Quy hoac̣ h chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 doc - Pdf 12

THUYẾT MINH TÓM TẮT
Quy hoạch chung xây dựng Tthủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
MỤC LỤC
I.PHẦN MỞ ĐẦU 4
1.1.Sự cần thiết của Quy hoạch chung 4
1.2.Các căn cứ lập Quy hoạch chung 4
1.3.Các giai đoạn quy hoạch 5
1.4.Phạm vi, ranh giới nghiên cứu quy hoạch 5
1.5.Quan điểm 5
1.6.Tầm nhìn 5
1.7.Mục tiêu và nhiệm vụ 5
1.8.Tính chất đô thị 6
II.ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG THỦ ĐÔ HÀ NỘI 6
2.1. Tổng quan phát triển Thủ đô Hà NộiHà Nội qua các thời kỳ 6
2.1.1. Quy hoạch đô thị Hà NộiHà Nội qua các thời kỳ 6
2.1.2.Đánh giá việc thực hiện Quy hoạch đã có 7
2.2. Đánh giá hiện trạng 7
2.2.1.Điều kiện tự nhiên và hiện trạng môi trường 7
2.2.2.Hiện trạng về kinh tế - dân số - đất đai 9
2.2.3.Hiện trạng hệ thống hạ tầng kinh tế 11
2.2.4.Hiện trạng hệ thống hạ tầng xã hội 12
2.2.5.Hiện trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật 17
2.2.6.Hiện trạng môi trường 24
2.2.7.Hiện trạng công tác lập và triển khai thực hiện quy hoạch 26
2.2.8.Hiện trạng quản lý đô thị 26
2.3. Rà soát các dự án, đồ án 27
2.4. Đánh giá hiện trạng phát triển đô thị Hà NộiHà Nội 27
2.4.1.Những ưu thế và tồn tại chính 27
2.4.2.Cơ hội và thách thức 28
2.5. Các vấn đề cần giải quyết trong Quy hoạch chung 28
III.KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 28

6.1.4.7. Quy hoạch hai bên sông Hồng 44
6.2. Đô thị trung tâm 45
6.2.1.Khu vực nội đô 45
6.2.2.Chuỗi khu đô thị phía Đông vành đai 4 (khu vực phía Nam sông Hồng) 47
6.2.3.Chuỗi khu đô thị phía Bắc sông Hồng: 47
6.3. Đô thị vệ tinh 48
6.3.1.Đô thị vệ tinh Sóc Sơn: 49
6.3.2.Đô thị vệ tinh Sơn Tây 49
6.3.3.Đô thị vệ tinh Hòa Lạc 50
6.3.4.Đô thị vệ tinh Xuân Mai 50
6.3.5.Đô thị vệ tinh Phú Xuyên 50
6.4. Thị trấn 51
6.4.1.Tổng quan chung 51
6.4.2.Định hướng phát triển chung 51
6.4.3.Các thị trấn nằm trong vùng đô thị hóa 51
6.4.4.Thị trấn sinh thái Phúc Thọ, Quốc Oai và Chúc Sơn 52
6.4.5.Các thị trấn huyện lỵ 53
VII.QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 53
7.1. Quan điểm sử dụng đất 53
7.2. Chỉ tiêu sử dụng đất 53
7.2.1.Nguyên tắc 53
7.2.2.Căn cứ xác định chỉ tiêu sử dụng đất 53
7.3. Quy hoạch sử dụng đất 54
7.3.1.Nhu cầu mở rộng quỹ đất phát triển đô thị 54
7.3.2.Tổng hợp đất xây dựng tại thành thị - nông thôn 55
VIII.ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH HỆ THỐNG HẠ TẦNG KINH TẾ VÀ HẠ TẦNG XÃ
HỘI 59
8.1. Định hướng quy hoạch hệ thống hạ tầng kinh tế 59
8.1.1.Định hướng quy hoạch hệ thống công nghiệp 59
8.1.2.Định hướng quy hoạch hệ thống dịch vụ thương mại 61

10.1.3.Dự báo phát triển và nhu cầu vận tải 74
10.1.4.Giao thông đường bộ 74
10.1.5.Giao thông đường sắt 76
10.1.6. Giao thông hàng không 77
10.1.7.Giao thông đường thuỷ. 78
10.1.8.Các trung tâm tiếp vận liên kết giữa các phương thức vận tải: 78
10.1.9.Tổng hợp khối lượng và nhu cầu vốn đầu tư xây dựng 78
10.2. Định hướng quy hoạch Chuẩn bị kỹ thuật 79
10.2.1.Quy hoạch phòng chống chống lũ: 79
10.2.2.Định hướng quy hoạch san nền 80
10.2.3.Định hướng quy hoạch Thoát nước mưa 80
10.2.4.Các công tác chuẩn bị kỹ thuật khác: 82
10.2.5.Giải pháp định hướng cụ thể cho từng đô thị 82
10.2.6. Kiến nghị và tồn tại: 87
10.3. Định hướng quy hoạch Cấp nước 88
10.3.1.Cơ sở pháp lý 88
10.3.2.Tiêu chuẩn và nhu cầu cấp nước 88
10.3.3.Định hướng quy hoạch cấp nước 88
10.3.4.Quy hoạch cấp nước sau năm 2030 91
10.3.5.Kiến nghị 91
10.4. Định hướng quy hoạch Cấp điện, chiếu sáng đô thị 91
10.4.1.Căn cứ thiết kế 91
10.4.2.Dự báo nhu cầu điện 91
10.4.3.Định hướng chung 91
10.4.4. Nguồn điện vùng thủ đô Hà NộiHà Nội đến 2030 92
10.4.5.Sơ đồ phát triển lưới điện 500KV đến 2030 92
10.4.6.Sơ đồ phát triển lưới điện 220KV đến 2030 93
10.4.7.Định hướng cấp điện sau giai đoạn 2030 94
10.4.8.Chiếu sáng đô thị 94
10.4.9.Kiến nghị 95

XIII.TÀI CHÍNH VÀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH 109
13.1. Tài chính đô thị 109
13.1.1.Đánh giá 109
13.1.2. Tổng chi phí đầu tư 110
13.1.3. Các giải pháp huy động vốn: 111
13.1.4. Phân kỳ phát triển 111
13.1.5. Quản lý nguồn vốn đầu tư 113
13.1.6. Phối hợp 114
13.2. Đề xuất cơ chế chính sách 115
XIV.THIẾT KẾ ĐÔ THỊ 115
14.1. Mục tiêu và nguyên tắc thiết kế 115
14.1.1.Mục tiêu 115
14.1.2.Các nguyên tắc thiết kế đô thị 115
14.2. Các giải pháp chung 116
2
THUYẾT MINH TÓM TẮT
Quy hoạch chung xây dựng Tthủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
14.2.1.Ý tưởng thiết kế đô thị 116
14.2.2.Cấu trúc cảnh quan đô thị 116
14.2.3.Phân vùng kiến trúc cảnh quan 117
14.2.4.Kiểm soát bảo vệ di sản, di tích lịch sử văn hóa 118
14.2.5.Kiểm soát phát triển các vùng cảnh quan tự nhiên 118
14.2.6.Kiểm soát phát triển trên các trục giao thông chính đô thị 119
14.2.7.Kiểm soát phát triển các không gian công cộng đô thị 119
14.3. Đề xuất giải pháp cụ thể cho các khu vực chức năng đặc thù 120
XV.QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐỢT ĐẦU (GIAI ĐOẠN 2010-2020) 122
15.1. Mục tiêu quy hoạch 122
15.2. Định hướng phát triển không gian đợt đầu 123
15.2.1.Nguyên tắc quy hoạch 123
15.2.2.Định hướng phát triển không gian đợt đầu 123

Công tác quản lý và phát triển đô thị tại Hà NộiHà Nội cũ đã và đang tiến hành theo Đồ án “ Điều chỉnh
Quy hoạch chung thủ đô Hà NộiHà Nội đến năm 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1998,
gọi tắt là “quy hoạch 108”, tại Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg.
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước và Thành
phố, Hà NộiHà Nội đã thu hút nhiều dự án đầu tư lớn ở cấp quốc gia và địa phương với sự tham gia của
nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước. Sau hơn 10 năm thực hiện theo quy hoạch 108 đã đạt những
thành tựu đáng kể, nhiều khu nhà ở, khu thương mại, văn hóa, thể thao, dịch vụ khách sạn, nhiều tuyến
đường đã và đang hình thành như: Trung tâm Hội nghị Quốc gia, tòa tháp văn phòng, khu liên hợp thể
thao quốc gia, khu Trung Hòa - Nhân Chính, khu nhà ở Linh Đàm tạo nên sự thay đổi lớn về hình ảnh
đô thị, đáp ứng một phần nhu cầu quỹ nhà ở, tạo đà kích thích sự phát triển Thủ đô. Với tốc độ đô thị hóa
nhanh chóng trong những năm vừa qua, đã hơn 5 lần Thủ tướng Chính phủ cho phép điều chỉnh, mở
rộng quy mô đất phát triển đô thị so với quy hoạch 108.
Tuy nhiên quá trình phát triển đô thị còn nhiều bất cập, công tác quản lý đô thị chưa theo kịp tốc độ đô
thị hóa. Nguồn lực đầu tư của nhà nước còn hạn hẹp, hệ thống hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng đủ nhu cầu
đầu tư, công tác đền bù giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, việc thu hút đầu tư không tập trung,
dàn trải gây ô nhiễm môi trường, lãng phí đất đai và nguồn lực đầu tư.
Cùng với việc tập trung nhiều cơ sở cấp trung ương, trường đào tạo, công nghiệp… trong trung tâm
thành phố đã thu hút nhiều người đến lao động và sinh hoạt, trong những năm vừa qua tốc độ phát triển
kinh tế cao hàng năm của Hà NộiHà Nội là một trong những thành phố đứng đầu của quốc gia, cùng với
Luật cư trú ra đời đã tạo điều kiện thu hút nhiều lao động và di dân từ các khu vực khác vào thành phố để
sinh sống, tạo nên tình trạng tăng trưởng dân số quá mức, gây nên sự quá tải cho hệ thống hạ tầng xã hội,
hạ tầng kỹ thuật: dịch vụ y tế, cơ sở giáo dục, vui chơi giải trí, TDTT; cấp điện, cấp nước, thoát nước,
đặc biệt là hệ thống giao thông quá tải gây ùn tắc nghiêm trọng, thiếu nhà máy xử lý nước thải và nhà
máy xử lý chất thải rắn…
Việc mở rộng quy mô của thành phố Hà NộiHà Nội mới trên cơ sở sát nhập từ đơn vị hành chính Hà
NộiHà Nội cũ, tỉnh Hà Tây và một phần các tỉnh Hòa Bình,Vĩnh Phúc cũng đặt ra cho Hà NộiHà Nội
những yêu cầu phát triển mới. Sau khi sát nhập, nhiều sự biến động về kinh tế, xã hội, văn hóa, đặc biệt
về không gian đô thị, hạ tầng đô thị, mô hình phát triển và nhiều vấn đề khác. Quy hoạch chung Hà
NộiHà Nội cần phải xem xét lại để đáp ứng những yêu cầu mới và phù hợp với bối cảnh phát triển của
Quốc gia và của Thủ đô.

Quy hoạch chung đường Hồ Chí Minh
Quy hoạch chung huyện Mê Linh
Quy hoạch chung chuỗi đô thị Miếu Môn-Xuân Mai-Hòa Lạc-Sơn Tây
- Các bản đồ đo đạc địa hình tỉ lệ 1/10.000, 1/25.000, 1/50.000, 1/100.000
- Bản đồ GIS.
b. Các văn bản đóng góp ý kiến.
- Thông báo số 279/TB-VPCP ngày 8/9/2009 về Kết luận của TTCP tại cuộc họp Thường trực Chính
phủ về đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
(Báo cao III)
- Thông báo kết luận của TTCP tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về đồ án Quy hoạch chung xây
dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, lần 1: ngày 24/04/2009, lần 2: ngày
21/08/2009, lần 3: ngày 26/11/2009.
- Thông báo số 29/TB-VPCP ngày 1/2/2010 về Kết luận của TTCP tại cuộc họp Thường trực Chính
phủ về đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
- Nghị quyết số 12/NQ- CP ngày 07/3/2010 của Chính phủ giao nhiệm vụ cho một số Bộ, Ngành
liên quan triển khai các công việc tiếp theo về về đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội
đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050,
- Ý kiến đóng góp của các Hội nghề nghiệp.
- Ý kiến đóng góp của nhân dân tại Hà NộiHà Nội từ ngày 21/4-04/5/2010 và tại Thành phố Hồ Chí
Minh từ ngày 27/6-04/07/2010 do Bộ Xây dựng và UBND Thành phố Hà NộiHà Nội thực hiện.
- Hội đồng thẩm định Nhà nước.
- Tư vấn phản biện Worley Parsons của Úc.
- Tư vấn phản biện chuyên gia Vùng Ile de France của Pháp.
4
THUYẾT MINH TÓM TẮT
Quy hoạch chung xây dựng Tthủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
- Thành ủy Hà NộiHà Nội.
- Hội đồng nhân dân thành phố Hà NộiHà Nội.
- UBND thành phố Hà NộiHà Nội.
- Uỷ ban Kinh tế Quốc hội.

