Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá '05-'06
Phân tích tài chính
Bài đọc
Tài chính công ty
Chương 15 Chi phí sử dụng vốn
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 1 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN
Eastman là công ty hoá chất và nhà sản xuất nhựa đóng gói hàng đầu. Công ty thành
lập ngày 31.12.1993, khi công ty mẹ Estman Kodak tách chi nhánh này thành công ty
độc lập. Ngay sau đó, công ty hoá chất Eastman áp dụng chương trình khuyến khích
nhân viên. Tất cả mọi người, từ nhưững người làm theo giờ cho tới tổng giám đốc
(CEO), đều nhận được một phần thưởng dựa trên chênh lệch giữa suất sinh lợi trên vốn
và chi phí sử dụng vốn. Với cách tiếp cận này, Eastman cũng như nhiều công ty khác
đã đã gắn các khoản đền bù với kết quả công việc mang lại một suất sinh lợi phù hợp
cho các nhà đầu tư. Trong chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu cách tính chi phí sử dụng
vốn và ý nghĩa của nó với công ty và các nhà đầu tư
Giả sử bạn vừa trở thành chủ tịch của một công ty lớn và việc đầu
tiên bạn phải quyết định liên quan tới kế hoạch cải tạo lại hệ thống
kho hàng. Kế hoạch này sẽ tiêu tốn 50 triệu đô la và nó sẽ giúp tiết
kiệm 12 triệu đô la sau thuế mỗi năm trong 6 năm.
Đây là một vấn đề quen thuộc trong việc hoạch định vốn. Để giải
quyết nó, bạn cần xác định ngân lưu liên quan, chiết khấu chúng, và,
nếu giá trị hiện tại (NPV) dương, thực hiện dự án; nếu NPV âm, bạn
loại bỏ dự án. Nhưng vấn đề ở đây là suất chiết khấu sẽ được sử dụng
là bao nhiêu?
Chúng ta đã biết trong phần rủi ro và lợi nhuận, suất chiết khấu
đúng phụ thuộc vào mức độ rủi ro của dự án cải tạo hệ thống kho
thuế tác động như thế nào tới việc ước tính chi phí sử dụng vốn.
15.1 CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN - CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Trong chương 13 chúng ta đã nghiên cứu về đường thị trường
chứng khoán (SML) để khám phá mối tương quan giữa lợi nhuận kỳ
vọng và rủi ro hệ thống của nó. Chúng ta tập trung xem xét quan
điểm của cổ đông công ty nhìn nhận lợi tức rủi ro từ việc mua chứng
khoán - điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn những giải pháp thay thế
trên thị trường vốn mà nhà đầu tư có thể lựa chọn.
Trong chương này, chúng ta xem xét tương quan giữa chứng khoán
và lợi nhuận từ quan điểm của chính công ty phát hành. Điểm quan
trọng cần lưu ý ở đây là lợi nhuận nhà đầu tư thu được từ đầu tư
chứng khoán chính là chi phí của công ty phát hành chứng khoán đó.
Lợi nhuận yêu cầu và Chi phí sử dụng vốn
Khi chúng ta nói suất sinh lợi đầu tư yêu cầu là 10% nghĩa là dự án
đầu tư này có NPV dương chỉ khi lợi nhuận thu hồi cao hơn 10%.
Một cách giải thích khác về suất sinh lợi là công ty cần phải thu được
mức lợi nhuận 10% để trả cho các nhà đầu tư vì đã sử dụng vốn của
họ cho dự án này. Chính vì thế chúng ta có thể nói 10% là chi phí sử
dụng vốn của dự án đầu tư này.
Để có thể hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng ta giả sử đang thẩm định
một dự án phi rủi ro. Trong trường hợp này việc xác định suất sinh lợi
rất rõ ràng: chúng ta sử dụng mức lợi nhuận trên thị trường của các
dự án phi rủi ro để chiết khấu dòng tiền dự án. Vì vậy, chi phí sử
dụng vốn của dự án phi rủi ro là lãi suất phi rủi ro.
