Tình hình quản lý và sử dụng vốn tại Công ty Xây dựng Công trình giao thông I - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đưa đất
nước đi lên một cách nhanh chóng và có hiệu quả thì đi đôi với việc ổn định
chính trị, nâng cấp cơ sở hạ tầng... Đòi hỏi nhất thiết phải đầu tư vào kinh tế và
nhất là doanh nghiệp với doanh nghiệp Nhà nước là chu đáo để thực hiện vai
trò này, trong những năm qua chính phủ và các cơ quan chức năng đã đánh giá
lại, bán khoán và cho thuê những doanh nghiệp Nhà nước yếu kém. Thực hiện
triệt để nguyên tắc hạch toán kế toán. đã tiến hành sản xuất kinh doanh thì mỗi
doanh nghiệp nhất thiết phải có một số lượng vốn nhất định và quan trọng hơn
là phải quản lý và sử dụng nó như thế nào để đem lại hiệu quả kinh tế. Vốn là
sự sống còn của doanh nghiệp, là cơ sở để xác định chỗ đứng của doanh nghiệp
trên thị trường, vì vậy mọi doanh nghiệp phải có nhiệm vụ huy động, tổ chức
và sử dụng các nguồn vốn phục vụ yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh
một cách hiệu quả nhất.
Trên cơ sở tái thiết đất nức, đưa đất nước tiến vào tương lai thì xây dựng
các công trình giao thông nói riêng và cơ sở hạ tầng nói chung phải được đầu
tư trước tiên, từ đó nẩy sinh một vấn đề tất yếu khách quan là khi nhu cầu xây
dựng càng lớn thì nhu cầu về nguyên vật liệu .... càng lớn và dễ đáp ứng được
các nhu cầu đó thì nhu cầu về vốn lại càng lớn. Đây là một trong những thách
thức mà ngành giao thông vận tải phải đương đầu.
Xuất phát từ nhận thức về vai trò của vốn và tầm quan trọng của việc
quản lý và sử dụng vốn. Sau khi thực tập tại: Tổng Công ty xây dựng Công ty
giao thông I . Tôi đã chọn đề tài."Tình hình quản lý và sử dụng vốn tại
Công ty xây dựng Công trình giao thông I" để nghiên cứu.
1
Ngoài lời mở đầu, mục lục và kết luận, chuyên đề gồm có 3 phần:
Ph ần I : Cơ sở lý luận chung về vốn
Ph ần II : Phân tích tìn hình quản lý và sử dụng vốn tại tại Tổng
Công ty xây dựng công trình giao thông I
Ph ần III : Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý và sử dụng vốn

động vốn bằng hình thái tiền tệ, ra đi rồi trở về điểm xuất phát của nó và lớn
lên về mặt giá trị sau mỗi chu kỳ vận động.
- Trên thực tế có ba phương thức vận động của vốn trong các doanh nghiệp
thương mại. Trong các doanh nghiệp thương mại vốn được chu chuyển qua hai
giai đoạn.
Ở giai đoạn I là giai đoạn mua hàng hoá, tức là biến tiền tệ thành hàng hoá
và ở giai đoạn II hàng hoá được bán ra, tức là biến hàng hoá thành tiền tệ. Theo
phương thức vận động này hàng hoá mua vào không phải để doanh nghiệp sử
dụng sản xuất mà bán để kiếm lợi.
Đây là phương thức vận động của vốn trong các doanh nghiệp sản xuất. ở
giai đoạn I doanh nghiệp bỏ vốn dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các chức
năng mua yếu tố sản xuất ( tư liệu sản xuất, sức lao động). Giai đoạn II vốn tồn
tại dưới hình thái vốn sản xuất tạo ra giá trị thặng dư. Giai đoạn III thực hiện
chức năng biến thành phẩm, hàng hoá trở lại hình thái tiền tệ ban đầu.
2 – Vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh:
Kinh doanh là hoạt động kiếm lời và lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của
4
TLSX

T – H ... SX … H’ – T’
SLĐ
mọi doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh
doanh thì vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp đó là phải có một số lượng vốn
nhất định. Vốn kết hợp với các yếu tố đầu vào khác của quá trình sản xuất
( lao động, tài nguyên thiên nhiên, kỷ thuật) để thực hiện quá trình sản xuất
kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi nhuận. Vốn là điều kiện tất yếu hàng đầu
để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn có vai trò quyết định việc ra
đời, tồn tại và phát triển hay phá sản của doanh nghiệp. Lượng vốn quyết định
quy mô sản xuất của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có lượng vốn lớn thì sẽ
tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô lớn và ngược lại lượng vốn