Dân số: 6.472.200 người (theo niên giám Thống kê toàn quốc năm 2009)
b. Phạm vi nghiên cứu gián tiếp:
Thủ đô Hà NộiHà Nội được nghiên cứu trong mối quan hệ vùng nhằm xác định vai trò vị thế của Thủ đô
với tư cách là đô thị động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội các tỉnh trong vùng. Nghiên cứu các mối
quan hệ, chia sẻ chức năng về phát triển đô thị, công nghiệp, giáo dục, y tế phát triển hạ tầng kỹ thuật
khung, đảm bảo cho Thủ đô Hà NộiHà Nội và các đô thị trong vùng phát triển năng động và hiệu quả.
Phạm vi nghiên cứu bao gồm 15 tỉnh và thành phố thuộc Vùng Hà NộiHà Nội, vùng đồng bằng sông
Hồng, Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và các tỉnh liên quan khác: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nam, Hà
NộiHà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hòa Bình, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ,
Quảng Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên.
1.5. Quan điểm.
- Nâng cao vị thế của Thủ đô Hà NộiHà Nội trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương để Hà NộiHà
Nội xứng đáng là Thủ đô của một nước có trên 100 triệu dân ở thế kỷ 21.
- Phát triển Thủ đô Hà NộiHà Nội đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển hệ thống đô thị toàn
quốc, hệ thống đô thị vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và vùng Thủ đô Hà NộiHà Nội; xây dựng
Hà NộiHà Nội trở thành động lực thúc đẩy kinh tế-xã hội các vùng khác trong cả nước.
- Quy hoạch đô thị Hà NộiHà Nội đáp ứng yêu cầu nhội nhập và thu hút đầu tư; đảm bảo tính linh hoạt
và hiệu quả của nền kinh tế thị trường; ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực tạo thế và lực xây dựng
kết cấu hạ tầng kỹ thuật khung và ngành kinh tế mũi nhọn tạo động lực phát triển Thủ đô; gắn kết
chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển các lĩnh vực xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, văn
hóa, hạ tầng kỹ thuật với quản lý đô thị theo quy hoạch.
- Phát triển Thủ đô Hà NộiHà Nội bền vững, gắn kết giữa phát triển kinh tế với sử dụng tiết kiệm tài
nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái và văn hóa lịch sử truyền thống. Tạo lập diện mạo kiến trúc đô
thị đặc trưng của Thủ đô ngàn năm văn hiến.
- Phát triển Thủ đô gắn với ổn định chính trị và an ninh quốc phòng.
- Nghiên cứu Quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà NộiHà Nội toàn diện trên nhiều lĩnh vực đảm bảo phát
triển kinh tế, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ.
1.6. Tầm nhìn.
Thủ đô Hà NộiHà Nội mở rộng qui hoạch tới năm 2030 và hướng tới tầm nhìn 2050 là trung tâm chính
trị - hành chính của Quốc gia; trung tâm lớn về văn hoá - khoa học - đào tạo - kinh tế, du lịch và

tinh hoa văn hóa truyền thống của Thủ đô ngàn năm văn hiến.
(3) Xây dựng Thủ đô Hà NộiHà Nội đạt hiệu quả trong sử dụng đất đai và có hệ thống hạ tầng kĩ thuật
đồng bộ, hiện đại, môi trường bền vững.
b. Nhiệm vụ
(1) Cụ thể hóa Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố Hà NộiHà Nội đến năm 2020,
định hướng đến năm 2030
1
.
Bảng 1: Các chỉ tiêu cho giai đoạn 2020 và giai đoạn 2030
Các chỉ tiêu Giai đoạn đến 2020 Giai đoạn đến 2030
Về kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng GDP 11-12% 9,5-10%
GDP bình quân đầu người của Hà nộiHà Nội 7.100-7.500USD 16.000-17.000 USD
Cơ cấu kinh tế GDP (dịch vụ/công nghiệp - xây dựng/nông
nghiệp)
55,5-56,5%; 41-42%; 2-2,5%
58,5-59,4%; 39,6-40,3%;
1,0-1,2%
Về xã hội:
Tỷ lệ lao động qua đào tạo 70-75% 80%
Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 1,4-1,5% 1%
Tỷ lệ đô thị hóa 58-60% 65-68%
Số trường học đạt chuẩn quốc gia 65-70% >70%
Về hạ tầng:
Phát triển giao thông công cộng đáp ứng 35% 40%
Mật độ thuê bao Internet 38-40%. 80%
Cải tạo và xây dựng hệ thống thoát nước 100% 100%
Nước thải sinh hoạt được xử lý 80% 90%
Thu gom và xử lý chất toàn bộ rác thải khu vực nội thành 100% 100%
Thu gom và xử lý chất toàn bộ rác thải khu vực ngoại thành 80% 90%

2.1.1. Quy hoạch đô thị Hà NộiHà Nội qua các thời kỳ
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, quá trình đô thị hoá của thủ đô Hà NộiHà Nội đã trải qua
nhiều thay đổi. Điểm lại quá trình xây dựng phát triển Thủ đô và các ý tưởng chủ đạo của các quy hoạch
Hà NộiHà Nội trong từng thời kỳ chính như sau:
• Trước năm 1954, người Pháp đã nhiều lần lập quy hoạch cho Thủ đô Hà NộiHà Nội, với cấu trúc
mạng lưới phố xá ô bàn cờ. Quy hoạch này đã thực hiện trên diện tích khoảng 45km
2
, quy mô
khoảng 300.000 người đã mang lại những tiện ích lúc đương thời và cho đến tận ngày nay. Để thực
hiện theo quy hoạch đó người Pháp cũng đã lấp nhiều hồ ao, xóa bỏ nhiều làng mạc, di dời nhiều dân
cư và cũng làm ảnh hưởng đến nhiều công trình tôn giáo tín ngưỡng. Phố cổ và phố cũ của Hà NộiHà
Nội còn tồn tại đến nay là sản phẩm của công tác quy hoạch và cải tạo chỉnh trang đô thị từ thời kỳ
1900-1926. Đây cũng là di sản kiến trúc-đô thị đặc thù của Thủ đô Hà NộiHà Nội với nhiều công
trình kiến trúc và cấu trúc đô thị có nhiều giá trị văn hoá - lịch sử cần phải được bảo vệ.
• Từ năm 1954-1998, Thủ đô Hà Nội đã nhiều lần lập và điều chỉnh quy hoạch để phù hợp với điều
kiện kinh tế xã hội của Thủ đô trong từng giai đoạn. Qua mỗi lần lập và điều chỉnh quy hoạch đều
dựa trên nguyên tắc kế thừa, phát huy những mặt tích cực của quy hoạch lần trước; có điều chỉnh và
bổ sung cho phù hợp. Trong đó:
• Quy hoạch Hà NộiHà Nội thời kỳ 1960-1962: Hà NộiHà Nội tập trung phát triển phía Nam sông
Hồng với quy mô khoảng 1,0 triệu người, diện tích khoảng 200km2. Năm 1964, chiến tranh phá hoại
lan ra miền Bắc, nên quy hoạch thời kỳ này tạm thời chưa thực hiện được.
• Quy hoạch Hà NộiHà Nội thời kỳ 1976-1981 (Quyết định số 100/TTg ngày 24/4/1981 của TTCP).
Sau ngày thống nhất đất nước, Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô được Nhà nước chỉ đạo lập Định
hướng phát triển không gian Thủ đô đến thời hạn năm 2000, quy mô dân số khoảng 1,5 triệu người,
quy mô đất đai khoảng 135,5km2 phát triển chủ yếu về phía Nam sông Hồng, 1 phần ở cửa ngõ phía
Bắc Thủ đô hướng lên sân bay quốc tế Nội Bài và cửa ngõ phía Đông khu vực quận Long Biên hiện
nay. Lấy hồ Tây làm trọng tâm bố cục không gian, hình thành hệ thống trung tâm bao gồm: Từ khu
vực 36 phố phường, trung tâm chính trị Ba Đình, hành chính thương mại thành phố phía Nam hồ
Tây, khu Ngoại giao đoàn phía Tây hồ Tây. Trung tâm hội nghị quốc gia, triển lãm quốc gia và trung
tâm TDTT ở phía Nam thành phố (trước đó đã có phương án phát triển Vĩnh Yên làm đô thị vệ tinh

thay đổi căn bản bộ mặt đô thị của Thành phố Hà nộiHà Nội, Thành phố được mở rộng trên 50%
diện tích dự báo cho phát triển khu vực Thành phố trung tâm. Tuy nhiên, sự phát triển và quá trình
hoàn thiện bộ mặt đô thị không chỉ do quy hoạch mà nó còn tuỳ thuộc vào năng lực quản lý và nguồn
lực đầu tư.
Thực trạng hiện nay ở Thành phố Hà nộiHà Nội còn đang tồn tại nổi cộm một số vấn đề mà quá trình
thực hiện quy hoạch theo QĐ 108/1998/QĐ-TTg vừa qua chưa giải quyết được, đó là:
- Quá trình đô thị hoá tăng nhanh với sự tăng trưởng cao về kinh tế, dư thừa lao động ngoại thành,
chênh lệch mức sống giữa đô thị và các vùng xung quanh. Dẫn đến quá trình dịch cư từ khu vực nông
thôn và các tỉnh lân cận vào Hà nộiHà Nội, tìm kiếm công ăn việc làm, chất tải lên hệ thống hạ tầng
xã hội và hạ tầng kỹ thuật đô thị. Vì vậy khu vực trung tâm không thể kiểm soát nổi, nó phá vỡ quy
mô, cơ cấu dân số đã dự báo.
- Sự gia tăng dân số thiếu kiểm soát, đặc biệt tập trung vào khu vực trung tâm dẫn đến sức ép làm quá
tải hệ thống HTXH, HTKT đô thị.
- Đô thị hoá tăng nhanh cũng đồng nghĩa với những thách thức về môi trường đang đặt ra hàng ngày
đối với các nhà quản lý, hoạch định chính sách như: Sự quá tải đã là nguy cơ thực tế, tình trạng tắc
đường, úng ngập, ô nhiễm bụi, tiếng ồn, không khí, nguồn nước đang ngày càng bức xúc.
- Sự đầu tư còn dàn trải, thiếu hệ thống dẫn đến diện mạo kiến trúc đô thị bị chia cắt manh mún, không
hoàn chỉnh. Hệ thống HTKT đô thị chưa tạo được một bộ khung vững chắc liên thông ổn định làm cơ
sở cho sự phát triển bền vững.
b. Đối với Hà Tây cũ và vùng Mê Linh
(*) Đối với địa bàn Thủ đô Hà NộiHà Nội mở rộng, đặc biệt là tỉnh Hà Tây cũ, chỉ mới quan tâm thực
hiện quy hoạch đô thị tại Hà Đông, Sơn Tây, các thị trấn hiện hữu và trên các trục giao thông quốc gia
như Đại lộ Thăng Long, đường Hồ Chí Minh, QL21. Các dự án trong khu vực này triển khai chậm, đặc
biệt là khu vực chuỗi đô thị Sơn Tây, Xuân Mai, Miếu Môn, Hòa Lạc. Khu vực giáp ranh giới Thủ đô Hà
NộiHà Nội có tốc độ đô thị hóa cao như Đan Phượng, Hoài Đức, Thường Tín…chưa được lập quy hoạch
tổng thể; đã gây nên tình trạng quy hoạch thiếu tính đồng nhất về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội và
chưa phù hợp với các định hướng lớn xây dựng Thủ đô Hà NộiHà Nội.
2.2. Đánh giá hiện trạng
2.2.1. Điều kiện tự nhiên và hiện trạng môi trường
a. Điều kiện tự nhiên

83-85%;lượng bốc hơi TB năm 800-<1000mm). Riêng phân bố lượng mưa trong địa bàn biến đổi theo
không gian, thời gian, chịu ảnh hưởng mạnh của đặc điểm địa hình và hướng gió. Mưa ở khu vực đồng
bằng nhỏ hơn vùng núi. Ba Vì là trung tâm mưa lớn nhất Hà NộiHà Nội với tổng lượng mưa trung bình
năm đạt 2100mm. Khu vực đập Đáy là nơi ít mưa nhất với tổng lượng mưa trung bình năm chỉ đạt
1500mm. Tại khu vực đồng bằng lượng mưa tăng dấn từ Bắc xuống Nam, song các trận mưa lớn xảy ra
ở khu vực đồng bằng tương đối đồng đều.
- Thủy văn:
Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn và đi qua Hà NộiHà Nội khá dày đặc và phong phú, gồm có: sông
Hồng, sông Đà, sông Đáy, Nhuệ, Tích, Cà Lồ… Hệ thống này có chức năng giao thông thủy, cung cấp
nước và phù sa cho nông nghiệp, tiêu thoát nước và cải thiện vi khí hậu cho thành phố. Ngoài mạng lưới
sông ngòi, Hà nộiHà Nội còn là Thủ đô có nhiều ao hồ, hiện nay trên địa bàn 10 quận nội thành Hà
NộiHà Nội có tới 111hồ/ao với tổng diện tích khoảng 1.165ha.
Sông Hồng là con sông lớn nhất miền Bắc có tổng diện tích lưu vực 155.000 km
2
( phần trong nước ta
72.000 km
2
). Sông có chiều dài khoảng 1226km, đoạn qua lãnh thổ Việt Nam có chiều dài 556km, đoạn
chảy qua Hà NộiHà Nội dài khoảng 118km có lưu lượng bình quân hàng năm 2640m
3
/s với tổng lượng
nước khoảng 83,5 triệu m
3
. Sông Hồng không chỉ là nguồn chính cung cấp nước tưới mà còn là một
trong những nơi nhận nước tiêu của Hà NộiHà Nội. Mùa lũ kéo dài 5 tháng bắt đầu từ tháng 6 và kết
thúc vào tháng 10. Lượng nước trong các tháng mùa lũ chiếm 75 – 80% tổng lượng nước hàng năm,
trong đó tháng 8 chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Chế độ thuỷ văn:
Hà NộiHà Nội do ảnh hưởng của địa hình các vùng núi xung quanh có độ dốc lớn, độ che phủ bởi thảm
thực vật thấp, cấu trúc mạng lưới sông có hình nan quạt, mưa lớn và kéo dài trên toàn lưu vực…đã làm

- Khu vực nằm giữa sông Hồng và sông Đáy thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng được thành
tạo do quá trình bồi tụ và lắng đọng trầm tích trong điều kiện biển nâng cùng với các dòng chảy của
sông ra biển. Do quá trình chuyển động kiến tạo đã trải qua với các kỷ Trias, Đệ Tam, Đệ Tứ cùng
với tác động mạnh của các điều kiện tự nhiên ( nhiệt độ, nóng, ẩm, mưa…) làm cho đất đá bị phong
hoá mạnh tạo nên nền địa chất nham thạch, đất đai không đồng nhất. Với các lớp bồi tích, trầm tích,
phù sa khá dày thể hiện một bồn địa mới được hình thành. Trải qua thời kỳ biển lấn lần 1, lần 2 và
thời kỳ phát triển kế thừa, biển lùi, miền trũng võng chuyển sang một thời kỳ bình ổn và lấp đầy tạo
ra một vùng đồng bằng rộng lớn và ngập nước. Nhìn chung khu vực này có nền địa chất rất yếu, khi
xây dựng công trình đặc biệt là công trình cao tầng cần có biện pháp xử lý chống lún, chống cát đùn
và cát chảy
- Khu vực nằm giữa sông Đáy và sông Tích (tả Tích) kéo dài từ Tả Hồng đến cửa sông Tích tại Ba Thá
thuộc kỷ Đệ tứ thống Halogioi bồi tích trầm tích, trầm tích đầm lầy, thành phần đất nền chủ yếu là
cuội sỏi, cát kết xám xanh, xám đen và than bùn. Khu vực nằm sát ven sông Tích chạy dọc đường
QL21A từ Trung Hà đến Quảng Oai cũ thuộc thống giữa bậc Ladini điệp cốt bãi, thành phần cát kết,
đá phiến sét xennit thấu kính vôi. Khu vực từ Quảng Oai đến Tây Phương thuộc hệ Trias thống dưới
điệp Mường Hinh. Thành phần chủ yếu là cuội kết, đá phiến sét màu nâu đỏ phun trào bazơ, đá vôi.
Với đặc điểm địa chất như vậy khi xây dựng các công trình có tải trọng lớn cần lưu ý các biện pháp
xử lý nền móng để chống lún sụt và trượt ngang.
- Khu vực nằm phía bờ hữu sông Tích: đây là khu vực có địa hình chủ yếu là núi cao xen kẽ đồi núi
thấp nên có nhiều dải địa chất xen lẫn khá phức tạp. Dải sông Tích từ Trung Hà đến Xuân Khanh
thuộc đới Protezoi phức hệ sông Hồng, đá phiến liatit có granat, ximimatit, grafit. Dải từ Đầm Long
theo đường Khê Thượng đến dưới Tân Xã thuộc hệ Trias thống giữa bậc ladimi cát kết, đá phiến sét
xennit thấu kính vôi. Sườn và núi cao của dãy Ba Vì thuộc hệ Trias dưới điệp Dốc Cun, đá phiến sét,
cát kết, đá vôi bazan. Điều kiện điạ chất công trình khu vực này khá tốt, tuy vậy khi xây dựng các
công trình có tải trọng lớn vẫn cần có các giải pháp xử lý nền phù hợp.
- Về hệ sinh thái rất đa dạng, bao gồm: hệ sinh thái rừng (Ba Vì, Hương Sơn, Mỹ Đức), hệ sinh thái
nông nghiệp (đồng bằng châu thổ sông Hồng), hệ sinh thái thủy vực và hệ sinh thái ao hồ.
- Nhận xét chung:
2
Nguồn: TS. Trần Tân Văn/ Viện khoa học địa chất và khoảng sản.