Nếu dự án có tính rủi ro, trong khi giả sử các điều kiện khác không
đổi thì mức sinh lợi yêu cầu chắc chắn sẽ cao hơn. Nói một cách
khác, chi phí sử dụng vốn của dự án có tính rủi ro sẽ cao hơn lãi suất
phi rủi ro.
Từ đây về sau các thuật ngữ mức sinh lợi yêu cầu, suất chiết khấu
dụng vốn thể hiện chi phí sử dụng nợ vay và chi phí sử dụng vốn chủ
sở hữu. Chúng ta sẽ nghiên cứu riêng hai loại chi phí này trong phần
tiếp theo.
Câu hỏi khái niệm
15.1a Yếu tố nào là quyết định cơ bản của chi phí sử dụng vốn cho
một khoản đầu tư
15.1b Quan hệ giữa lợi nhuận yêu cầu với chi phí sử dụng vốn của
một khoản đầu tư là gì?
15.2 CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN CHỦ SỞ HỮU
Chi phí sử
dụng vốn chủ
sở hữu: Mức
lợi nhuận yêu
cầu trên khoản
đầu tư của các
cổ đông
Chúng ta bắt đầu với câu hỏi khó nhất của chủ đề về chi phí sử
dụng vốn: Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu chung là gì ? Lý do là vì
không có cách nào trực tiếp quan sát được mức lợi nhuận yêu cầu của
các nhà đầu tư. Thay vào đó, chúng ta phải ước lượng chúng. Phần
này nghiên cứu về 2 cách thức xác định chi phí sử dụng vốn chủ sở
hữu: mô hình tăng trưởng cổ tức và đường thị trường chứng khoán
SML.
Mô hình tăng trưởng cổ tức
Cách dễ nhất để xác định chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là sử
dụng mô hình tăng trưởng cổ tức trong chương 8. Với giả định cổ tức
của công ty tăng trưởng với tốc độ không đổi g, công thức tính giá cổ
phiếu P
D là cổ tức vừa chi trả và
1
D là cổ tức dự kiến chi trả kỳ tới.
E
R là mức lợi nhuận yêu cầu của cổ phiếu. Chúng ta có thể viết lại
như sau
g
P
D
R
E
+=
0
1
[]
1.15
Vì
E
R là mức lợi nhuận trên cổ phiếu nhà đầu tư yêu cầu, nó cũng
có thể được hiểu là chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu của công ty.
Triển khai mô hình Để xác định
E
R bằng mô hình tăng trưởng
cổ tức, chúng ta cần 3 thông số sau:P
0
, D
0
,g.
2
D là:
24.4$06.1*4$)1(
01
=
=
+
= gDD
Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu
E
R
là:
%07.1306.060/24.4$/
01
=
+
=
+
= gPDR
E
Ước lượng g Để sử dụng mô hình tăng trưởng cổ tức, chúng ta cần
xác định g - tốc độ tăng trưởng. Có 2 cách cơ bản để làm điều này: (1)
sử dụng tốc độ tăng trưởng trong quá khứ (2) sử dụng dự báo của các
nhà phân tích về tốc độ tăng trưởng tương lai. Dự báo của các nhà
phân tích có thể tìm thấy ở nhiều nguồn khác nhau. Trên thực tế, dữ
liệu từ nhiều nguồn khác nhau sẽ khác nhau, chính vì vậy chúng ta sẽ
ước tính con số trung bình của các dự báo này.
Hoặc một cách khác, chúng ta lấy giá trị cổ tức trong quá khứ, giả
sử là 5 năm để tính tốc độ tăng trưởng,sau đó lấy giá trị trung bình.
ổ
tức
2001 1.10
2002 1.20
2003 1.35
2004 1.40
2005 1.55
Chúng ta tính toán tỷ lệ thay đổi qua các năm
NămC
ổ
tức
T
hay đ
ổ
i% thay đ
ổ
i
2001 1.10
2002 1.20 0.10 9.09%
2003 1.35 0.15 12.50%
2004 1.40 0.05 3.70%
2005 1.55 0.15 10.71%
Trong năm 2002,giá trị cổ tức tăng thêm đô la0.10 hay 9.09%.