- Vốn pháp định: Là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh
nghiệp do pháp luật quy định đối với từng loại hình doanh nghiệp, ngành nghề,
lĩnh vực kinh doanh, dưới mức vốn pháp định thì không đủ điều kiện để thành
lập doanh nghiệp.
-Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp thực tếvà được ghi
vào điều lệ của doanh nghiệp. Tuỳ theo từng ngành nghề, hình thức sở hữu,
vốn điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định.
4. Căn cứ vào nguồn hình thành vốn.
6
Vốn được chia thành.
-Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn bắt buộc phải có khi đăng ký kinh
doanh thành lập doanh nghiệp.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn: Phần này là phần vốn đonh góp
của tất cả các thành viên khi thành lập công ty.
Đối với công ty cổ phần: Phần vốn này được biểu hiện dưới hình thức
vốn cổ phần, vốn cổ phần này do những người sáng lập công ty cổ phần phát
hành cổ phiếu để huy động vốn thông qua hình thức bán cổ phiếu.
Đối với doanh nghiệp nhà nước: đây là số vốn ban đầu được nhà nước
giao (Vốn nhân sách nhà nước).
Đối với doanh nghiệp tư nhân: đây là phần vốn do chủ đầu tư hay các
hội viên liên kết cùng nhau bỏ ra hình thành nên doanh nghiệp tư nhân (Vốn tự
có).
-Vốn bổ sung: đây là phần vốn do các doanh nghiệp trong qua trình hoạt
động sản xuất kinh doanh tiếp tục bổ sung vào vốn đầu tư ban đầu. Nguồn vốn
này co thể được trích từ lợi nhuận do làm ăn có lãi từ năm trước, do nhà nước
bổ sung, do đóng góp thêm của các thành viên, do phát hành thêm cổ phiếu,
trái phiếu.
-Vốn liên doanh: là số vốn do các bên tham gia liên doanh đóng góp
để tiến hành sản xuất kinh doanh một sản phẩm nào đó, hay cung ứng dịch vụ
trên thị trường để nhằm mục đích thu lợi nhuận.

động không ngừng và có tính chất chu kỳ.
-Vốn lưu động luôn luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần
vận động và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất và không
giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu.
-Vốn lưu động vận động nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào
việc xác định nhu cầu thường xuyên, tối thiểu về vốn lưu độnh, thời gian nằm
trong các khâu của quá trình sản xuất và lưu thônh có hợp lý hay không, số
lượng vật tư hàng hoá được sử dụng tiết kiệm hay không.
Do những đặc điểm trên đây việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động
, vốn lưu động sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình kinh doanh
của doanh nghiệp.Các doanh nghiệp phải áp dụng những biện pháp tối ưu để
quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và vốn
kinh doanh nói chung.
c. Thành phần của vốn lưu động.
Dựa theo vai trò của vốn lưu độngtrong quá trình sản xuât vốn lưu
động được chia làm hai loại, trong mỗi loại dựa theo công dụng của chúng
người ta chia chúng thành nhiều loại vốn nhỏ như sau:
* Vốn lưu động trong sản xuất: bao gồm vốn lưu động trong quá trình dự trữ
sản xuất và vốn lưu động nằm trong quá trình sản xuất trực tiếp.
+ Vốn lưu động trong quá trình dự trữ sản xuất :
9
Loại này bao gồm các khoản vốn sau:
- Vốn nguyên vật liệu chính: là số tiền biểu hiện giá trị của các loại
nguyên vật liệu chính dự trữ cho sản xuất. Nguyên vật liệu chính là các loại
nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành nên thực thể
vật chất của sản phẩm.
- Vốn vật liệu phụ: là giá trị những loại vật tư dự trữ dùng trong sản
xuất, khi tham gia vào quá trình sản xuất tạo sản phẩm vật liệu phụ tác động
đồng thời cùng với nguyên vật liệu chính nhưng không xuất hiện trên hình thái
của sản phẩm.