3,2 lần).
+ Sông Hồng: Sông Hồng trước trạm bơm Yên Sở hầu như chưa bị ô nhiễm (trừ hàm lượng cặn). Đoạn
hạ lưu trạm bơm Yên Sở BOD
5
có dấu hiệu ô nhiễm nhưng không cao. Nước sông Hồng tại hạ lưu
mương thoát nước của trạm bơm Yên Sở BOD5, COD, NH4+; đều vượt TCVN 5942-1995 trong đó
tại vị trí cảng Khuyến Lương vượt TCCP 5,8 lần. Tuy nhiên do lưu lượng dòng chảy lớn nên khả
năng tự làm sạch còn tốt.
+ Sông Tích: Chất lượng nước sông Tích bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng (BOD
5
vượt 1,05 lần, Fe vượt 1,41 lần).
+ Sông Bùi: Các kết quả quan trắc cho thấy nước sông Bùi chưa ô nhiễm.
+ Chất lượng nước các hồ nội thành Hà NộiHà Nội ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, nặng nhất tại
các hồ Văn Chương, Giám, Linh Quang, Ngọc Khánh, Trúc Bạch. Các hồ ở ven đô (hồ Yên Sở, Linh
Đàm, Hạ Đình, Pháp Vân ) là những hồ điều hòa đang được sử dụng để nuôi cá, khả năng ô nhiễm
trong những năm tới cao. Các hồ thượng lưu Đồng Mô, Suối Hai, Quan Sơn đều chưa bị ô nhiễm.
- Nước ngầm
Nước ngầm tại Hà NộiHà Nội đang ngày càng suy giảm về trữ lượng. Mực nước ngầm Hà NộiHà Nội
đang sụt giảm 0,3-0,4 m/năm, đặc biệt là khu vực Mai Dịch, Pháp Vân. Xuất hiện ô nhiễm Asen trong
nguồn nước ở Hà NộiHà Nội, có nơi đã lên tới 40 lần TCVN (Đan Phượng). Ô nhiễm amôni (NH
4
+
) một
số nơi cũng vượt mức cho phép 20-30 lần.
b.2. Môi trường không khí
- Ô nhiễm do sản xuất:
Ô nhiễm nặng nhất là khu Thượng Đình, tiếp theo là Mai Động, các nhà máy: Dệt kim Thăng Long, Giấy
Trúc Bạch
- Ô nhiễm do giao thông:
8

là các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao. Hệ sinh thái lâm nghiệp tuy phong phú đa dạng về giống
loài song quy mô diện tích thấp, khoảng 25.124 ha chiếm 7% diện tích tự nhiên, phân bô không đều, tập
trung ở phía Tây (Ba Vì, Hương Sơn, Sóc Sơn).
Hệ sinh thái nông nghiệp: Chiếm 58% diện tích tự nhiên. Đây là vùng sinh thái quan trọng, chiếm phần
lớn diện tích của Hà NộiHà Nội, với đặc trưng là canh tác nông nghiệp gắn với làng xóm nơi ở của gần
60% dân số nông thôn.
Hệ sinh thái ao hồ: Hà NộiHà Nội là một trong những thành phố được đánh giá có nhiều hồ, ao và mặt
nước lớn nhất trên thế giới; Hà NộiHà Nội nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên có nhiều ao hồ tư
nhiên phục vụ tiêu thóat nước và tưới tiêu nông nghiệp. Riêng 10 quận nội thành đã có tới 111 hồ, ao.
Trong đó có những hồ lớn như: Hồ Tây, Hồ Bảy Mẫu, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Thủ Lệ,
Giảng Võ…
Hệ sinh thái sông ngòi: Các sông lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Đuống, sông Cà Lồ, sông Nhuệ,
sông Đáy và những con sông thoát nước nội thị như sông Tô Lịch, sông Sét, sông Kim Ngưu, sông Lừ,
Cầu Bây… Cùng với quá trình phát triển công nghiệp, đô thị hóa, các hệ sinh thái thuỷ sinh đang bị biến
động, suy thoái.
b5. Tai biến môi trường
- Biến đổi khí hậu
Hà NộiHà Nội hiện tại và trong tương lai sẽ chịu ảnh hưởng chung của biến đổi khí hậu toàn cầu. Nhiệt
độ trung bình năm của thập niên 1991-2000 ở Hà NộiHà Nội cao hơn trung bình của thập niên 1931-
1940 là 0,8
0
C. Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà NộiHà Nội giảm dần trong thập niên 1981-1990
và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây.
- Lũ lụt
Trên hệ thống sông Hồng, trong 70 năm (1902 - 1972) tại Hà NộiHà Nội có 9 năm nước lũ cao hơn
12,0m (nếu không vỡ đê và phân lũ vào sông Đáy), 12 năm có lũ cao hơn 11,5 m, 38 năm có lũ cao hơn
10,5 m, hoặc có ngọn lũ cao hơn mức báo động II kéo dài đến 10 ngày. Trong 15 năm (1956 - 1971) trên
sông Hồng đã xuất hiện 6 trận lũ lớn, mực nước đỉnh lũ ở Hà NộiHà Nội lên hơn 11,0m trong đó có trận
lũ xẩy ra vào tháng VIII - 1971 mực nước ở Hà NộiHà Nội lên tới 14,13m, nếu không có vỡ đê và phân
lũ thì mực nước ở Hà NộiHà Nội lên tới 14,6m (mực nước đã hoàn nguyên). Lưu lượng đỉnh lũ trong

cát. Xói lở bờ sông Đà xảy ra phía bờ phải tại khu vực Thái Bạt, Thuần Mỹ (Ba Vì). Xói lở bờ sông
Hồng xảy ra tại Cổ Đô (Ba Vì), Linh Chiểu-Phương Độ-Cẩm Đình (ứng Hòa), Thượng Cát (Từ Liêm),
Ngọc Thuỵ, Bồ Đề (Gia Lâm). Xói lở bờ sông Đuống tại bờ hữu đoạn kè Tĩnh Quang, bờ tả đoạn kè
Đổng Viên, kè Chi Phương.
Các hiện tượng xói lở này mang tính đặc trưng của lũ sông Hồng và là tiềm tàng của tai biến có khả năng
phá hủy đê sông ở đây.
- Sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm
Khai thác nước ngầm đã gây ra hiện tượng sụt lún mặt đất tại khu vực phía Nam sông Hồng. Khu vực có
độ sụt <10 mm/năm chiếm hầu hết phần phía Nam sông Hồng. Khu vực có độ sụt lún lớn nhất (khoảng
30 mm/năm) rộng khoảng 2 km
2
, ở xung quanh khu vực nhà máy nước Pháp Vân.
2.2.2. Hiện trạng về kinh tế - dân số - đất đai
a. Hiện trạng kinh tế
3
:
3
Nguồn: Niên giám thống kê Hà NộiHà Nội 2009
9
THUYẾT MINH TÓM TẮT
Quy hoạch chung xây dựng Tthủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
Kinh tế Thủ đô Hà NộiHà Nội trong những năm qua đã phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế ngày càng hiện
đại và có hiệu quả. Tổng GDP đứng thứ hai cả nước sau Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2008, tổng GDP của Hà NộiHà Nội đạt 178,5 nghìn tỷ đồng, tương đương 10,77 tỷ USD. Thu nhập
bình quân đầu người năm 2008 đạt 1700USD/người. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2001-2008 là
11,3%, trong đó: Công nghiệp-xây dựng: 17,6-13,3%; Dịch vụ: 10,5-10,9%; Nông nghiệp: 1,6-3,9%. Về
cơ cấu kinh tế, tỷ trọng nông nghiệp giảm còn 6,5%, dịch vụ 52,4%. So sánh với các khu vực trong cả
nước, Hà NộiHà Nội có tổng GDP bằng 61,5% so với Thành phố HCM, bằng >50% vùng ĐBSH và
bằng 12,1% cả nước. Về xây dựng và quản lý đô thị, tốc độ xây dựng phát triển đô thị ở mức nhanh nhất
so với cả nước.

nhiên khu vực thành thị khoảng 34.615 ha (chiếm khoảng 10,4%), tổng đất tự nhiên khu vực nông thôn
khoảng 299.845 ha (chiếm khoảng 89,6%).
Đất nông, lâm nghiệp có >189.000 ha, chiếm 56,5% đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp có khoảng
135.000 ha chiếm >40,4% đất tự nhiên, trong đó đất nghĩa trang khoảng >2.890 ha.
Đất chưa sử dụng khoảng 10.450 ha chiếm 3,1% đất tự nhiên, trong đó đất bằng chưa sử dụng khoảng
4.850 ha, chiếm khoảng 1,4% đất tự nhiên.
Tổng đất xây dựng cả thành thị và nông thôn khoảng 45.500ha chiếm khoảng 13,7% diện tích tự nhiên.
Trong đó, đất xây dựng thành thị khoảng 18.000ha; chủ yếu tập trung vào 10 quận nội thành chiếm 5,2%
đất tự nhiên, đất xây dựng nông thôn khoảng 27.400ha; đất dành cho cây xanh-thể dục thể thao khoảng
4
Nguồn: QHTTKT XH Hà NộiHà Nội
>720ha; đất dành cho các trường đại học và cao đẳng khoảng 600ha; đất khu công nghiệp khoảng >5.000
ha.
Chỉ tiêu đất đơn vị ở (không tính công cộng, cây xanh, giao thông cấp khu ở) năm 2009 trong 4 quận nội
đô cũ rất thấp 11,1 m
2
/người, 5 quận mới 35 m
2
/người, thị trấn Thường Tín 16,4 m
2
/người, còn lại tại Hà
Đông, thị xã Sơn Tây và các thị trấn khác đạt trên 40 m
2
/người.
Bảng 2: Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất đai
STT Mục đích sử dụng đất
Tổng diện
tích các loại
đất trong địa
giới hành

Tổng diện tích tự nhiên 334.460,47 100,00 34.615,39 100,0 299.845,08 100,0
1
Tổng diện tích đất nông
nghiệp
189.011,84 56,51 10.967,11 31,68 178.044,73 59,38
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 153.039,11 45,76 9.158,52 26,46 143.880,59 47,98
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 137.616,35 41,15 8.226,35 23,76 129.390,00 43,15
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 15.422,76 4,61 932,18 2,69 14.490,59 4,83
1.2 Đất lâm nghiệp 23.862,51 7,13 205,73 0,59 23.656,78 7,89
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 10.165,91 3,04 1.491,55 4,31 8.674,36 2,89
1,4 Đất nông nghiệp khác 1.944,31 0,58 111,31 0,32 1.833,00 0,61
2 Đất phi nông nghiệp 134.998,36 40,36 23.084,99 66,69 111.913,36 37,32
2.1 Đất ở 34.936,02 10,45 7.709,06 22,27 27.226,96 9,08
2.1.1 Đất ở tại nông thôn 27.743,08 8,29 562,79 1,63 27.180,29 9,06
2.1.2 Đất ở tại đô thị 7.192,94 2,15 7.146,27 20,64 46,67 0,02
2.2 Đất chuyên dùng 68.935,61 20,61 11.407,81 32,96 57.527,81 19,19
2.2.1
Đất trụ sở cơ quan, công
trình sự nghiệp
2.143,55 0,64 705,45 2,04 1.438,10 0,48
2.2.2 Đất quốc phòng 8.926,72 2,67 1.053,89 3,04 7.872,84 2,63
2.2.3 Đất an ninh 700,34 0,21 90,13 0,26 610,21 0,20
2.2.4
Đất sản xuất, kinh doanh
phi nông nghiệp
12.188,53 3,64 2.979,29 8,61 9.209,24 3,07
2.2.4.
1
Tr.đó: Đất khu công
nghiệp

chưa dự báo hết khả năng cạnh tranh cũng như sự xuất hiện các cơ hội và lợi thế mới của Hà NộiHà Nội
sau khi mở rộng.
Theo Báo cáo của Bộ Công Thương (văn bản số: 10929/BCT-KH ngày 30 tháng 10 năm 2009 về việc
cung cấp thông tin phục vụ công tác lập Quy hoạch chung Hà Nội). Trên địa bàn Thành phố Hà
NộiHà Nội tính đến tháng 9 năm 2009 có:
- 01 Khu công nghệ cao Hòa Lạc (diện tích 1.600 ha) và 11 khu công nghiệp (tổng diện tích 2.000 ha),
bình quân 180 ha/ khu công nghiệp, trong đó: 09 khu đã cơ bản hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và giao đất
cho các nhà đầu tư thứ phát cơ bản lấp đầy diện tích (Khu công nghiệp Thăng Long, Nội Bài, Sài Đồng
B, Nam Thăng Long, Đài Tư, Thạch Thất- Quốc Oai, Phú Nghĩa, Bắc Thường Tín, Quang Minh); 02 khu
đang tiến hành thủ tục bồi thường, giải phóng mặt bằng và triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật (Khu
công nghiệp Công nghệ cao sinh học và Khu công nghiệp Phụng Hiệp).
- 49 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích 3.707 ha, bình quân 75 ha/cụm, trong đó: 43/49 cụm đã
và đang triển khai xây dựng: 19 cụm đã hoàn thành hoặc cơ bản hoàn thành xây dựng hạ tầng kỹ thuật,
đã thu hút đầu tư lấp đầy đi vào hoạt động; 07 cụm đang triển khai xây dựng từng phần các hạng mục hạ
tầng kỹ thuật và thu hút các nhà đầu tư thứ phát; 17 cụm mới đang thực hiện các bước chuẩn bị đầu tư
(hầu hết mới chỉ dừng lại ở khâu phê duyệt quy hoạch chi tiết, dự án, GPMB hoặc bắt đầu triển khai xây
dựng hạ tầng kỹ thuật); 06 cụm đang trong quá trình kêu gọi đầu tư, chưa triển khai đầu tư xây dựng.
- 177 điểm công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp (ĐCN- TTCN) với tổng diện tích 1.330 ha, bình quân 7,5
ha/ điểm, trong đó: 63/177 điểm đã và đang triển khai xây dựng (22 điểm đã hoàn thành hoặc cơ bản
hoàn thành xây dựng hạ tầng kỹ thuật, đã giao đất cho các hộ sản xuất làng nghề xây dựng nhà xưởng;
41 điểm đang hoàn thiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng hoặc bắt đầu triển khai xây
dựng hạ tầng kỹ thuật); 114 điểm chưa triển khai xây dựng.
Theo Báo cáo của Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà NộiHà Nội (văn bản số
534/BQL-QHXD ngày 22/6/2010)
Hiện nay Hà NộiHà Nội có 17 Khu công nghiệp (tổng diện tích 3.603,456Ha), trong đó: 08 KCN đang
hoạt động (Thăng Long, Nội Bài, Sài Đồng B, HN-Đài Tư, Nam Thăng Long, Thạch Thất - Quốc Oai,
Phú Nghĩa, Quang Minh I) và 09 KCN đang triển khai (Quang Minh II, Kim Hoa, CNC Sinh học, CVCN
Thông tin HN, Bắc Thường Tín, Phụng Hiệp, Đông Anh, KCN sạch Sóc Sơn, Nam Phú Cát).
Mặc dù các cơ sở công nghiệp đã góp phần thể hiện vai trò của Hà NộiHà Nội là 1 trong những trung
tâm kinh tế lớn của cả nước, giải quyết gần 9 vạn lao động. Song việc phát triển công nghiệp của Thành

