả lương.
+ Khi lạm phát xảy ra còn làm thay đổi cơ cấu kinh tế: vì giá các loại hàng
hóa tăng không cùng tỷ lệ, làm giá tương đối của các hàng hóa thay đổi, dẫn
đến cơ cấu kinh tế cũng thay đổi theo.
+ khi lạm phát xảy ra sẽ tác động đến sản lượng, việc làm và tỷ lệ thất nghiệp:
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
o Lạm phát do cầu: khi tổng cầu tăng lên làm giá cả tăng, đồng thời
sản lượng thường tăng, đồng thời sản lượng thường tăng, tỷ lệ thất
nghiệp giảm.
o Lạm phát do cung: khi tổng cung: khi tổng cung sụt giảm, mức
giá chúng tăng, sản lượng giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng.
Vì vậy, lạm phát có tác động:
Tác động phân phối lại thu nhập và của cải
Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm
Trong lĩnh vực lưu thông, kho vật giá tăng quá nhanh thì tình trạng đầu cơ,
tích trữ hàng hoá thường là hiện tượng phổ biến, gây nên mất cân đối giả
tạo làm cho lưu thông càng thêm rối loạn.
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, lạm phát xảy ra làm tăng tỷ giá
hối đoái. Sự mất giá của tiền trong nước so với ngoại tệ tạo điều kiện tăng
cường tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi cho hoạt
động của nhập khẩu.
Lạm phát cao và siêu lạm phát làm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi
vào tình trạng khủng hoảng.
VI) Biện pháp giảm lạm phát.
 Lạm phát do cầu: khi xảy ra lạm phát vừa, sẽ kích thích tăng trưởng kinh
tế, là loại lạm phát có lợi cho kinh tế. Chỉ khi xảy ra lạm phát cao, sản
lượng thực vượt quá sản lượng tiềm năng, nền kinh tế phát triển quá nóng,
phải tìm biện pháp giảm lạm phát,ổn định nền kinh tế là giảm tổng cầu,bằng

lực lượng lao động là: học sinh, sinh viên, người nội trợ, những người trong độ
tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không tìm việc làm.
c) Mức nhân dụng (còn gọi là tỉ lệ hữu nghiệp-L)
Mức nhân dụng là tỉ lệ phần trăm số người có việc làm chiếm trong lực lượng
lao động, và được xác định theo công thức :
L=
Mức nhân dụng sẽ quyết định mức sản lượng của nền kinh tế. Khi mức nhân
dụng tăng thì sản lượng cũng tăng lên và ngược lại.
d) Tỷ lệ thất nghiệp (hay mức khiếm dụng-U)
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
w
W0
W*
Thất nghiệp bắt buộc
LD
Thất nghiệp tự nhiên
L*
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người thất nghiệp chiếm trong lực lượng lao
động được tính theo công thức
U=
II) C ác dạng thất nghiệp
a) Căn cứ vào nguyên nhân gây ra, người ta chia thất nghiệp thành:
 Thất nghiệp tạm thời (còn được gọi là thất nghiệp cơ học) gồm những người
thay đổi nơi cư trú phải nghỉ việc nơi cũ và đang tìm việc làm ở nơi mới. Hai là
những học sinh sinh viên mới tốt nghiệp đang trong thời gian tìm việc. ngoài
ra, có những người do việc làm hiện tại không phù hợp với chuyên môn, năng
lực hay ý thích của mình, sẳn sàng nghỉ việc để tìm việc làm mới đúng chuyên
môn và sở thích để phát huy năng lực, góp phần tăng năng suất lao động, tăng