nhập kho để chuẩn bị cho quá trình tiêu thụ.
- Vốn tiền tệ: bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang
chuyển. Trong quá trình luân chuyển, vốn lưu động thường xuyên có một bộ
phận tồn tại dưới hình thái tiền tệ.
- Vốn thanh toán: bao gồm những khoản phải thu, các khoản tạm ứng
phát sinh trong quá trình mua bán vật tư, tiêu thụ sản phẩm.
- Việc xác định thành phần cơ cấu vốn lưu động theo vai trò của nó trong
quá trình sản xuất là ddiều rất cần thiết đối với các nhà quản lý nó giúp cho các
11
nhà quản lý đề ra các biện pháp thích hợp trong việc quản lý vốn lưu động,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động thông qua việc quản lý tốt quá trình
mua sắm, dự trữ vật tư, quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm.
5.2. Vốn cố định.
a. Định nghĩa vốn cố định.
Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về
tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong
nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh voàn thành một vòng luân chuyển khi tài sản
cố định hết thời gian sử dụng.
Vì vốn cố định là khoản vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định vì vậy
việc nghiên cứu vốn cố định trước hết phải nghiên cưu tính chất và đặc điểm
của tài sản cố định trong doanh nghiệp. Tài sản cố định của doanh nghiệp là
những tư liệu lao động chủ yếu có đặc điểm nổi bật là tham gia và nhiều chu kỳ
sản xuất kinh doanh. Trong quá trình đó , giá trị của tài sản cố định không bị
tiêu hao hoàn toàn trong lần sử dụng đầu tiên mà nó được chuyênr dịch dần dần
từng phần vào giá thành sản phẩm của các chu kỳ sản xuất tiếp theo.
b. Đặc điểm của vốn cố định trong các doanh nghiệp.
Vì vốn cố định là khoản vốn ứng trước để mua sắm tài sản cố định cho
nên đặc điểm vận động của tài sản định sẽ quyết định đặc điểm vận động của
vốn cố định. Dựa trên mối liên hệ đó có thể khái quát đặc điểm của vốn cố định
qua một số nét sau:

cứu cách phân loại và kết cấu của vốn cố định được tiến hành trên cơ sở được
phân loại và kết cấu của tài sản cố định.
• Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện : theo phương pháp này
toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiêp được chia thành 2 loại:
- Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao độnh chủ yếu của doanh
nghiệp có đặc điểm nổi bật là có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản
xuất kinh doanh, giữ nguyên được hình thái bên ngoài cho đến khi huỷ bỏ
không còn giá trị sử dụng. Loại này gồm: đất, nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc,
thiết bị; phương tiện vận tải truyền dẫn…
- Tài sản cố định vô hình: là những tài sản cố định không có hình thái vật
chất cụ thể, nó thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư, đã chi phí nhằm có
được các lợi ích hoặc các nguồn có tính chất kinh tế mà chúng xuất phát từ đặc
quyền, đặc lợi của doanh nghiệp.
Tài sản cố định của doanh nghiệp thuộc loại này gồm có: quyền sử dụng
đất; chi phí thành lập, chuẩn bị sản xuất; bằng phát minh, sáng chế…
Phương pháp phân loại tài sản cố định trên đây giúp cho nhà quản lý có
một cách nhìn tổng về cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp. Đây là một căn cứ quan
trọng để các nhà quản trị đưa ra các quyết định, chiến lược đầu tư hoặc điều
chỉnh đầu tư cho phù hợp với tình hình thực tế. Mặt khác, cũng nhờ phương
pháp phân loại này mà các nhà quản trị có thể đề ra các biện pháp quản lý tài
sản cố định, tính khấu hao, sử dụng vốn cố định chính xác, hợp lý và có hiệu
quả cao hơn.
14
• Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế:
Dựa theo cách phân loại này toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp sẽ
được chia làm 2 loại:
- Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản: l à những tài
sản cố định hữu hìnhvà vô hình tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh
doanh cơ bản của đơn vị.
- Tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản: thuộc loại này