Nếu lấy trung bình của 4 mức tăng trưởng, kết quả là
(9.09+12.5+3.7+10.71)/4= 9%. Đây là tốc độ tăng trưởng g. Lưu ý
rằng đây là giá trị trung bình theo cách tính số học đơn giản. Theo
chương 12, chúng ta có thể tính tốc độ tăng trưởng theo cách số nhân
là 8.95% với cổ tức tăng từ đô la1.10 tới đô la1.55 trong 4 năm.
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 6 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
Cuối cùng,mô hình này không tính đến mức độ rủi ro. Không
giống như mô hình SML, ở đây không có sự điều chỉnh cho tính rủi
ro của dự án. Ví dụ, mô hình không đưa ra mức độ chắc chắn và
không chắc chắn xung quanh tốc độ tăng trưởng dự đoán của cổ tức.
Và kết quả là rất khó xác định liệu mức lợi nhuận ước tính có tương
xứng với mức độ rủi ro hay không
3
.
Mô hình SML
Trong chương 13, chúng ta đã bàn luận về đường thị trường chứng
khoán SML. Theo mô hình này, mức lợi nhuận kỳ vọng của đầu tư
rủi ro phụ thuộc vào 3 yếu tố:
1.
Lãi suất phi rủi ro
f
R
2.
Phần bù rủi ro thị trường
fM
RRE
−
)(
3.
β
[]
2.15
Triển khai mô hình Để sử dụng mô hình SML, chúng ta cần có lãi
suất phi rủi ro
f
R ,ước tính mức đền bù rủi ro thị trường
fM
RR − và
hệ số
E
β
. Trong chương 12 (Bảng 12.3), chúng ta đã tính mức đền
bù rủi ro thị trường (dựa trên những cổ phiếu thông dụng lớn) là
8.6%. 1.5% là lãi suất tín phiếu kho bạc Mỹ chi trả tại thời điểm – và
được sử dụng là lãi suất phi rủi ro. Hệ số
β
của các công ty kinh
doanh trên thị trường phổ thông được cung cấp từ nhiều nguồn khác
nhau
4
.
dụng vốn chủ sở hữu của GM được ước tính như sau:
)(
fMGMfGM
RRRR
−
+
=
β
= 1.5%+1.25*8.6%
= 12.25%
Ưu nhược điểm của mô hình Mô hình SML có 2 ưu điểm cơ bản.
Thứ nhất, nó điều chỉnh được theo mức độ rủi ro. Thứ hai nó có thể
áp dụng với nhiều công ty không có tốc độ tăng trưởng ổn định. Như
vậy,mô hình này có thể sử dụng trong nhiều trường hợp.
Mô hình SML cũng có những hạn chế của nó. Mô hình này đòi hỏi
ước tính 2 thông số: phần bù rủi ro thị trường và hệ số beta. Nếu các
tính toán của chúng ta không đúng, chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu sẽ
bị sai lệch. Ví dụ, chúng ta tính toán mức đền bù rủi ro 8.6% dựa trên
số liệu lợi nhuận trong vòng 80 năm của một danh mục cổ phiếu cụ
thể. Nếu số liệu thời gian và danh mục cổ phiếu khác đi, kết quả cũng
sẽ chệch đi khá nhiều.
Cuối cùng, giống như mô hình tăng trưởng cổ tức, mô hình SML
cũng dựa vào số liệu quá khứ để dự đoán tương lai. Vì các điều kiện
kinh tế có thể thay đổi rất nhanh nên dữ liệu quá khứ chưa chắc đã là
định hướng tốt cho tương lai. Nếu trong trường hợp cả hai mô hình
này có thể ứng dụng và kết quả đưa ra là giống nhau chúng ta cần
phải tin tưởng vào kết quả tính toán của mình. Chúng ta cũng nên so
sánh với các công ty khác tương tự để kiểm tra tính thực tế của con số
dự đoán.
Tài chính công ty
Chương 15 Chi phí sử dụng vốn
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 8 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
g
P
D
R
E
+=
0
1
=2.16 ơ rô /30+0.08=15.2%
Hai ước tính của chúng ta gần giống nhau và giá trị trung bình 15.4%
là chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu của Thatcher Machine PLC
Câu hỏi khái niệm
15.2a Khi chúng ta nói chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu của công ty là
16%- điều đó có ý nghĩa gì ?