NộiHà Nội. Tính đến tháng 7/2008 Hà NộiHà Nội có khoảng 551 cơ sở lưu trú với hơn 14.008 phòng
đang hoạt động, trong đó chỉ có 177 khách sạn được xếp hạng với 8.614 phòng, phân bố không đồng đều
trên khắp địa bàn. Hiện nay khu vực xa trung tâm hạ tầng còn chưa phát triển đồng bộ, thấp kém, chưa
thu hút được khách du lịch, vẫn còn 8 huyện không có cơ sở lưu trú du lịch. Điều đó cho thấy, Hà NộiHà
Nội hiện nay đang thiếu các tiện ích phục vụ du lịch. Các sản phẩm du lịch của Hà NộiHà Nội cũng chưa
phát triển so với các thành phố du lịch khác ở Việt Nam và cả trên thế giới.
Du lịch nội đô: Hà NộiHà Nội ngàn năm văn hiến với bao di tích lịch sử được lưu giữ, chủ yếu được đặt
tại khu vực trung tâm, tại các bảo tàng và khu vực đặc biệt như Hoàng thành. Được thể hiện qua các bảo
tàng, nhà hát, và từ các công trình văn hóa này hình thành các tour du lịch nằm trong khu vực trung tâm
Hà NộiHà Nội, tham quan các điểm dích nổi tiếng như: khu vực phố cổ, hồ Gươm, khu vực phố cũ cùng
các phố nghề, cầu Long Biên, sông Hồng, Hồ Tây, Hoàng thành, các đình chùa miếu mạo, các nhà hát và
bảo tàng giới thiệu quá trình hình thành của Hà NộiHà Nội qua các giai đoạn…
Du lịch sinh thái: Hà NộiHà Nội cũng được biết đến là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, tự nhiên
và các tour du lịch sinh thái được hình thành bởi sự kết nối các điểm thắng cảnh đẹp này, chủ yếu ở khu
vực xa trung tâm, nơi đô thị ít phát triển, không khí trong lành, thoáng mát, trữ tình như: Ao Vua, suối
Tiên, Hồ suối hai, hồ Đồng Mô, đàm Vân Trì, hồ Quan Sơn
Du lịch đến với di sản, di tích: Hà NộiHà Nội đứng hàng đầu với 1853 di tích trong đó có 1050 di tích
cấp quốc gia và 803 di tích cấp tỉnh, thành phố được Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch công nhận xếp
hạng. Với tiềm năng là các công trình di tích gắn liền với lịch sử và văn hóa tín ngưỡng của Hà NộiHà
Nội, tạo nên các tour du lịch đan xen giúp cho khách du lịch có thể tham quan và tìm hiểu về phong tục
tập quán phong phú của người Hà NộiHà Nội nói chung và văn hóa của từng miền nói riêng.
- Nhận định chung:
5
Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố Hà nộiHà Nội đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
6
Nguồn: Sở Văn hóa-thể thao-du lịch
11
THUYẾT MINH TÓM TẮT
Quy hoạch chung xây dựng Tthủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
Du lịch tại Hà NộiHà Nội vẫn chưa phát triển mạnh, bị ảnh hưởng bởi hệ thống cơ sở lưu trú và các dịch

phát triển du lịch.
Diện tích rừng và đất lâm nghiệp của Hà NộiHà Nội là: 25.123,7ha, chiếm khoảng 7,5% diện tích tự
nhiên của thành phố. Rừng tự nhiên của Hà NộiHà Nội có tại Ba Vì, Hương Sơn, Sóc Sơn…và thuộc
rừng phòng hộ huyện Mỹ Đức.
- Về thủy sản:
Ngành thủy sản Hà NộiHà Nội mặc dù có tăng trưởng trong những năm qua, nhưng tỷ trọng thấp, chiếm
<5% tỷ trọng GDP cơ cấu nông lâm thủy sản. Một số diện tích đất nông nghiệp trồng lúa một vụ, vùng
trũng đã được chuyển sang nuôi trồng thủy sản.
Tóm lại: Khu vực nông lâm nghiệp có giá trị quan trọng đối với môi trường của thành phố, giữ gìn và
bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, tạo không gian nghỉ ngơi, du lịch và cung cấp lương thực
thực phẩm, rau xanh cho Hà NộiHà Nội. Tuy nhiên hiện nay, mỗi năm Hà NộiHà Nội thu hồi hơn
1.000ha đất, Hà tây cũ khoảng 2000ha, trong đó chiếm tới 80% là đất nông nghiệp, phục vụ các dự án
công nghiệp, đô thị. Có 19 sân golf đang xin triển khai đầu tư chủ yếu trên quỹ đất nông nghiệp và
UBND Thành phố Hà NộiHà Nội đã đề nghị 10 dự án phải chuyển đổi vì không phù hợp với quy hoạch.
Xu hướng trong những năm tới đất nông nghiệp tại Hà NộiHà Nội tiếp tục thu hẹp diện tích
8
. Đất lâm
7
Nguồn: Trung tâm khuyến nông / Bộ NNPT-NT
8
Nguồn: Báo cáo Rà soát các dự án đầu tư trên địa bàn Hà NộiHà Nội/ Sở kiến trúc quy hoạch.
nghiệp, từ năm 1998 đến nay
9
, trên địa bàn huyện Sóc Sơn giảm 2073 ha, địa bàn tỉnh Hà Tây cũ là
4.083,3 ha chuyển đổi mục đích khác, chủ yếu là du lịch, dịch vụ và đô thị sinh thái.
Các vấn đề cần giải quyết hiện nay:
- Cần phải sớm khoanh vùng đất nông nghiệp đặc thù như vùng lúa năng suất, trồng rau, hoa , mặt
nước nuôi trồng thủy sản và tạo cảnh quan môi trường.
- Xác định những vùng hiện đang là đất nông nghiệp nhưng không có vai trò gì cho nông nghiệp, có
thể tăng cường đầu tư hạ tầng kỹ thuật để phát triển công nghiệp và đô thị.

hội nghị, diễn đàn lớn trong nước và quốc tế…Hệ thống công sở phân tán, nhỏ hẹp, cơ sở vật chất xuống
cấp và hệ thống hạ tầng quá tải trong nội đô đã tác động tiêu cực tới các hoạt động này. Nhiều chương
trình hội nghị đã phải cho cán bộ, công nhân viên và sinh viên nghỉ làm việc để các hội nghị diễn ra theo
kế hoạch.
Hiện nay, khi Thủ đô Hà NộiHà Nội được mở rộng, quỹ đất xây dựng đô thị đã được mở rộng, các yêu
cầu mới về quỹ đất xây dựng cơ quan công sở Quốc gia trong bối cảnh hội nhập càng trở nên cần thiết
một mặt đáp ứng công tác cải cách hành chính, mặt khác tạo lập quần thể kiến trúc công sở Quốc Gia
xứng đáng với Thủ đô của Quốc gia.
9
Nguồn: Viện điều tra quy hoạch rừng
12
THUYẾT MINH TÓM TẮT
Quy hoạch chung xây dựng Tthủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
a2. Hệ thống công sở cấp thành phố:
Hệ thống công sở đầu não cấp thành phố hiện nay được đặt tại khu vực xung quanh Hồ Gươm, bao gồm
trụ sở UBND thành phố, Thành Ủy, Hội đồng nhân dân, mặt trận tổ quốc Thành phố. Vị trí này có đủ
điều kiện liên kết với Trung tâm đầu não chính trị Ba Đình và vùng phụ cận, do vậy các công sở này cần
được quy hoạch lại nhằm đảm bảo tính kế thừa truyền thống cũng như có vị trí trung tâm của Hà NộiHà
Nội.
Thành phố hiện có 37 Sở, Ban, Ngành, Đoàn trực thuộc thành phố Hà NộiHà Nội với tổng diện tích công
sở khoảng 487ha, bao gồm cả các cơ sở trực thuộc được phân bổ đều trên khắp 24 quận, huyện. Hệ thống
công sở nằm phân tán trong các quận nội thành Hà NộiHà Nội cũ và quận Hà Đông, nhiều công trình đã
hết niên hạn sử dụng, kiến trúc công trình không đóng góp vào cảnh quan đô thị.
Việc bố trí và xây dựng các công sở cấp Thành phố như hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu xã hội, cần phải
có biện pháp cải tạo, nâng cấp, thậm chí tìm địa điểm mới tạo dựng quần thể kiến trúc công sở cấp Thành
phố đóng góp cảnh quan kiến trúc đô thị chung của cả thành phố.
a3. Hệ thống đất các khu ngoại giao đoàn
Theo tài liệu do Cục phục vụ Ngoại giao đoàn cung cấp tháng 6 năm 2009, Thành phố Hà NộiHà Nội
hiện có 104 đoàn ngoại giao thuê và sử dụng do Cục quản lý với diện tích khoảng 21,73ha. Các đoàn
ngoại giao chủ yếu tập trung tại khu vực quận Ba Đình, quận Hoàn Kiếm và quận Hai Bà Trưng.

của toàn quốc là 23,11m
2
sàn sử dụng/người. Chỉ tiêu nhà ở khu vực nông thôn đạt 17,9m
2
sàn sử
dụng/người (năm 2009).
Bên cạnh những chính sách phát triển mới về nhà ở, Hà nộiHà Nội cần nghiêm cứu cải tạo chỉnh trang
quỹ nhà ở hiện có đang xây dựng và phát triển lộn xộn ảnh hưởng rất lớn đến kiến trúc và cảnh quan
chung đô thị.
Nhận định chung
Quỹ nhà ở phát triển nhanh góp phần cải thiện điều kiện ở của người dân. Trong 10 năm gần đây, tốc độ
triển khai các dự án phát triển nhanh với quy mô lớn đáp ứng nhu cầu ở rất cao của người dân thủ đô.
Tuy nhiên chỉ tiêu về diện tích nhà ở, chỉ tiêu về hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật trong các khu ở còn
thấp và không đồng đều. Kiến trúc nhà ở tự phát, không liên kết, không đồng nhất tạo nên bộ mặt kiến
trúc đô thị nham nhở, hiệu quả thẩm mỹ kém đặc biệt là kiến trúc nhà ở lô phố và nhà ở chung cư cao
tầng.
c. Hiện trạng hệ thống các cơ sở văn hóa
10
c1. Hiện trạng văn hóa, tín ngưỡng
Hà NộiHà Nội là nơi tập trung nhiều di sản di tích tôn giáo tín ngưỡng có trên 5.100 di tích lịch sử văn
hóa, là nơi tập trung nhiều lễ hội và các những lễ hội mang tính đặc trưng riêng như Lễ hội chùa Hương,
hội gò Đống Đa, hội Gióng … trong đó Khu vực Hà NộiHà Nội cũ và Mê Linh có gần 2000 di tích với
hơn 600 di tích đã xếp hạng. Thăng Long – Hà NộiHà Nội ngàn năm văn hiến trải qua bao thăng trầm và
biến cố thời gian, Hà NộiHà Nội ngày nay còn lưu giữ được rất nhiều những công trình văn hóa gắn liền
với lịch sử. Hàng ngàn di tích lịch sử văn hóa, cách mạng quý hiếm, tiêu biểu là Cổ Loa, Thành Cổ, Phố
cổ, là hàng trăm đình, chùa, miếu, phủ, tượng đài, làng nghề, phố nghề… nổi tiếng. Hà NộiHà Nội còn là
nơi giao thoa hội tụ của nhiều nền văn hóa trên thế giới như dấu ấn của nền văn hóa Trung Hoa, Pháp,
thể hiện qua những công trình văn hóa và những giá trị văn hóa phi vật thể. Một số công trình văn hóa
tiêu biểu như: Nhà hát Lớn Hà NộiHà Nội, Bảo tàng lịch sử, Thư viện Quốc gia,
Bên cạnh văn hóa Thăng Long, Hà NộiHà Nội còn nổi tiếng với văn hóa xứ Đoài, nơi hội tụ của nhiều