a.Hệ số doanh lợi của vốn kinh doanh:
Hệ số doanh lợi
vốn kinh doanh
= Lợi nhuận vốn kinh doanh
Trong đó: +Lợi nhuận: có thể là lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế, lợi
tức gộp.
+Vốn kinh doanh: có thể là tổng số nguồn vốn, nguồn vốn chủ sở hữu,
vốn vay.
16
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn sử dụng vào kinh doanh đem lại
mấy đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả việc sử dụng vốn
kinh doanh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
b. Đánh giá khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu:
Hệ số doanh lợi của vốn
chủ sở hữu
=
Lãi ròng trước thuế
Vốn chủ sở hữu
= Doanh thu thuần vốn
chủ sở hữu
*
Lãi ròng trước thuế
Doanh thu thuần
= Hệ số quay vòng
của vốn chủ sở hữu
*
Hệ số doanh lợi
Doanh thu thuần
* Hệ số doanh lợi của vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởng của hai nhân tố:
- Thứ nhất: “Hệ số quay vòng của vốn chủ sở hữu” nhân tố này phản ánh

quả.
c. Hệ số hiệu quả sử dụng vốn định.

Hiệu quả
sử dụng vốn cố định
=
Lợi nhuận ròng trong kỳ
Số dư bình quân vốn cố định trong kỳ
Chi tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn cố đinh bình quân trong kỳ tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng.
3. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Trong nền kinh tế thị trường thì mục tiêu chủ yếu cuối cùng của doanh
nghiệp là đạt được lợi nhuận tối đa. Để đạt được mục tiêu đó ngoài việc doanh
nghiệp phải quản lý và sử dụng hiệu quả vốn cố định, doanh nghiệp phải hết
sức quan tâm đến vấn đề quản lý và sử dụng hiệu quả của vốn lưu động, góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung. Việc sử dụng vốn lưu động có
hiệu quả hay không được phản ánh khái quát qua một số chiêu như: tốc độ lưu
chuyển vốn lưu động , sức sản suất của vốn lưu động , sức sinh lời của vốn lưu
động.
18
a. Sức sản xuất của vốn lưu động .
Sức sản xuất
của vốn lưu động
=
Tổng doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chi tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn lưu động bình quân trong kỳ
đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần .
b. Sức sinh lời của vốn lưu động :
Sức sinh lợi

vòng . Thời gian của một vòng luân chuyển vốn lưu động càng thấp thì tốc độ
luân chuyển vốn lưu động càng lớn.
d. Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động:
Hệ số đảm nhiệm của
vốn lưu động
=
Vốn lưu động binh quân trong kỳ
Tổng số doanh thu thuần
Hệ số đam nhiêm của vốn lưu động (suất hao phí vốn lưu đông ) cho biết để
đạt được 1 doanh thu trong kỳ vần bao nhiêu đồng vốn lưu động . Hệ số này
càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiêm được càng
nhiều.
PHẦN II:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
VỐN TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG
CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 1
I – VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY
1- Lịch sử hình thành và phát triển.
Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 là một doanh nghiệp
Nhà nước, thành lập ngày 03 tháng 08 năm 1964, trực thuộc Bộ giao thông vận
tải. Là một Tổng công ty được thành lập theo quyết định 90 QĐ\TTg, Tổng
công ty xây dựng công trình giao thông 1 là sự hợp thành của nhiều công ty, xí
nghiệp, công trường giao thông vận tải vốn đã có truyền thống từ những năm
1950-1960.
20
Do phát triển nhanh chóng nên từ những năm đầu của thập kỷ 70,
Tổng công ty đã được giao thi công, xây dựng nhiều công trình cầu đường bộ,
đường sắt, nhà máy, đóng mới và sửa chữa tàu biển, nhà đân dụng... trên khắp
mọi miền đất nước. Trong thời kỳ này, Tổng công ty xây dựng công trình giao
thông 1 đã hợp tác xây dựng với các nước như: Trung Quốc, Triều Tiên, Liên