nhận, bao gồm thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu hay gọi chung là
thất nghiệp tự nguyện.
Trên đồ thị, tại mức lương cân bằng Wo, vẫn có EA người lao động không
muốn làm việc ở mức lương Wo. EA chính là mức thất nghiệp tự nhiên khi
thị trường lao động cân bằng.
III) T ác hại của thất nghiệp
 Đối với cá nhân người bị thất nghiệp
Khi bị thất nghiệp, cuộc sống của cá nhân và gia đình người bị
thất nghiệp sẽ khó khăn hơn, vì tiền trợ cấp thất nghiệp được hưởng
thường thấp hơn thu nhập khi có việc làm. Đặc biệt đối với những người
bị thất nghiệp không có khoản trợ cấp thất nghiệp thì cuộc sống của họ
càng khốn khó hơn. Khi bị thất nghiệp, kĩ năng chuyên môn của người
lao động bị mai một, mất niềm tin vào cuộc sống.
 Đối với xã hội
Khi thất nghiệp gia tăng thì tệ nạn xã hội và tội phạm cũng gia
tăng: chi phí giải quyết và chi trợ cấp thất nghiệp cũng tăng, trong khi
thu nhập từ thuế lại giảm do sản lượng sản xuất sụt giảm, hậu quả là
ngân sách càng bị thâm hụt.
 Tổn thất về sản lượng
Khi thất nghiệp tăng lên, đồng nghĩa với sự lãng phí tài nguyên,
mức nhân sự của nền kinh tế giảm xuống, do đó, sản lượng giảm xuống.
IV) B iện pháp giảm thất nghiệp
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
SP1(Un,Ife1)
Un
A
B
Un%
If%
Ifo

Yo
Y
Y’
E
E’
IP
P’
P
AD1
AD0
SAS0(Wo,Po)
Y
U’
U0
If
If0
If’
Un
SP (Un, If0e)
E0
E’
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
Chúng ta có thể giải thích mối quan hệ này bằng mô hình AS-AD qua hai đồ
thị sau
Trên đồ thị bên trái: đường SAS
0
được xây dựng với tiền lương danh nghĩa W
0
- tương ứng với tỷ lệ lạm phát dự đoán If

lên P’, tỷ lệ lạm phát tăng từ
If
0
lên If’, ứng với điểm E’(U’, If’) trên đường SP
0
.
Như vậy trong ngắn hạn, nếu lạm phát do cầu, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát
và thất nghiệp. Khi sản lượng quá thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao, muốn tăng sản
lượng và giảm thất nghiệp, thì cái giá phải trả là chấp nhận tỷ lệ lạm phát tăng
cao.
Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển quá nóng, sản lượng thực vượt mức sản
lượng tiềm năng và lạm phát cao, để giảm lạm phát thì phải chấp nhận sản
lượng sụt giảm, thất nghiệp gia tăng.
b)Trong dài hạn
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
P
AD2
Y
Yp
E
E1
P0
P1
AD1
LAS
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
Đường cong Philip dài hạn mô tả mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
trong dài hạn. Đường cong Philip dài hạn thẳng đứng ở mức thất nghiệp tự
nhiên (U

tuy vào một thời điểm nhất định tình hình kinh tế - xã hội và lạm phát đã được
cải thiện, nhưng lạm phát và khủng hoảng luôn như những căn bệnh âm ỷ,
những hiểm họa tiềm ẩn, chỉ một hai chục năm sau, khi có môi trường thuận
lợi là ngay lập tức bung ra, nổi lên gây hấn, từ lạm phát có thể dẫn đến khủng
hoảng, và ngược lại, khủng hoảng làm cho lạm phát trở nên trầm trọng hơn,
khó chữa hơn.
Từ những đặc điểm trên có thể thấy lạm phát hiện nay ở Việt Nam mang tính
chất nửa tốt, nửa xấu, cái chúng ta cần chống chính là chống cái nửa xấu của
lạm phát, trong khi vẫn cần tiếp tục thúc đẩy các mặt tốt của tăng trưởng kinh
tế.
Xét mức độ, từ năm 1976 đến nay lạm phát ở Việt Nam dâng lên cao nhất vào
những năm cuối thập niên 1970 - đầu thập niên 1980 với mức đỉnh điểm
khoảng 800%/năm. Mức này tuy chưa cao so với 4000 - 5000% ở một số
nước Mỹ Latinh thập niên 1970 - 80, hay hơn 10 triệu % như ở Dimbabuê,
châu Phi, trong những tháng giữa năm 2008, nhưng đã thuộc loại rất cao trên
thế giới. Từ khi đổi mới năm 1986, nhờ những nỗ lực phi thường, Việt Nam
đã hạ được mức lạm phát xuống một chữ số từ nửa cuối thập niên 1990 cho
đến năm 2006. Trong thời kỳ này có lúc lạm phát đã chuyển từ cực nọ sang
cực kia, năm 2000 đã chuyển thành giảm phát với mức tăng giá âm 0,6%. Đến
năm 2007 lạm phát dâng trở lại mức hai chữ số, ước tính có thể lên đến 24 -
25% năm 2008 và có xu hướng tiếp tục duy trì ở mức hai chữ số đến năm
2010 nếu chúng ta không có những giải pháp hữu hiệu để một lần nữa kéo lạm
phát xuống mức một chữ số.
Những động thái trên đây cho thấy rõ một số đặc điểm của lạm phát ở Việt
Nam trong các thời kỳ trước và sau đổi mới.
Thứ nhất, lạm phát ở Việt Nam trong hơn 30 năm qua thay đổi rất thất
thường, một số năm đã được cải thiện, nhưng không bền vững, số năm lạm
phát tăng từ hai đến ba chữ số chiếm 2/3 số thời gian, số năm một chữ số chỉ
chiếm khoảng 1/3 thời gian, có năm rớt xuống mức âm.
Thứ hai, trong thời kỳ trước và đầu những năm đổi mới, lạm phát ở nước ta