15.2b Hai cách tính toán chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu ?
15.3 CHI PHÍ NỢ VÀ CỔ PHIẾU ƯU ĐÃI
Ngoài vốn chủ sở hữu thông thường, công ty còn sử dụng nợ hoặc ở
mức độ ít hơn là cổ phiếu ưu đãi để tạo vốn hoạt động. Trong phần
tiếp theo chúng ta sẽ thấy việc xác định chi phí sử dụng vốn của các
nguồn tài chính này sẽ đơn giản hơn chi phí sử dụng vốn của công ty
Chi phí sử
dụng nợ
Là mức lợi
chúng ta cần phải nhìn vào mức lãi suất của khoản nợ vay trên thị 5
Chi phí sử dụng nợ vay của công ty được xác định dựa theo số liệu quá khứ được gọi là chi phí sử dụng nợ
vay embedded
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá '05-'06
Phân tích tài chính
Bài đọc
Tài chính công ty
Chương 15 Chi phí sử dụng vốn
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 9 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
trường tại thời điểm hiện tại. Để thống nhất về ký hiệu chúng ta sử
dụng
D
R là chi phí khoản nợ vay.
Ví dụ 15.2 >> Chi phí sử dụng nợ vay
Giả sử Tổng công ty thiết bị phát hành trái phiếu kỳ hạn 30 năm với
lãi suất 7% cách đây 8 năm. Tại thời điểm này trái phiếu được bán
với giá 96% của mệnh giá hay 960 đô la. Vậy chi phí khoản nợ vay
của công ty là bao nhiêu ?
Quay lại chương 7,chúng ta cần phải tính lãi suất đáo hạn của trái
phiếu này. Vì trái phiếu được bán với giá chiết khấu nên lãi suất sẽ
cao hơn 7% nhưng không quá cao vì mức chiết khấu không nhiều.
Lãi suất đáo hạn của trái phiếu khoảng 7.37%, giả định trả lãi hàng
năm - và đây chính là chi phí sử dụng nợ vay của công ty
Chi phí cổ phiếu ưu đãi
0
/ PDR
p
=
= 1.3 đô la/23.78
= 5.5%
Với đợt phát hành thứ hai, chi phí cổ phiếu ưu đãi là:
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá '05-'06
Phân tích tài chính
Bài đọc
Tài chính công ty
Chương 15 Chi phí sử dụng vốn
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 10 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
0
/ PDR
p
=
= 1.46 đô la/24.30
= 6%
Như vậy chi phí cổ phiếu ưu đãi của công ty dao động trong khoảng
5.5% tới 6%
Câu hỏi khái niệm
15.3a Cách tính chi phí sử dụng nợ vay?
15.3b Cách tính chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi?
15.3c Tại sao lãi suất công bố lại không dùng để tính chi phí sử dụng
nợ vay?
15.4 CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN TRUNG BÌNH
Chương 15 Chi phí sử dụng vốn
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 11 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
V=E+D
[
]
4.15
Chia cả 2 vế cho V, ta có được trọng số của từng loại hình vốn
100%=E/V+D/V
[
]
5.15
Tỷ lệ này có thể được hiểu là trọng số danh mục vốn hay
trọng số
cơ cấu vốn
Ví dụ nếu tổng giá trị thị trường của cổ phiếu công ty là 200tr đô la
và giá trị thị trường của khoản vay là 50tr đô la - tổng giá trị sẽ là
250tr đô la. Trong số đó E/V=80% hay 80% tài chính công ty được
huy động từ nguồn vốn chủ sở hữu, 20% còn lại từ việc huy động các
khoản nợ vay.
Ở đây chúng tôi cần nhấn mạnh cách đúng nhất để làm những phân
tích này là việc sử dụng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu và nợ
vay. Trong một số hoàn cảnh cụ thể, ví dụ như tính toán cho các công
ty tư nhân, việc có những con số đáng tin cậy khó có thể thực hiện
được. Trong những trường hợp đó, chúng ta có thể sử dụng giá trị sổ
sách cho nợ và vốn chủ sở hữu.