lớn mạnh tập trung ở hai công ty cầu 12 và cầu 14. Trong 35 năm qua, Tổng
công ty đã xây dựng hanhg trăm cây cầu với tất cả các kết cấu đã có ở Việt
Nam, bằng tất cả các giải pháp thi công hiện có. Một số công trình cầu như:
Cầu Chương Dương, cầu Phú Lương, cầu Hoà Bình, cầu Hoàng Thạch, cầu
Quán Toan, cầu Kroong...
- Xây dựng cảng: Trong lĩnh vực xây dựng Cảng, Tổng công ty có công ty
xây dựng công trình thuỷ bao gồm 8 xí nghiệp lớn nhỏ và các chi nhánh trực
thuộc tại Đà Nẵng, Bình Định, Vũng Tàu, và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài
ra các công ty cầu của Tổng công ty cũng tham gia xây dựng các Cảng lớn của
Việt Nam. Trong các năm qua Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1
đã xây dựng phần lớn các Cảng biển, Cảng sông, Cảng chuyên dùng cho các
ngành công nghiệp quốc phòng, năng lượng, và các cảng lớn trên toàn quốc.
- Xây dựng công trình đường sắt: Giao thông vận tải bằng đường sắt là
một ngành giao thông chiếm phần quan trọng không nhỏ trong việc giao lưu
phát triển kinh tế của các miền, làm giảm cước phí vận tải, tăng được số lượng
hàng hoá. Do vậy sẽ góp phần tăng nhanh lượng hàng hoá lưu thông trên thị
trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Với vai trò rất quan trọng của đường sắt
trong ngành giao thông vận tải, Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1
có công ty chuyên lắp đặt mới và đại tu, nâng cấp đường sắt,xây dựng nền và
22
mặt hầu hết các tuyến đường sắt quan trọng như: Bắc- Nam, Hà Nội – Lạng
Sơn,Lào Cai...
- Xây dựng sân bay: Ngay từ đầu thập kỷ 60, các lực lượng của Tổng công
ty đã tham gia xây dựng các công trình sân bay quân sự và sân bay dân dụng
góp phần bảo vệ đất nước. Và liên tục từ đó tơí nay Tổng công ty xây dựng
công trình giao thông 1 đã xây dựng tới 7 sân bay trong nước như: Sân bay
Kép Hà Bắc, sân bay Yên Bái, sân bay Nội Bài, sân bay Sao Vàng Thanh Hoá,
sân bay Đà Nẵng, sân bay Phú Bài, sân bay Điện Biên, và mới đây nhất là thi
công đường lăn đầu Đông, đầu Tây, nhà ga T1 sân bay Nội Bài và tham gia
đấu thầu các dự án xây dựng sân bay Tân Sơn Nhất.

cầu, cảng, sân bay... nên nó có những đặc điểm chung về sản phẩm của ngành
xây dựng. Sản phẩm xây dựng với tư cách là một công trình xây dựng hoàn
chỉnh thường có các đặc điểm sau:
- Sản phẩm xây dựng là các công trình được xây dựng tại chỗ, đứng cố
định tại địa điễm và phân bố tản mạn ở nhiều nơi. Đặc điểm này làm cho sản
xuất xây dựng có tính chất lưu động cao và thiếu ổn định dẫn tới chi phí cho
khâu vận chuyển máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, điều động nhân công cao,
từ đó nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng từng đồng vốn của doanh
nghiệp .
- Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn, giá trị rất cao, thời gian
thi công lâu và sử dụng lâu dài. Do đó những sai lầm về xây dựng có thể gây ra
sự lãng phí lớn, tồn tại lâu dài và khó sửa chữa. Điều này đẫn tới việc chi ra
một khoản để bảo hành các công trình đã hoàn thành (thường là 5% giá trị
thanh lý hợp đồng) gây ra tình trạng ứ đọng lãng phí vốn. Do vậy, làm giảm
hiệu quả sử dụng vốn cả Tổng công ty.
24
- Sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện khí hậu, địa hình
của địa phương và mang nhiều tính đa dạng, cá biệt cao về công dụng, cách
cấu tạo và phương pháp sản xuất. Do đặc điểm này mà chi phí cho việc khảo
sát, thiết kế, tìm kiếm nguồn nguyên liệu, thí nghiệm vật liệu, giao dịch với
khách hàng (các chủ đầu tư) là rất lớn. Do đó làm tốt công tác này sẽ tiết kiệm
được chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
- Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung
ứng nguyên vật liệu và cả về phương diện sử dụng sản phẩm của xây dựng làm
ra. Đặc điểm này yêu cầu Tổng công ty phải có sự hợp tác với các ngành có
liên quan thì mới đảm bảo được yêu cầu của chủ đầu tư, nâng cao uy tín của
Tổng công ty trên thị trường.
c. Đặc điểm về sản xuất trong xây dựng .
Không giống như các ngành sản xuất hàng hoá bình thường khác, doanh
nghiệp sản xuất trong lĩnh vực xây dựng các công trình giao thông có các đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status