mạnh.
b. Nguyên nhân bên trong
♣ Chính sách tài khóa không hiệu quả là nguyên nhân rất quan trọng của căn
bệnh lạm phát ở nước ta. Để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế, Chính phủ đã có
những kế hoạch chi tiêu nâng cấp cơ sở hạ tầng của đất nước và liên tục bội
chi ngân sách trong nhiều năm trn 5% GDP (năm 2007 bội chi khoảng trên
56.000 tỷ đồng).
♣ Đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều cần thiết, nhưng đầu tư kém hiệu quả,
đầu tư dàn trải, gây lãng phí lớn trong thời gian dài là nguy hiểm cho nền kinh
tế nước, trong khi đồng lương của nhân dân lao động, những người công chức
nhà nước thì quá thấp so với thời giá, 30-40 năm làm việc trong cơ quan hành
chính, giáo dục, y tế… nhiều người không thể mơ nổi một căn nhà. Công tác
xây dựng, thẩm định, phê duyệt dự án, tổng dự án và thiết kế kỹ thuật quá
chậm trễ, thủ tục rườm rà và phức tạp.
♣ Việc chi tiêu thì không hiệu quả, tình trạng tham nhũng thì gia tăng đã hưởng
đến niềm tin của công chúng vào cơ chế và bộ máy điều hành của chúng ta.
Đảng và Nhà nước ta đã thấy và đang điều chỉnh, như thành lập cơ quan
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
chống tham nhũng, nhưng cần quyết liệt hơn. Trong năm 2007, và đầu năm
2008 Nhà nước chủ động thực hiện lộ trình điều chỉnh theo giá thị trường đối
với một số loại hàng hóa, vật tư cơ bản như: điện, xăng dầu, than,… làm ảnh
hưởng đến việc tăng giá các hàng hóa khác.
♣ Chính sách tiền tệ năm 2007 cũng có những vấn đề cần xem xét, cung tiền
(tổng phương tiện thanh toán) tăng nhanh năm 2005 là 23.4%, năm 2006 là
33.6%, năm 2007 là 53.8%, tổng cộng 3 năm cung tiền M2 tăng 134.2%,
trong khi 3 năm GDP chỉ tăng 25.09%. Chênh lệch giữa cung tiền tăng trong 3
năm qua (134.5%) với tăng trưởng kinh tế GDP (25.09%) là rất lớn, chắc chắn
sẽ đè nặng lên giá cả trong nước, và cuối năm 2007, đầu năm 2008 nó bộc