dựng vào thời kỳ đổi mới. Có 21 rạp chiếu phim, trong đó có cả những cụm rạp chiếu phim đạt tiêu
chuẩn quốc tế như Megastar, trung tâm chiếu phim Quốc Gia được xây dựng mới và có quy mô lớn. Sự
phân bố của các rạp chiếu phim chủ yếu ở trung tâm của thủ đô và đô thị lớn như Sóc Sơn, Đông Anh,
nên việc đáp ứng nhu cầu của người dân tại các đô thị và thị trấn, thị tứ thiếu nghiêm trọng. Đồng thời
chỉ có những rạp đủ tiêu chuẩn thu hút được khán giả, nhiều rạp chiếu phim chưa đủ tiêu chuẩn kỹ thuật
như: chất lượng âm thanh và hình ảnh kém, chỗ ngồi chưa hợp lý, tầm nhìn bị vướng, chỗ để xe chưa
hợp lý
Hệ thống rạp xiếc:
Bộ môn nghệ thuật xiếc góp phần mang lại niềm vui và sự hiểu biết về khoa học, đời sống và kỹ năng
khéo léo của con ngời và các loài vật thông minh. Được ra đời muộn trong thời kỳ đổi mới và chưa được
chú trọng, rạp xiếc hầu như không thu hút được sự quan tâm của người dân mà chủ yếu chỉ đáp ứng số
lượng khán giả nhỏ tuổi, thiếu niên và nhi đồng. Hiện tại chỉ có duy nhất một rạp xiếc trung ương có cơ
sở vật chất chưa đầy đủ tại trung tâm của thủ đô, phục vụ cho các đoàn xiếc. Tuy vậy quy mô rất nhỏ và
bị che khuất tầm nhìn và ảnh hưởng bởi các nhà hàng, quán bia xung quanh. Thiếu cơ sở hoạt động rất
nhiều tại khu vực trung tâm cũng như tại các quận huyện, đặc biệt là các cơ sở phục vụ cho thiếu nhi là
những đối tượng phần lớn của chuyên ngành này. Do vậy đoàn xiếc phải đi biểu diễn lưu động tại các
khu vực dân cư nông thôn, xa trung tâm.
Hệ thống thư viện:
Thư viện là nơi giao lưu học hỏi, truyền bá văn hoá, khoa học và đời sống tới người dân, góp phần quan
trọng tới sự phát triển văn minh của thủ đô. Hệ thống thư viện của Hà NộiHà Nội có khoảng hơn 40 thư
viện với hàng ngàn cuốn sách, trong đó có thư viện quốc gia Việt Nam có thể xem là thư viện quan trọng
nhất của cả quốc gia, mới được xây dựng lại với cơ sở vật chất hiện đại. Các thư viện tập trung chủ yếu
tại trung tâm thủ đô và các đô thị lớn, đa số được xây dựng trong thời kỳ mới. Thư viện cấp thành phố và
hệ thống thư viện tại các quận huyện địa phương chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của người dân. Tại
trung tâm Hà NộiHà Nội còn kể tới các thư viện tại các trường đại học và các thư viện chuyên ngành, tuy
hiên quy mô nhỏ, chỉ đáp ứng được một phần nhỏ cho các cán bộ và học sinh, sinh viên đại học. Hình
thức kiến trúc của các thư viện chưa được quan tâm, đa số được lồng ghép và các công trình khác hoặc bị
khuất tầm nhìn. Số thư viện tại Hà NộiHà Nội nhiều hơn số thư viện của thành phố Hồ Chí Minh (26 thư
viện với 2402 ngàn cuốn) nhưng số đầu sách thì chỉ bằng một phần tư, chưa xứng tầm là trung tâm văn
hoá của cả nước.

dân đô thị. Bên cạnh đó nhiều công viên bị chiếm dụng đất sử dụng sai mục đích thành nhà hàng và các
quán xá, hoặc bị bỏ hoang thành tụ điểm cho các tệ nạn xã hội. Tại các quận huyện xa trung tâm hầu như
không có công viên vui chơi giải trí, chỉ có một số ít có bố trí khu vực vui chơi cho trẻ em với quy mô rất
nhỏ.
Hệ thống quảng trường:
Nơi tụ họp của người dân trong những lễ hội, sự kiện trọng đại của thủ đô, nơi hội tụ không gian và tạo
điểm nhấn quan trọng cho đô thị, đặc biệt là quảng trường cửa ngõ. Hiện tại trung tâm Hà NộiHà Nội chỉ
có khoảng 5 quảng trường văn hóa, các quảng trường quy mô chưa lớn, chưa được phát huy hết giá trị
vốn có. Duy nhất Quảng trường Ba Đình gắn liền với lịch sử, có quy mô lớn nhưng đã từ lâu chỉ được
trưng bày như di tích lịch sử. Quảng trường Cách mạng tháng 8 trước mặt nhà hát Lớn được tổ chức
nhiều sự kiện lớn của thủ đô nhưng quy mô quá nhỏ. Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục tuy được gọi
là quảng trường nhưng được sử dụng như một nút giao thông đầu mối. Bên cạnh đó các quảng trường
chưa kết hợp được các công trình văn hóa đẹp và quan trọng, thu hút người dân và tạo thành điểm nhấn
của đô thị.
Hệ thống tượng đài:
Là công trình văn hóa có mối giao lưu trực tiếp tới người dân đô thị, đồng thời truyền đạt ngôn ngữ hình
ảnh và đánh dấu những chứng tích lịch sử của thủ đô. Phần lớn tượng đài của Hà NộiHà Nội được xây
dựng khi hoà bình lập lại nên nội dung chủ yếu ghi danh các chiến công lịch sử, anh hùng đất nước, khô
khan và thiếu nội dung truyền đạt tới người dân. Nhiều tượng đài được xây dựng tại khu vực vắng vẻ hẻo
lánh, hoặc bị che khuất, không kết hợp được với cảnh quan xung quanh. Thiếu những tượng đài mang
tính mỹ thuật, tượng đài mang tính biểu tượng và tôn vinh vẻ đẹp của Hà NộiHà Nội. Hiện tại sự thiếu
thốn tượng đài cần phải được quy hoạch rõ ràng, gắn liền với các quảng trường văn hóa, tạo bộ mặt mới
cho đô thị và ghi lại dấu ấn cho từng mốc thời kỳ phát triển của thủ đô Hà NộiHà Nội.
Đánh giá chung
Hà NộiHà Nội có bề dày 1000 năm lịch sử, có nhiều danh thắng, di tích lịch sử - văn hóa - khảo cổ cùng
với văn hóa phi vật thể, là nơi tập trung nhiều công trình văn hóa lớn và quan trọng của cả nước. Để Hà
NộiHà Nội tiếp tục giữ vai trò là Thủ đô Văn Hiến của cả nước, bên cạnh việc giữ gìn phát huy các giá
trị văn hóa truyền thống cả vật thể và phi vật thể, cần sáng tạo các giá trị văn hóa mới để Hà NộiHà Nội
có sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây dựng thành phố Hà NộiHà Nội Văn Hiến – Văn Minh – Hiện
Đại.

12
Hà NộiHà Nội hiện có 2.375 cơ sở, trong đó ngoài công lập có 316 cơ sở. Mạng lưới trường học phổ
thông tại Hà NộiHà Nội có nhiều tồn tại đó là: Thiếu trường học (đặc biệt ngành mầm non, tiểu học). Trừ
một số trường mới được xây dựng, đa số các trường có cơ sở vật chất trang thiết bị dạy và học thiếu
thốn, không đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Các trường ngoài công lập
không ổn định vị trí do phải đi thuê cơ sở vật chất
Diện tích đất cho các trường thấp hơn tiêu chuẩn. Trường mầm non đạt 7,0 m2/chỗ (tiêu chuẩn là 15
m2/chỗ ), trường tiểu học đạt 11,43 m2 (tiêu chuẩn 15 m2/chỗ ), trường THCS đạt 9,22 m2 (tiêu chuẩn là
15 m2/chỗ), trường PTTH đạt 9,36 m2 (tiêu chuẩn là 15 m2/chỗ).
Mạng lưới giáo dục phổ thông còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập so với yêu cầu hiện đại hóa trường lớp.
Những trường “điểm”, tỷ lệ học sinh/lớp quá cao, thiếu trường học đặc biệt ngành mầm non, tiểu học.
Mạng lưới trường ngoài công lập không ổn định, phụ thuộc vào các hợp đồng thuê mượn. Diện tích đất /
học sinh còn thấp so với quy định
Để nâng cao chất lượng sống cho người dân Hà NộiHà Nội, cần phải có những giải pháp cụ thể và khả
thi để mở rộng cơ sở trường lớp, đặc biệt là khu vực đông dân cư nội đô hiện nay.
e. Hiện trạng hệ thống y tế:
Hệ thống các cơ sở y tế lớn tập trung ở khu vực trung tâm thành phố, nên không có điều kiện phát triển
mở rộng và góp phần gây quá tải tới hệ thống hạ tầng đô thị. Các cơ sở y tế tuyến trung ương được đầu
tư và quan tâm vượt trội còn tuyến địa phương hầu như ít biến động về năng lực do đó nhiều nơi tuyến
địa phương chỉ hoạt động một cách hình thức, thiếu chủ động. Hiện còn thiếu các cơ sở khám chữa bệnh,
cơ sở vật chất yếu kém, lạc hậu, xuống cấp và quá tải. Và chưa có các quy hoạch, định hướng cụ thể cho
công tác đầu tư phát triển hệ thống cơ sở y tế trên địa bàn thủ đô Hà Nội và khu vực.
11
Nguồn: Bộ Giáo dục và đào tạo
12
Nguồn: Sở giáo dục đào tạo Hà NộiHà Nội
Đặc biệt khu vực Hà NộiHà Nội trung tâm tập trung tới: 32 cơ sở cơ sở y tế trung ương với 7710 giường
có tổng diện tích đất khoảng: 74 ha, trong đó: 16 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa có diện tích khoảng
51,93 Ha, tổng số 6680 giường bệnh, chiếm 60% số giường bệnh trên địa bàn Hà NộiHà Nội; 16 viện
nghiên cứu thực nghiệm y dược, trong đó 8 cơ sở nghiên cứu có thực nghiệm điều trị với 1030 giường có

nghiệp để xây dựng không chỉ gây nên những bức bối cho người dân mà còn làm ảnh hưởng đến môi
trường sống của khu vực.
Tình hình các dự án sân golf hiện nay, theo UBND thành phố đến thời điểm tháng 7 năm 2010 trong số
19 dự án thì có 4 sân gôn hoạt động bình thường, 4 sân golf khác được tiếp tục xây dựng và 11 sân golf
sẽ ngưng triển khai.
4 sân Golf đã đi vào hoạt động là sân golf King’s Island Golf Course tại Đồng Mô – Sơn Tây, Vân Trì
Golf Club tại Đông Anh, Hà NộiHà Nội Golf Club tại Minh Trí – Sóc Sơn, Sky Lake Resort and Golf
Club tại Văn Sơn – Sơn Tây.
Khuyến cáo:
Đất nông nghiệp đặc biệt là đất trồng lúa bị thu hồi để triển khai các dự án sân golf gây ảnh hưởng đến
đời sống của người dân cũng như nền nông nghiệp của vùng. Thu hồi đất nông nghiệp vào mục đính
khác làm thay đổi cơ cấu nông nghiệp, giảm sản lượng lúa, tạo ra một luồng lao động tự phát tràn vào đô
15
THUYẾT MINH TÓM TẮT
Quy hoạch chung xây dựng Tthủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
thị, gia tăng áp lực cho đô thị trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và an ninh xã hội. Vấn đề phát triển sân
golf là xu hướng tất yếu của nhu cầu xã hội nhưng cần có quy hoạch rõ ràng cho những khu vực phát
triển loại hình sân golf này.
- Khu vực đô thị:
Sau khi mở rộng địa giới hành chính thủ đô, toàn thành phố Hà NộiHà Nội có khoảng 60 công viên,
vườn hoa lớn nhỏ với tổng diện tích khoảng 300ha, bình quân chỉ tiêu cây xanh đầu người thấp
5m2/người, khu vực các quận nội thành khoảng 2-3m
2
/ng (Quy hoạch năm 1998 phân đấu đạt
15m2/người).

Trong các quận nội thành cũ: diện tích cây xanh ngày càng thu hẹp do tác động của áp lực kinh tế xã hội
và thiếu kiểm soát trong quản lý đô thị. Tại khu vực khu phố cổ và khu phố cũ, những vườn hoa cây
xanh bị thu hẹp bởi các hàng quán và bị ô nhiễm. Cây xanh và mặt nước hồ Gươm là một trong những
điểm văn hóa điển hình của trung tâm Hà NộiHà Nội, gắn liền với lịch sử của các khu phố, được đầu tư

Tuy nhiên, diện tích ao hồ giảm mạnh trong các năm qua gây tình trạng úng lụt và tiêu thoát không tốt,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan thiên nhiên của đô thị và làm mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm
môi trường. Sông hồ Hà NộiHà Nội là nguồn tiếp nhận, dẫn, vận chuyển và chứa xử lý nước thải sinh
hoạt công nghiệp và điều hòa nước mưa.
h. Hiện trạng khu thể dục thể thao:
Các công trình thể dục - thể thao chủ yếu do 3 cấp quản lý:
- Khu TDTT cấp quốc gia: Khu liên hợp TDTT Mỹ Đình diện tích 250 ha, tiêu chuẩn xây dựng đạt cấp
quốc gia. Vẫn đang trong quá trình hoàn thiện nốt tuy nhiên quy mô chưa đủ để đáp ứng cho ASIAD và
các hoạt động giao lưu mang tầm cỡ quốc tế trong thời gian tới.
- Khu TDTT cấp Thành phố: Tập trung tại quận Ba Đình, gồm các tổ hợp thể thao được xây dựng theo
tiêu chuẩn Việt Nam từ nhiều năm trước đây, quỹ đất hạn chế. Nhiều nơi bị lẫn vào không gian ở của
người dân gây nên chật chội và không có thẩm mỹ, gây tắc nghẽn giao thông khi có các buổi thi đấu.
- Khu TDTT cấp quận huyện: Khu vực nội thành có các công trình phục vụ dân cư luyện tập, vui chơi
tuy nhiên quy mô nhỏ, cơ sở vật chất lạc hậu. Khu vực ngoại thành chủ yếu có các công trình quy rất mô
nhỏ, sân bãi TDTT ngoài trời. Khả năng phục vụ cho khu dân cư rất hạn chế. Theo thống kê chỉ có 14/29
quận huyện có các công trình TDTT cấp huyện, tập trung tại các quận nội thành cũ của Hà NộiHà Nội,
Hà Đông và Sơn Tây.
- Công trình TDTT trong khu ở: được hình thành bởi các khu TDTT trong khu ở mới và không gian công
cộng của khu ở cũ. Đáp ứng phần nào nhưng chật chội và không đủ cơ sở vật chất.
- Ngoài ra còn có một số công trình thể dục thể thao tư nhân được xây dựng để kinh doanh như sân bóng
đá, sân tennis nhưng quy mô nhỏ.
- Tình hình các dự án sân golf hiện nay, theo UBND thành phố trong số 19 dự án thì có 4 sân gôn vẫn
hoạt động bình thường, 4 sân golf khác được tiếp tục xây dựng và 11 sân golf sẽ ngưng triển khai. 4 sân
golf được phép đầu tư và đi vào hoạt động: sân golf Minh Trí, Vân Trì, Đồng Mô, Văn Sơn.
Nhận định chung:
Dân số quá đông, không gian đô thị ngày càng chật chội khiến những địa điểm thể thao trở nên khan
hiếm và không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân. Hầu hết các trường đại học và cao đẳng tại Hà NộiHà
Nội đều trong tình trạng thiếu sân chơi. Một vài trường có diện tích rộng, nhưng lại sử dụng một phần để
xây dựng sân quần vợt với hiệu suất sử dụng không cao. Các sinh viên của thành phố thường phải chơi
bóng trong những khoảng sân có diện tích nhỏ hẹp. Các công trình TDTT các cấp tuy đã được hình thành