Thuế và chi phí sử dụng vốn trung bình
Dòng tiền sau thuế luôn là vấn đề tài chính đáng quan tâm. Nếu
chúng ta quyết định mức chiết khấu hợp lý cho dòng tiền này, mức
)1(**)/(*)/(
CDE
TRVDRVEWACC
−
+
=
[]
6.15
Đây là lợi nhuận yêu cầu mà công ty cần nhận được trên giá trị tài
sản hiện có để duy trì giá trị vốn. Đây cũng là tỷ lệ lợi nhuận cần có
của bất kỳ dự án đầu tư nào có cùng mức độ rủi ro với các hoạt động
hiện tại. Chính vì thế, nếu chúng ta ước tính dòng tiền của dự án mở
rộng hoạt động hiện tại thì đây chính là mức chiết khấu cần sử dụng.
Nếu công ty sử dụng cổ phiếu ưu đãi trong cấu trúc vốn của mình,
công thức tính WACC cần thêm phần mở rộng.
)1(**)/(*)/(R*(E/V)CC
E CDP
TRVDRVPWA −
+
+
=
[]
7.15
P/V là tỷ trọng vốn của cổ phiếu ưu đãi và
P
R
là chi phí sử dụng cổ
phiếu ưu đãi.
Ví dụ 15.4>> Cách tính WACC
Công ty B.B.Lean có 14 triệu cổ phiếu đang lưu hành. Giá cổ phiếu
Phân tích tài chính
Bài đọc
Tài chính công ty
Chương 15 Chi phí sử dụng vốn
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 13 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
chúng tôi là hướng dẫn từng bước quá trình tìm kiếm và sử dụng
thông tin cần thiết qua nguồn tin on-line. Như các bạn sẽ thấy, có khá
nhiều chi tiết liên quan nhưng những thông tin cần thiết thường có
sẵn.
Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu của Eastman Bước đầu tiên là các
con số thống kê quan trọng của Eastman có thể tìm thấy tại
www.finance.yahoo.com
(ticker: EMN). Một số thông tin liên quan
tìm thấy trong bảng sau
Theo bảng thông số trang bên, Eastman có 77tr cổ phiếu đang lưu
hành. Giá trị sổ sách/cổ phiếu là12.861 đô la nhưng giá giao dịch trên
thị trường là 46.23 đô la. Tổng giá trị vốn chủ sở hữu trên sổ sách là
990tr đô la nhưng giá trị trên thị trường tương đương 3.570 tỷ đô la.
Để ước tính chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu của Eastman chúng ta
giả sử phần bù rủi ro thị trường là 8.6%. Hệ số beta của công ty trên
Yahoo! là 0.908, hơi thấp hơn so với hệ số trung bình. Chúng ta có
thể kiểm tra thông số này tại địa chỉ www.hoovers.com
và
www.moneycentral.msn.com
. Hệ số beta tại địa chỉ này là 0.9 nên
chúng ta sử dụng số liệu trên Yahoo!. Theo bộ phận trái phiếu của
www.finance.yahoo.com
23.46
)51.01(*76.1
=+
+
=
E
R
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá '05-'06
Phân tích tài chính
Bài đọc
Tài chính công ty
Chương 15 Chi phí sử dụng vốn
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 15 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
Hai cách tính đưa ra chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu này gần giống
nhau; tuy nhiên không phải lúc nào cũng thế. Mỗi mô hình tính toán
lại dựa vào các giả định khác nhau nên kết quả ước tính khác nhau
không phải là điều đáng ngạc nhiên. Có 2 cách giải quyết đơn giản:
một là chúng ta chỉ lấy một chỉ số dựa vào tính hợp lý của từng con
số; hai là chúng ta lấy giá trị trung bình. Với cách tính này, chi phí sử
dụng vốn chủ sở hữu của Eastman là 9.15%. Chúng ta sẽ sử dụng chỉ
7.00% 2012 257 108.19 5.69
6.30% 2018 405 98.54 6.46