Trường ĐH kinh tế tp HCM
Về mặt chính sách, đầu năm 2008 Chính phủ Việt Nam đã đưa ra và yêu
cầu các bộ ngành thực hiên một “rổ” hay “cả gói” 5 loại biện pháp chống
lạm phát chính sau đây
 Thắt chặt tiền tệ đi đôi với sử dụng linh hoạt các công cụ tiền tệ.
 Mua ngoại tệ dự trữ đi đôi với việc rút tiền VNĐ về phù hợp với từng thời
điểm.
 Thực hiện chính sách tỷ giá đảm bảo giữ ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam
trên cơ sở khuyến khích xuất khẩu.
 Không để lãi xuất âm
 Củng cố và lành mạnh hóa hệ thống tổ chức tín dụng và các định chế tài
chính, kiểm soát cho vay kinh doanh chứng khoán, bất động sản và tiêu
dùng.
Đến giữa năm 2008, Chính phủ đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là ưu tiên
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm tốt an sinh xã hội, chấp
nhận giảm bớt một phần mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh để đảm bảo tăng
trưởng bền vững. Từ đây đã đưa vào thực hiện 8 nhóm giải pháp lớn bao gồm:
1 - Thắt chặt tiền tệ và bảo đảm thanh khoản.
2 - Cắt giảm đầu tư và nâng cao hiệu quả chi tiêu công.
3 - Tập trung phát triển sản xuất, dịch vụ, cân đối cung cầu hàng hóa, coi đây
là giải pháp gốc để kiềm chế lạm phát;
4 - Tăng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, giảm nhập siêu;
5 - Triệt để tiết kiệm sản xuất và tiêu dùng;
6 - Tăng cường quản lý thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu và gian lận thương
mại;
7 - Mở rộng diện thực hiện chính sách an sinh xã hội, ổn định đời sống và sản
xuất của nhân dân;
8 - Nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền.
Những giải pháp trên đây được xác định thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ
và toàn diện. Chủ trương như vậy, nhưng trong thực tế do cách hiểu giữa các

gây thiệt hại cho người mua. Tất nhiên, việc mua vàng còn có những nguyên
nhân khác, nhưng không thể phủ nhận cuộc ảo thuật tung hứng tiền tệ là một
tác nhân gây hại lớn, không những làm giảm lòng tin vào đồng tiền Việt Nam
mà giảm lòng tin cả vào hệ thống điều hành tiền tệ.
Vấn đề thứ hai là việc sử dụng công cụ lãi suất chưa thỏa đáng. Tuy Chính phủ
quyết định không để lãi suất âm, và trong thực tế Ngân hàng Nhà nước đã
quyết định cho tăng lãi suất tiền gửi lên trên mức 8% của năm 2007, nhưng
đồng thời lại cấm các ngân hàng thương mại nâng mức lãi suất tiền gửi huy
động lên trên mức 12%/năm. Nếu so với mức lạm phát bình quân năm 2007 là
12,6%, mức lạm phát trong tháng 1 và 2 năm 2008 ước tính tương đương
khoảng 14 - 15%/năm, thì rõ ràng lãi suất này chưa đạt được mức “không”, nói
gì đến dương! Mặc dù vậy, mức lãi suất 12% đã thu hút được một lượng khá
đông số người đến các ngân hàng thương mại để xếp hàng gửi tiền tiết kiệm
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
29
Trường ĐH kinh tế tp HCM
trong tháng 2 - 2008. Các tháng sau đó lãi xuất tiền gửi đã tăng thêm, nhưng
luôn luôn đi sau và thấp hơn mức lạm phát. Chẳng hạn khi lạm phát tăng lên
15% (tháng 3) thì mức lãi xuất được quy định là 11%, khi lạm phát dâng lên
25% (tháng 5) thì mức lãi xuất cơ bản được nâng lên 12% với biên độ +, -
50%, tối đa là 18%, luôn âm so với lạm phát. Mức tăng lãi xuất tiền gửi tuy đã
thu hút thêm số người gửi tiền vào ngân hàng, nhưng chưa đủ để thu lại hầu hết
lượng tiền lớn đã tung ra trong các năm trước đó, vì thế về căn bản chưa ngăn
chặn được lạm phát cao.
Điều này chứng tỏ giải pháp lãi suất dương không chỉ mang lại kết quả cao
trong thời kỳ chống lạm phát “phi mã” những năm cuối thập kỷ 1970 - đầu
thập kỷ 1980, mà còn có tác động rất tích cực cả đối với thời kỳ chống lạm
phát cao hiện nay, vì thế giải pháp này cần được thực hiện một cách tích cực.
Nếu tỷ lệ lãi suất được nâng lên mức dương 1 - 2% thì chắc chắn số người gửi
tiền nhàn rỗi vào ngân hàng sẽ còn tăng hơn nhiều, lượng tiền trôi nổi trong thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status