2-4 làn xe ô tô. Hầu hết các tuyến quốc lộ đã đầy tải và quá tải. Việc xây dựng các tuyến đường cao tốc
song hành hoặc mở rộng tuyến hiện có rất chậm so với yêu cầu. Đặc biệt các tuyến đường vành đai 2, 3,
4, chưa hoàn thiện, nên lưu lượng phương tiện vận tải hàng hoá, hành khách trung chuyển qua đầu mối
Hà NộiHà Nội, phải đi vào nội thành tạo sức ép lên hệ thống đường nội đô, gây ách tắc giao thông, ô
nhiễm môi trường của Thủ đô Hà NộiHà Nội.
Thực trạng về việc vi phạm hành lang bảo vệ đường bộ đang rất nghiêm trọng. Do không có đường gom,
thiếu các giải pháp kỹ thuật đã ảnh hưởng tới khả năng thông xe của các tuyến và gây nên tai nạn giao
thông.
Đường tỉnh, đường huyện: Có 35 tuyến tỉnh lộ, được phân bố khá hợp lý và đồng đều cho tất cả các vùng
song quy mô mặt cắt nhỏ hẹp, tỷ lệ mặt đường được cứng hóa thấp (35-40%).
- Hệ thống giao thông đô thị:
Mạng lưới giao thông đô thị Thủ đô Hà NộiHà Nội đang bị quá tải nặng nề do đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng còn cách xa so với tốc độ tăng dân số và tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, gây ùn tắc giao thông,
làm ngưng trệ hoạt động của đô thị, gây ô nhiễm khí thải, bụi, tiếng ồn, an toàn giao thông và cảnh quan
đô thị. Quỹ đất giao thông hiện trạng chỉ chiếm dưới 8% đất xây dựng đô thị, đáp ứng được dưới 40%
mức hợp lý. Đất giao thông các quận nội thành hiện nay trung bình đạt khoảng 5% trên đất xây dựng đô
thị. Mật độ đường chính khu vực toàn thành phố khoảng 0,74km/km2 (theo quy chuẩn xây dựng Việt
nam thì tỷ trọng đất giao thông phải đạt khoảng 16-25% và mật độ đường đạt khoảng 6,5-8 km/km2. So
sánh 1 số nước trong khu vực và các nước phát triển thì con số này là 25-30% thậm chí tới 40%).
Mạng lưới đường chính đô thị hiện nay có dạng vành đai kết hợp xuyên tâm. Hệ thống các đường hướng
tâm, các cầu chính qua sông Hồng, sông Đuống và các đường vành đai chưa xây dựng liên thông.
- Giao thông công cộng: Vận tải hành khách công cộng chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 14% chủ yếu do xe
buýt và taxi. Các phương tiện vận tải cá nhân hai bánh giữ vai trò chủ đạo, đây cùng là nguyên nhân
chính dẫn đến tình trạng ách tắc giao thông trong nội đô.
- Hệ thống giao thông ngoại thành:
Hiện tại lưu lượng đi lại trên các tuyến hướng tâm vào nội thành vào giờ cao điểm là 6-7 vạn lượt xe/giờ,
nhưng khả năng đáp ứng của các tuyến hướng tâm hiện có chỉ đáp ứng 1/3 nhu cầu. Tại một số khu vực
phát triển khá nhanh như KCN, các làng nghề đã có sự quá tải trên các tuyến tỉnh lộ, đường huyện và
liên xã. Các tuyến quốc lộ qua các huyện ngoại thành phần lớn thiếu đường gom dân sinh, các đoạn qua
các thị trấn, thị tứ có mặt cắt ngang hẹp, chưa phân rõ giao thông liên tỉnh và giao thông địa phương, làm

Khu vực Hà NộiHà Nội gồm 3 tuyến chính là tuyến trên sông Hồng, tuyến trên sông Đuống và tuyến
trên sông Đà. Tuyến đường thuỷ sông Cầu – sông Công sẽ được duy trì cho các xà lan và tàu hàng nhỏ
hơn 100T. Các tuyến sông Cà Lồ, Sông Đáy, sông Tích, sông Thiếp - Ngũ Huyện Khê, hệ thống sông
Nhuệ - Tô Lịch cần được cải tạo, bổ sung nguồn nước vào mùa cạn, khắc phục ô nhiễm để vừa làm chức
năng cảnh quan, thoát nước, vừa khai thác vận tải thủy phục vụ du lịch, nghỉ ngơi bằng ca nô, tàu nhỏ.
Các tuyến đường thủy có tổng chiều dài khoảng 300km. Tuy nhiên, khả năng khai thác bị hạn chế so với
tiềm năng do chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên, chưa đầu tư cải tạo, nạo vét luồng lạch thiếu kết nối liên
thông.
Hệ thống cảng phân bố khá hợp lý dọc theo các tuyến đường thuỷ chính, với 16 cảng, 102 bến bốc xếp
và 33 bến thủy nội địa. Lượng hàng hóa thông qua trên 800 triệu tấn/năm, hành khách đạt 4,8 triệu lượt
người/năm. Tuy nhiên cơ sở hạ tầng, thiết bị bốc xếp, kho bãi lạc hậu, diện tích mặt đất và mặt nước hẹp.
- Hệ thống giao thông đường không:
Hiện nay chỉ có 2 sân bay đang khai thác dân dụng. Cảng hàng không, sân bay quốc tế Nội Bài đạt tiêu
chuẩn cấp 4E, hành khách thông qua đạt 6 triệu HK/Năm. Sân bay nội địa Gia Lâm đạt tiêu chuẩn cấp
3C (theo tiểu chuẩn ICAO). Ngoài ra Hà NộiHà Nội còn có 3 sân bay do quân đội quản lý: Bạch Mai,
Hòa Lạc và Miếu Môn.
Nhận xét, đánh giá thực trạng giao thông đô thị.
Hệ thống giao thông đô thị của Hà NộiHà Nội đang bị quá tải nặng nề trước tốc độ phát triển kinh tế - xã
hội và dân số tăng nhanh. Sự quá tải đã gây nên ùn tắc giao thông trên tại các nút giao, cửa ngõ và các
tuyến chính thành phố. Xét từ góc độ quy hoạch có thể thấy các chỉ tiêu giao thông đều quá thấp so với
yêu cầu, diện tích dất giao thông chỉ đạt dưới 8% đất xây dựng đô thị (mức hợp lý 20-26%). Mạng lưới
đường chính đô thị chất lượng kém và chưa được kết nối liên thông. Hệ thống bãi đỗ xe thiếu. Hệ thống
đường sắt, đường thủy lạc hậu, chiếm tỷ trọng quá nhỏ so với tổng nhu cầu vận tải. Vận tải đô thị chủ
yếu sử dụng phương tiện cá nhân, vận tải hành khách công cộng chiếm tỷ lệ rất thấp chỉ đạt khoảng 14%.
Do vậy tình trạng ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường… trong hoạt động giao
thông đô thị ngày nay đã trở thành hiện tượng xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng.
b. Chuẩn bị kỹ thuật
b1. Hiện trạng thủy lợi:
17
THUYẾT MINH TÓM TẮT

+ Tiểu vùng tả Mỹ Hà: gồm huyện Mỹ Đức. Hướng tiêu ra sông Đáy và sông Thanh Hà.
- Vùng Bắc Hà NộiHà Nội: Gồm các quận, huyện Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn và Mê Linh, diện tích
tự nhiên là 88.591ha, diện tích cần tiêu: 42.411 ha. Hệ số tiêu hiện trạng là 5-5,5l/s/ha. Phân thành 4 tiểu
vùng: Tả Cà Lồ, Hữu Cà Lồ, Bắc Đuống, Bắc Hưng Hải. Toàn vùng hầu như hoàn toàn tiêu ra hệ thống
các sông nội đồng sau đó ra sông ngoài: ra sông Hồng, sông Đuống và ra sông Cầu. Việc tiêu thoát hoàn
toàn phụ thuộc vào mực nước trên các sông trục này và các sông ngoài
- Nhận xét: hệ số tiêu hiện trạng quá thấp không đáp ứng đủ cho yêu cầu. Hệ thống công trình đầu mối
và công trình nội đồng chưa đồng bộ, không được tu sửa, nạo vét thường xuyên, bị xâm lấn gây úng giả
tạo. Nhiều kênh tiêu bị xâm hại, lấn chiếm nghiêm trọng, đặc biệt là các kênh mương nội đồng ở khu vực
đô thị, công nghiệp phát triển.
b2. Hiện trạng đê điều chống lũ:
Hệ thống đê sông trên địa bàn Hà NộiHà Nội gồm có đê Hữu Hồng và Tả Hồng, đê sông Đuống, sông
Cầu, sông Đáy, sông Cà Lồ, sông Tích với tổng chiều dài các tuyến khoảng 425,09 km với 59 cống đang
hoạt động và 14 cống đã hoàn triệt, 29 cửa khẩu và 118 điểm canh đê.
- Tuyến đê sông Hồng đã được quan tâm và tập trung đầu tư đảm bảo mặt cắt, cơ đê, cứng hoá mặt đê,
kè, cống, trồng cây chắn sóng, xử lý thân đê. Tuy nhiên xói lở bờ sông vẫn thường xẩy ra, các vị trí xung
yếu vẫn là tại vị trí các cống, trạm bơm.
- Tuyến đê sông Đuống có cao trình đỉnh đê thấp so với thiết kế: 0,4-0,7m. Một số mặt cắt đê còn nhỏ,
địa chất thân đê không đồng đều, nền đê nhiều đoạn chất lượng còn kém, các cống qua đê nhìn chung
đảm bảo.
- Tuyến đê sông Cà Lồ chưa đảm bảo chống lũ do nhiều chỗ bị sạt lở, nhất là khi xảy ra trường hợp lũ
sông Cà Lồ trùng hợp với lũ sông Cầu.
- Các tuyến đê khác trong hệ thống thuỷ lợi sông Nhuệ: toàn bộ tuyến đê thuộc hai bờ tả, bờ hữu sông
Nhuệ mặt cắt thiếu, nhiều ẩn hoạ, có nhiều vị trí xung yếu, chưa được cứng hoá mặt và tạo liền tuyến để
sử dụng đa mục tiêu, các tuyến khác như: La Khê, Vân Đình, Ngoại Độ, Quế, Yên Sở, Om, sông Duy
Tiên, Khai Thái, Yên Lệnh, Lạc Tràng …. đều chưa hoàn chỉnh, còn thiếu mặt cắt, nhiều công trình dưới
đê, dân lấn chiếm, chưa thông tuyến, nhiều vật cản, ách tắc.
- Tuyến để Tả Đáy: Trong thân đê có nhiều tổ mối và ẩn hoạ, tập trung nhiều là đê tả Đáy, Vân Cốc và đê
sông Đáy. Mặc dù đã được tập trung đầu tư xây dựng nhưng vẫn còn những điểm xung yếu .
- Tuyến đê Tả Tích, Tả Bùi, Mỹ Hà: có nguy cơ tràn, vỡ cao.

TB Yên Sở phải hỗ trợ cho Sông Nhuệ
6 2008 56500
Mưa lớn vào cuối vụ mùa (Th11)
Nhiều khu vực Nam Thành phố ngập trong nhiều ngày
b3.2. Hiện trạng thoát nước đô thị:
Công tác thoát nước đô thị của cả nước nói chung, Thành phố Hà NộiHà Nội nói riêng được tiêu thoát
nước theo chế độ tiêu thoát của vùng tiêu thuỷ lợi. Các khu vực phía Bắc sông Hồng, toàn bộ khu vực Hà
Tây cũ và 4 xã Lương Sơn đều phụ thuộc vào chế độ tiêu thoát của thuỷ lợi. Khu vực nội thành Hà
NộiHà Nội cũ gồm các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Đống Đa và một phần
18
THUYẾT MINH TÓM TẮT
Quy hoạch chung xây dựng Tthủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
quận Tây Hồ, huyện Thanh Trì nằm trong dự án thoát nước Hà NộiHà Nội, với trạm bơm thoát nước đô
thị riêng và có thể chủ động tiêu thoát nước. Ngoài ra, dự án này có thể hỗ trợ một phần cho vùng tiêu
thuỷ lợi sông Nhuệ.
Hiện trạng các công trình tiêu: Hiện nay trên toàn thành phố đã có một hệ thống công trình tiêu rất lớn
với gần 700 trạm bơm lớn nhỏ, công suất đảm bảo tiêu cho khoảng 70% diện tích cần tiêu, tuy nhiên tình
trạng úng ngập vẫn thường xuyên xảy ra do chưa chủ động tiêu thoát cho thành phố cả ở khu vực đô thị
và nông nghiệp.
19
THUYẾT MINH TÓM TẮT
Quy hoạch chung xây dựng Tthủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
Bảng 6: Tổng hợp hiện trạng công trình tiêu thành phố Hà NộiHà Nội
TT Khu tiêu Số công trình F cần tiêu (ha) F thực tế (ha)
Tổng 213871 184302
Động lực 693 154811 126126
Tự chảy 59060 58176
I Hữu Đáy 63930 59229
Động lực 518 36416 31718
Tự chảy 27514 27511

độ hiện nay của các khu này từ 5,7m đến 6,5m, trũng hơn các đường bao xung quanh.
- Các làng xóm nằm trong thành phố: nền các làng Kim Liên, làng Hoàng Mai, Thịnh Liệt, Ngọc Hà…
có đặc điểm là có rất nhiều hồ, ao xen kẽ và việc tôn đắp nền rất tự phát, tùy tiện không có quy hoạch.
Việc hình thành hồ ao lặt vặt nhỏ 1-2 ha là do dân đào lấy đất để đắp nền nhà và sân vườn. Vì vậy riêng
nền nhà thường cao còn sân vườn vẫn thấp và thường bị ngập úng về mùa mưa. Đặc điểm nữa là các làng
xóm này thường nằm ở các khu trũng, các đường giao thông bao quanh thường cao hơn như Ngọc Hà,
Liễu Giai, Hoàng Mai, Mai Động, Tân Mai…
- Các khu phát triển mới theo quy hoạch 108: chủ yếu tập trung ở khu vực phía Tây, Nam và Tây Nam
thành phố. Đó là các khu đô thị mới được phát triển trong những năm gần đây như khu Nam Thăng
Long, Trung hòa Nhân Chính, Mỹ Đình, Mễ Trì, Linh Đàm Phần lớn nền được tôn đắp đến cao độ xây
dựng khống chế của các đồ án quy hoạch, có cao độ trung bình từ 6,0m đến 7,0m.
Khu vực huyện Từ Liêm, huyện Thanh Trì:
Ngoại trừ các khu đô thị mới được xây dựng theo quy hoạch, có cao độ nền từ 6,0 – 7,0m thì hầu hết các
khu vực còn lại, bao gồm các khu dân cư làng xóm cũ, các cơ quan xí nghiệp cũ và đồng ruộng có cao độ
nền tương đối thấp. Cụ thể như sau:
Khu vực huyện Thanh Trì: được chia làm 2 vùng địa hình: Vùng phía Đông quốc lộ 1 cũ, có địa hình gần
như bằng phẳng. Các khu vực dân cư, cơ quan, xí nghiệp dọc theo quốc lộ 1 và khu vực làng xóm hiện
có cao độ khoảng 4,8 – 6,9m. Khu vực đồng ruộng có cao độ khoảng 3,8m – 5,1m. Vùng phía Tây quốc
lộ 1 cũ có hướng dốc địa hình chính là hướng Bắc - Nam. Khu vực dân cư làng xóm hiện có cao độ
khoảng 5,2m - 6,8m. Khu vực làng xóm nằm phía Nam tuyến đường sắt vành đai từ ga Văn Điển đi ga
Hà Đông thuộc các xã Tả Thanh Oai, Đại Áng và Vĩnh Quỳnh có cao độ nền khá thấp, khoảng từ 2,9m
-5,2m.
Khu vực huyện Từ Liêm: có hướng dốc địa hình chính là hướng Bắc – Nam và được chia làm 2 vùng địa
hình. Vùng hữu Nhuệ: khu vực dân cư làng xóm, các cơ quan xí nghiệp cao độ nền từ 6,0 – 7,0m. Khu
vực đồng ruộng cao độ nền từ 5,0m – 6,0m, trung bình 5,5m. Vùng tả Nhuệ: phía Bắc Quốc lộ 32 cao độ
nền tương đối cao. Khu dân cư làng xóm, các cơ quan xí nghiệp cũ cao độ nền từ 6,5m – 7,5m. Khu vực
đồng ruộng thấp hơn các khu vực xây dựng từ 0,5 – 1,0m. Phía Nam Quốc lộ 32 có địa hình thấp hơn
khu vực trên, cao độ nền khu vực đồng ruộng từ 4,5m-6,0m, phổ biến là khoảng 5,5m. Khu vực xây
dựng mới cao hơn khu vực đồng ruộng từ 0,5 – 1,0m
+ Khu vực Bắc sông Hồng

một gò cao nổi lên giữa các khu vực trũng thấp hơn xung quanh, gồm khu vực xã Cổ Loa, phía Tây xã
Việt Hùng và phía Đông xã Uy Nỗ. Độ cao tự nhiên phổ biến từ trên 10 đến 13m, trung bình khoảng
11m, một số gò trong khu di tích Cổ Loa lên tới 19m. Trong khi đó xung quanh có cao độ tự nhiên từ 4,2
đến 7,8m, phân biệt rất rõ bằng mắt thường do chênh lệch độ cao từ 2m đến trên 5m.
Xen kẽ giữa các vùng địa hình nói trên là các mảng trũng dọc theo tuyến đầm Vân Trì - sông
Thiếp, sông Hoàng Giang – Ngũ huyện Khê và các dải mương, lạch thoát nước về phía đầm Vâm Trì -
sông Hoàng Giang. Các mảng trũng này có cao độ khoảng 5 - 7m.
. Khu vực phía Đông huyện Đông Anh và huyện Gia Lâm (Bắc Sông Đuống):
Vùng phía Đông và phía Nam huyện Đông Anh: vùng địa hình này có cao độ tự nhiên khoảng 4
– 6m (khu vực làng xóm hiện có cao hơn khoảng 0,5 – 1m), trung bình khoảng 5,3 -5,4m. Địa hình khá
bằng phẳng. Khu vực này là khu vực trũng thấp nhất của huyện Đông Anh, thường xuyên bị úng ngập
khi có mưa lớn.
Vùng huyện Gia Lâm bắc sông Đuống: phần đất phía Tây Bắc Quốc lộ 1A cao độ giảm dần từ
ven sông vào phía trong đồng theo hướng từ Tây Nam sang Đông Bắc và thay đổi cao độ trung bình từ
7,20m đến 5,5m. Phần đất phía Đông Nam Quốc lộ 1A cao độ cũng giảm dần từ ven sông vào phía trong
đồng, từ Tây Bắc xuống Đông Nam và thay đổi cao độ trung bình từ 6,2m đến 4,2m.
. Khu vực quận Long Biên và huyện Gia Lâm Nam sông Đuống:
Cao độ giảm dần từ ven sông vào trong đồng, từ Tây Bắc xuống Đông Nam và thay đổi trung
bình từ 7,2m đến 3,2m. Tại các điểm dân cư cao độ nền thường cao hơn từ 0,4 đến 0,7m so với cao độ
ruộng lân cận.
- Hiện trạng thoát nước đô thị :
So sánh tỷ lệ đường cống so với đầu người ở đô thị trung tâm Hà NộiHà Nội hiện nay khoảng
0,3m/người, so sánh với tỷ lệ của các thành phố ở các nước phát triển khác là khoảng 2m/người thì tỷ lệ
này của Hà NộiHà Nội quá thấp. Trong khu vực thành phố cũ với diện tích khoảng 1080 ha trước năm
1954 có khoảng 74 km đường cống ngầm từ D 400 đến D 1500 và các cống hộp, mật độ cống đạt
69m/ha ,vào loại khá dày.
Sau năm 1954 đến 1995 thành phố mở rộng ra bốn quận nội thành diện tích 4454 ha đã xây dựng thêm
một só tuyến cống ngầm, có khoảng 120 km đường cống từ D400 đến D 2000 mm và cống bản, mật độ
cống chỉ đạt 30 m/ha, nhìn chung tỷ lệ khá thấp. Đến năm 2003, chiều dài cống đã tăng gấp 2,6 lần so
với 1995. Tỷ lệ các tuyến cống so với chiều dài đường phố vẫn còn thấp, 238km cống /400km đường

Chính, Phạm Hồng Thái, Trưng Vương; Chợ cũ, dọc tuyến đường 32 Nguyên nhân chính là do
thiếu cống, kích thước cống nhỏ lại không được bảo dưỡng định kỳ.
Hiện trạng thoát nước: hiện khu vực đang sử dụng hệ thống thoát nước chung. Hệ thống mương cống
thoát nước đô thị chỉ tập trung quanh khu vực thành cổ: phường Quang Trung, phường Lê Lợi và
phường Ngô Quyền. Ngoài ra có một số đoạn cống dọc QL21A thuộc phường Sơn Lộc. Các khu vực
khác hoặc có mương đất, hoặc thoát tự nhiên theo địa hình. Hướng thoát chính ra sông Tích, sông Hang
và hồ Đồng Mô. Tổng chiều dài mương cống khoảng 49264m với các loại kích thước cống tròn BTCT từ
D600-D1000 và mương nắp đan BxH từ 400x600 đến 800x1200.
Khu vực Hoà Lạc:
Hiện trạng nền: có độ dốc tự nhiên ra hồ Tân Xã và ra sông Tích, độ dốc địa hình < 10%. Đặc trưng là
vùng bán sơn địa. Địa hình có dạng trung du đồi thấp, xen lẫn các dải ruộng trũng và khe suối. Hướng
dốc địa hình từ Tây sang Đông.
- Khu dự kiến đại học quốc gia: độ dốc địa hình từ 5 đến 10%, cao độ nền thấp nhất +12,0m , cao độ cao
nhất +43m( trừ núi Múc có cao độ +99,81m). Cao độ trung bình của khu vực này là +25,0m.
- Khu vực dự kiến công nghệ cao: độ dốc địa hình trung bình 5%, cao độ nền thấp nhất ở phía Đông
Nam +3,8m- +10,0m, cao độ cao nhất +22,0m. Địa hình chính là các đồi thoải xen kẽ ruộng cao độ
trung bình 8 – 11,0m.
- Khu dự kiến công nghiệp kỹ thuật cao( lắp ráp và công nghiệp sạch): cao độ nền hiện trạng từ +12,0m
đến +22,0m
Hiện trạng thoát nước: toàn đô thị chưa có hệ thống thoát nước mưa. Mới chỉ có 6 tuyến cống thoát nước
mưa tại khu vực công nghệ cao, dọc 2 bên đường đã được xây dựng (6 tuyến đường A,B,C,D,E,C*) với
kích thước D600mm- D2000mm. Hướng thoát ra các suối trong khu vực, khu trũng liền kề và hồ Tân
Xã.
Khu vực Xuân Mai:
Hiện trạng nền: có địa hình vùng bán sơn địa. Cao độ biến đổi dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ Tây
sang Đông. Có các dạng địa hình ruộng lúa và các núi đá vôi. Cao độ hiện trạng từ +5,0 m đến +100m.
21
THUYẾT MINH TÓM TẮT
Quy hoạch chung xây dựng Tthủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
Hiện trạng thoát nước mưa: Chưa có hệ thống thoát nước mưa. Mới chỉ có một hai tuyến mương nắp đan

bộ vào hệ thống chung của thành phố chưa tốt dẫn đến năng lực của cống không được phát huy và thậm
chí gây úng cục bộ.
- Các khu vực còn lại của Hà NộiHà Nội có thể nói là chưa có hệ thống thoát nước đô thị, chủ yếu theo
địa hình ra khu trũng và tiêu theo chế độ tiêu thoát của thuỷ lợi.
- Hệ thống hồ tương đối nhiều nhưng phân bố không đồng đều. Phần lớn các hồ có xuất xứ hình thành
chủ yếu tự nhiên, hiện nay đang bị san lấp thu hẹp và không được cải tạo nạo vét nên hạn chế khả năng
tham gia điều hòa thoát nước cho thành phố và khu vực. Công tác quản lý hệ thống hồ có nhiều hạn chế .
Về tình trạng úng ngập:
- Tình hình úng ngập tại đô thị vẫn xảy ra thường xuyên khi có mưa lớn do công trình đầu mối có năng
lực kém hoặc chưa có công trình tiêu chủ động.
- Hệ số tiêu quá thấp so với yêu cầu.
- Hệ thống công trình đầu mối và công trình nội đồng chưa đồng bộ. Nhiều kênh tiêu bị xâm hại, lấn
chiếm nghiêm trọng đặc biệt là các kênh mương nội đồng đi qua khu vực đô thị mới và khu công nghiệp.
Có những khu vực các công trình đầu mối đã được đầu tư nhưng hệ thống kênh mương chưa đảm bảo để
tiêu thoát về trạm bơm.
c.2/ Đánh giá đất xây dựng
Căn cứ vào QCXDVN 2008 về Quy hoạch xây dựng , bản đồ địa hình, các yếu tố thuỷ văn, địa chất công
trình của thủ đô Hà NộiHà Nội đánh giá đất xây dựng và phân thành các loại sau :
- Đất đã xây dựng : các loại đất ở, đất chuyên dùng ( trừ đất thuỷ lợi, đất bãi thải) và đất tôn giáo tín
ngưỡng.
- Đất loại I : là loại đất thuận lợi cho xây dựng, đầu tư vào nền ít. Độ dốc địa hình thuận lợi cho xây dựng
0 ≤ i ≤ 10%, cường độ chịu tải của đất tốt R ≥ 1,5 kg/cm2, bị ngập úng ít H < 0,5m.
- Đất loại II do ngập : là loại đất phải đầu tư vào nền tương đối do cường độ chịu tải của đất yếu R <1,0
kg/cm2 ; bị ngập úng từ 0,5m ≤ H ≤ 1,0m.
- Đất loại II do độ dốc: là loại đất có độ dốc nền tự nhiên lớn 8% ≤i ≤ 15% Đây là loại đất tốt R >1,5kg/
cm2, khi xây dựng nên xây theo thềm bậc và phải gia cố mái dốc.
- Đất loại III do ngập: là loại đất ngập nước >1,0m và quanh năm có nước như sông suối, ao hồ
- Đất loại III do địa hình: là đất núi đá, đất có i>15%.
- Đất cấm xây dựng: là đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và đất quân sự.
Bản g 8: tổng hợp đất xây dựng

Thị trấn sinh thái
7 Phúc Thọ 114 520 205 31(MN) 870
8 Chúc Sơn 545 482 36 617 141 1821
9 Quốc Oai 426 9,5 1138,5 6 1580
c. Cấp nước
Nguồn nước: Nước ngầm hiện nay đang là nguồn nước sử dụng chính cho thủ đô Hà NộiHà Nội với
công suất khai thác 700.000 m3/ngđ, cần khai thác nước ngầm hợp lý để tránh sụt lún nền đất đô thị cũng
như do chất lượng nước nhiều khu vực không đảm bảo.
Các nhà máy nước chủ yếu tập trung tại Hà NộiHà Nội cũ, Sơn Tây và Hà Đông. Khu vực Hà NộiHà
Nội cũ Nam sông Hồng có 11 NMN chính với tổng công suất 555.000 m3/ngđ, Bắc sông Hồng có 2
NMN với công suất 37.000 m3/ngđ, Sơn Tây có 2 NMN với tổng công suất 20.000 m3/ngđ, Hà Đông có
2 NMN với tổng công suất 36.000 m3/ngđ. Nhà máy nước sông Đà công suất giai đoạn 1 là:
22
THUYẾT MINH TÓM TẮT
Quy hoạch chung xây dựng Tthủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
300.000m3/ngđ là nguồn cấp nước chính cho Hà NộiHà Nội, đến nay công suất khai thác sử dụng thấp
do mạng lưới cấp nước chưa được xây dựng
Tỷ lệ dân số thủ đô Hà NộiHà Nội được cấp nước máy chiếm tỷ lệ 46%, 54% dân số còn lại sử dụng
nước giếng khoan, giếng đào, nước mưa và ao hồ. Tại Hà NộiHà Nội cũ, Hà Đông và Sơn Tây tỷ lê cấp
nước đạt 68% với tiêu chuẩn cấp nước 100-120 l/ng.ngđ. Tại khu vực nông thôn phần lớn dân cư sử
dụng nước giếng khoan chiếm 57,2%, sử dụng nước giếng đào 24,6%, sử dụng nước từ các trạm cấp
nước tập trung chiếm 15,1% và từ hệ thống cấp nước đô thị là 1,4%.
d. Thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang
d1. Thoát nước thải
Nước thải sinh hoạt khu vực đô thị
- Các đô thị đang sử dụng hệ thống thoát nước chung.
- Các khu đô thị mới có thiết kế cống thoát nước riêng nhưng chưa xây dựng các công trình trên tuyến.
- Tỷ lệ dân đô thi sử dụng bể tự hoại < 80% .
- Toàn thành phố có 4 trạm XLNT sinh hoạt đô thị với tổng công suất thiết kế 46.000÷50.000 m3/ngđ.
Bảng 9: Thống kê các trạm XLNT tập trung trên địa bàn Hà NộiHà Nội

- Thiếu quỹ đất xây dựng cho các trạm XLNT tập trung trong nội thành.
d2. Chất thải rắn
Thu gom CTR:
- Toàn thành phố đã thu gom được 1.079.115 tấn/năm đạt 83,2% tổng lượng CTR phát sinh
Bảng 10: Tổng hợp khối lượng và tỷ lệ thu gom, xử lý CTR năm 2008 (tấn/năm)
Khu vực CTR phát sinh CTR thu gom, xử lý Tỷ lệ thu gom, xử lý (%)
Toàn TP 1296657 1079115 83,22
Hà NộiHà Nội cũ 1086000 936270 86,2
Hà Tây cũ 210657 142845 67,8
- Hà NộiHà Nội đang tiến hành thí điểm phân loại CTR tại nguồn, ở 4 phường nội thị cũ.
Xử lý CTR:
Bảng 11: Tổng hợp các khu xử lý CTR hiện trạng thành phố Hà NộiHà Nội.
STT Công trình Diện tích Quy mô Tình trạng
1 Khu liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn, (huyện Sóc Sơn) 83,5 ha Cấp Vùng Đang hoạt động
2 Nhà máy xử lý rác - Bãi chôn lấp Kiêu Kỵ (huyện Gia Lâm) 10 ha Cấp Huyện Đang hoạt động
3 Khu xử lý chất thải xây dựng Vân Nội - Đông Anh 10 ha Cấp Huyện Đang hoạt động
4 Khu xử lý chất thải xây dựng Thanh Trì 8 ha Cấp Huyện Đang hoạt động
5
Nhà máy sản xuất phân hữu cơ Cầu Diễn ( C/S: 30000m3/năm), huyện
Từ Liêm
2,2 ha Cấp Vùng Đang hoạt động
6 Nhà máy xử lý rác thải Thanh Trì 10 ha Cấp Huyện Chưa hoạt động
7 Bãi Việt Hùng, Đông Anh 10 ha Cấp Huyện Chưa hoạt động
8 Khu xử lý chất thải Công nghiệp (trong khu xử lý CTR Nam Sơn) 5,5 ha Cấp Vùng Đang hoạt động
9
Trạm xử lý nước rác số 1
(trong khu xử lý CTR Nam Sơn)
0,36 ha Đang hoạt động
10 Bãi chôn lấp Núi Thoong 2,0 ha Liên huyện Dừng hoạt động
11 Bãi chôn lấp huyện Ứng Hoà 2,0 ha CấpHuyện Đang hoạt động

Uông Bí (105MW), Ninh Bình (100MW), Cao Ngạn (100MW), Na Dương (100MW) và mới đây là Cẩm
Phả, Quảng Ninh, Hải Phòng (3x300MW) và Sơn Động (220MW).
Hà NộiHà Nội cũng được cấp điện qua hệ thống điện quốc gia từ đường dây 500kV Bắc – Nam, vị trí
đầu tại trạm 500kV Thường Tín với công suất máy biến áp chính là 1x450MVA (năm 2009).
- Hiện trạng lưới truyền tải và trạm điện 220kV đến 500kV
Lưới điện truyền tải 500kV: Từ trạm 500kV Thường Tín có 2 tuyến đường dây 500kV là đường dây Nho
Quan – Thường Tín hiện có và đường dây Quảng Ninh - Thường Tín (mới xây dựng, chuẩn bị đưa vào
vận hành).
Lưới truyền tải và trạm 220KV phát triển mạnh trên địa bàn Hà nộiHà Nội. Hiện có 5 trạm 220kV là Sóc
Sơn, Mai Động, Chèm, Hà Đông, Xuân Mai với tổng công suất 1.875MVA. Đến năm 2009, có 4/5 trạm
220kV kể trên đã xảy ra quá tải. Có 11 tuyến đường dây 220kV cấp điện cho Hà NộiHà Nội, cơ bản đã
tạo thành vành đai khép kín. Do phụ tải tăng cao trong những năm gần đây, chất lượng lưới 220kV
không còn đảm bảo. Các tuyến 220kV từ Hòa Bình đi Hà Đông và từ Thường Tín đi Phố Nối đã xảy ra
quá tải nặng, khi sự cố 1 đường dây, lưới 220kV mất tin cậy dẫn đến phải sa thải phụ tải.
- Lưới điện 110kV và các trạm 110kV khu vực
Toàn thành phố được cấp điện từ 31 trạm 110KV với tổng công suất 2.632MVA. Có 15/31 trạm 110kV
đã xảy ra quá tải, đặc biệt là các trạm 110kV Hà Đông, Gia Lâm, Chèm, Tía, Nghĩa Đô, Thành Công.
Hầu hết các trạm đều có gam máy biến áp chính nhỏ (25-40MVA), khả năng mở rộng hạn chế do thiếu
quỹ đất.
Tổng chiều dài các tuyến 110kV đến cuối năm 2009 đạt 607km, trong đó có 7,8km là cáp ngầm. Có đến
80% các đường dây tiết diện nhỏ (từ 120-185mm2), 14 tuyến (chiếm tỷ lệ 22%) đã xảy ra quá tải thường
xuyên, 9 tuyến vận hành đầy tải. Phần lớn các tuyến đường dây 110kV trong nội thành đều gặp trở ngại
về việc giữ gìn hành lang an toàn vận hành. Khả năng hạ ngầm hoặc cải tạo lưới 110KV rất khó khăn do
hệ thống đường giao thông ách tắc, cản trở lớn cho công tác thi công.
g. Chiếu sáng đô thị
- Lưới điện chiếu sáng đô thị Hà nộiHà Nội phần lớn thuộc sự quản lý và vận hành của công ty chiếu
sáng đô thị Hà nộiHà Nội (Hapulico). Lưới điện chiếu sáng các khu vực đô thị mới sát nhập sau khi mở
rộng thủ đô hiện vẫn được phân cấp cho công ty công trình đô thị hoặc phòng chức năng đô thị quản lý.
- Theo số liệu thống kê tính đến thời điểm 01/01/2009, tổng công suất quản lý của hệ thống chiếu sáng
công cộng các quận nội thành, đường quốc lộ Hà NộiHà Nội đã đạt đến 10.102KW; tổng chiều dài tuyến

Mạng lưới bưu cục, điểm phục vụ bưu chính: 280 bưu cục, 25 kiốt, 108 điểm bưu điện văn hoá xã, 657
đại lý bưu điện và 3226 đại lý điện thoại công cộng. Bán kính phục vụ bình quân 1 km/điểm với phân bố
trung bình 3.660 người/điểm. Mạng vận chuyển bưu chính: 1 Trung tâm bưu chính liên tỉnh và quốc tế
khu vực 1 và các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài cung cấp đầy
đủ các dịch vụ bưu chính sẵn có trên mạng.
2.2.6. Hiện trạng môi trường
2.2.6.1 Đô thị hóa
Trong 10 năm (từ 1999-2009) mật độ dân số Hà NộiHà Nội tăng từ 1.296 người/km
2
đến 1.926
người/km
2
, trong đó mật độ dân số 9 quận Hà NộiHà Nội cũ lên đến 11.759 người/km
2
, đồng thời tỷ lệ
dân số đô thị cũng tăng từ 34,2% đến 40,5%. Dân số đô thị tăng nhanh đang gây áp lực lớn đến tài
nguyên và môi trường.
Nhu cầu nước cho đô thị ngày càng tăng. Hiện nay thành phố Hà NộiHà Nội có 26 nhà máy cấp nước với
tổng công suất là 672.000 m
3
/ngđ gấp gần 27 lần năm 1954. Toàn bộ lượng nước cấp cho sinh hoạt và
công nghiệp được lấy từ nước dưới đất. Mặc dù nhà máy nước sông Đà 300.000 m
3
/ngày đã đưa vào sử
dụng năm 2008 nhưng công suất mới đạt 50.000 m
3
/ngày và cấp cho khu vực phía Tây. Các giếng khoan
nước bị suy thoái, có khoảng 20% số giếng khoan bị giảm lưu lượng và cần cải tạo hoặc thay thế. Khai
thác nước dưới đất đã gây hiện tượng sụt lún mặt đất tại Hà NộiHà Nội, tuy chỉ có tính chất khu vực.
Khu vực có độ sụt lún nhỏ hơn 10 mm/năm có diện tích khoảng 140 km2, chiếm hầu hết phần phía Nam

Đài Tư, Bắc Thăng Long, Nam Thăng Long, Sài Đồng B, Phụng Hiệp, Quốc Oai, Phú Nghĩa) đã cơ bản
hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, chưa kể khu công
nghệ cao Hòa Lạc 1500ha.
Bên cạnh đó Hà NộiHà Nội đã phát triển 20 dự án khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ với tổng diện tích
đất hơn 800 ha. Đến nay đã có 8 cụm đang hoạt động. Trong khu vực Hà Tây (cũ) hiện có 17 CCN đã đi
vào hoạt động với tổng diện tích 635ha. Tuy nhiên các cụm công nghiệp chưa xây dựng hệ thống xử lý
nước thải tập trung, mặc dù đã có trong hồ sơ thiết kế phê duyệt.
Đặc biệt Hà NộiHà Nội hiện đang tồn tại 9 khu công nghiệp cũ với tổng diện tích 387ha: Minh Khai -
Vĩnh Tuy, Trương Định - Đuôi Cá, Văn Điển - Pháp Vân, Thượng Đình, Cầu Diễn - Nghĩa Đô, Gia Lâm
- Yên Viên, Đông Anh, Chèm, Cầu Bươu. Đây là các khu công nghiệp trước đây nằm ở ngoại thành
nhưng trong quá trình mở rộng đô thị đến nay đã nằm trong nội thành với khoảng 200 cơ sở sản xuất
phân tán và công nghệ lạc hậu. Đến nay Hà NộiHà Nội đã di chuyển được 10 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm
nặng và đang di chuyển 6 công ty là Công ty Nhựa Hà NộiHà Nội, Dệt kim Hà NộiHà Nội, Xe đạp xe
máy Đống Đa, Kỹ thuật Điện thông, Dệt kim Thăng Long.
Lưu lượng nước thải từ các khu công nghiệp chiếm hơn 55% tổng lượng nước thải của Hà NộiHà Nội,
khoảng 200.000 - 263.000 m3/ngày. Tuy nhiên hiện nay chỉ mới khoảng 11.500 m
3
nước thải (tương
đương 4,4%) được xử lý.
Mỗi ngày Hà NộiHà Nội thải ra khoảng 750 tấn chất thải rắn công nghiệp, mới thu gom khoảng 637-675
tấn/ngày (85-90%) và mới xử lý khoảng 382-405 tấn/ngày. Trong số đó, chất thải công nghiệp nguy hại
khoảng 97-112 tấn/ngày (chiếm 13-5%), mới thu gom khoảng 58-78,4 tấn/ngày (chiếm 60 -70%).
2.2.6.3 Xây dựng
- Thay đổi sử dụng đất
Quá trình đô thị hóa nhanh nên diện tích đất dành cho sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản giảm đi
đáng kể. Năm 2000 diện tích đất nông nghiệp là 40.152ha, đến năm 2007 giảm đi còn có 37.857ha.
Diện tích đất lâm nghiệp cũng giảm. Rừng và đất lâm nghiệp năm 1998 huyện Sóc Sơn là: 6.630 ha, năm
2007 là: 4557,0 ha (-2073 ha), trên địa bàn tỉnh Hà Tây năm 1998 là 24.650 ha, năm 2007 là: 20.566,7 ha
(-4.083,3 ha). Nguyên nhân là do chuyển đổi từ đất lâm nghiệp sang các loại sử dụng khác.
Trong khi đó đất xây dựng đô thị tăng lên, cụ thể trong địa bàn Hà NộiHà Nội cũ năm 1997 đất xây dựng

Hà NộiHà Nội là nơi gắn liền với những địa danh nổi tiếng về cảnh quan thiên nhiên như: Hồ Tây, hồ
Hoàn Kiếm, hồ Yên Sở, vườn Bách thảo hay những làng hoa, cây cảnh truyền thống, lâu đời. Tuy nhiên,
trong các năm qua, Hồ Tây, hồ Trúc Bạch bị đổ đất lấn chiếm. Năm 1984 Hồ Tây rộng 566 ha đến năm
2001 chỉ còn 446 ha. Hồ Trúc Bạch rộng khoảng 30 ha, đến năm 2001 còn 19 ha. Nhiều hồ như Văn
Chương, Ngọc Hà, Thanh Nhàn, trở thành ao tù, nuớc cạn.
Tình trạng phổ biến ở các đình làng trong nội thành là đất đai bị lấn chiếm như đình Trung Tả, đình Thổ
Quan, đình Thiên Tiên Điển hình như đình Trung Tả diện tích là 1218m2 (năm 1988) nhưng đến năm
1991 thì chỉ còn 525 m
2
. Nhiều nơi cửa chùa biến thành nơi buôn bán, tụ điểm ăn uống, chùa Bích Câu,
chùa Huy Văn, chùa Bộc, chùa Ngũ Xã, chùa Thiền Quang bị mất dần đất vườn.
- Chất thải xây dựng
Các hoạt động xây dựng tại trung tâm Hà NộiHà Nội mỗi ngày phát sinh khoảng 1000 tấn chất thải. Hiện
toàn thành phố có khoảng 410 điểm xây dựng có nguồn phế thải với trên 100 điểm tập kết phế thải xây
dựng. Phế thải xây dựng thiếu nơi đổ nên người dân thường đổ ở bờ sông và khu vực đất trống, làm cho
hầu hết các con sông trên địa bàn Hà NộiHà Nội đều bị ô nhiễm và thu hẹp dần. Những khu vực mới
phát triển như Thanh Xuân, Cầu Giấy, Từ Liêm, Long Biên là những tụ điểm đổ phế thải xây dựng gây
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
- Nghĩa trang, mai táng
Hệ thống nghĩa trang đô thị được xây dựng thiếu quy hoạch, thiếu cơ chế quản lý dẫn đến tình trạng xây
dựng nghĩa trang thiếu đồng bộ, đặc biệt nhiều nghĩa trang đã nằm lọt vào các khu đô thị mới (Định
Công, Linh Đàm, Pháp Vân, Nam Thang Long đều nằm sát nghĩa trang). Nghĩa trang Văn Điển, Mai
Dịch cũng nằm sát đô thị.
Hiện tượng lấn chiếm đất nghĩa trang diễn ra khá phổ biến. Việc lấn chiếm đất và chôn cất lộn xộn đã
dẫn đến tình trạng lãng phí quỹ đất rất lớn và nan giải trong giải phóng mặt bằng khi phát triển đô thị.
Tình hình xử lý ô nhiễm môi trường trong các nghĩa trang chưa được chú ý nhiều đã dẫn đến các hiện
tượng ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, ô nhiễm đất tại các khu vực xung quanh các nghĩa trang, như nghĩa
trang Văn Điển.
2.2.6.4 Giao thông
Hiện nay tỷ lệ sử dụng xe ôtô con ở Hà NộiHà Nội đạt 43 xe/1000 dân, tỷ lệ này còn thấp so với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status