7.60% 2024 496 109.12 6.80
7.625% 2024 200 112.76 6.48
7.60% 2027 297 104.81 6.80
Để tính giá trị trung bình chi phí sử dụng nợ vay, chúng ta lấy tỷ lệ
của từng loại trái phiếu nhân với lãi suất đáo hạn. Chi phí sử dụng nợ
vay trung bình trọng số sẽ là tổng của những giá trị này. Chúng ta sử
dụng giá trị sổ sách và giá trị thị trường để so sánh
6
Bạn có thể thắc mắc tại sao trái phiếu lãi suất 7.625% đáo hạn năm 2024 lại có lãi suất đáo hạn thấp hơn 2
loại trái phiếu có cùng thời gian đáo hạn khác? Lý do là loại trái phiếu này có put feature. Loại đặc tính này
đảm bảo quyền lợi của người mua nhiều hơn nên giá sẽ cao hơn và vì thế lãi suất đáo hạn thấp hơn.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá '05-'06
Phân tích tài chính
Bài đọc
Tài chính công ty
Chương 15 Chi phí sử dụng vốn
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 16 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
Lãi suất
công bố
Giá trị s
Trên sổ sách, giá trị vốn chủ sở hữu và giá trị nợ vay của Eastman
tương ứng là 0.99 tỷ đô la và 1.905 tỷ đô la.Như vậy tỷ lệ vốn chủ
sở hữu là 34% và nợ vay là 66%. Với thuế suất là 35%, ta có WACC
như sau
WACC= 0.34*9.15%+0.66*6.29%*(1-0.35)
= 5.81%
Nếu sử dụng giá trị thị trường, WACC sẽ cao hơn. Theo giá trị thị
trường, giá trị vốn chủ sở hữu và nợ vay tương ứng là 3.57 tỷ đô la và
1.992 tỷ đô la hay vốn chủ sở hữu chiếm 64% và nợ vay là 36%.
WACC= 0.64*9.15%+0.36*6.29%*(1-0.35)
= 7.33%
Theo giá trị thị trường, chi phí sử dụng vốn của Eastman cao hơn
tới 1.5% so với giá trị sổ sách.
Ví dụ này cho thấy việc sử dụng giá trị sổ sách có thể gây rắc rối
nhất là với vốn chủ sở hữu. Trong chương 3 chúng ta đã bàn tới tỷ số
thị trường - sổ sách ( tỷ lệ của giá trị cổ phiếu theo thị trường và theo
sổ sách). Tỷ số này thường lớn hơn 1. Trong trường hợp của Eastman
tỷ lệ này là 3.6; như vậy giá trị sổ sách rõ ràng đã cường điệu hoá tỷ
trọng vốn từ phần nợ vay. Hơn nữa, nếu chúng ta tính WACC cho
công ty không giao dịch trên thị trường phổ thông, chúng ta cần phải
tham khảo tỷ số thị trường-sổ sách của các công ty phổ thông
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá '05-'06
Phân tích tài chính
Bài đọc
Tài chính công ty
Chương 15 Chi phí sử dụng vốn
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 17 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
dự án đầu tư thay thế với việc cải tạo hệ thống kho hàng nghĩa là có
mức độ rủi ro tương đương.
WACC phản ánh rủi ro và cấu trúc vốn mục tiêu của toàn bộ tài
sản công ty. Nói một cách chính xác, WACC là suất chiết khấu hợp lý
chỉ khi dự án đầu tư đề xuất có mức độ tương đồng với hoạt động
hiện tại của công ty.
Chúng ta giả sử dự án kho hàng mới là một phần trong kế hoạch
kinh doanh tổng thể của công ty. Trong trường hợp đó, số tiền tiết
kiệm hàng năm sau khi kho hàng hoạt động sẽ có cùng mức độ rủi ro
của dòng tiền chung của công ty.
Giả sử công ty có tỷ lệ nợ - vốn chủ sở hữu mục tiêu là D/E=1/3
nghĩa là E/V=0.75 và D/V=0.25. Chi phí sử dụng nợ vay là 10% và
chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là 20%. Với thuế suất 34%, chúng ta
có
)1(**)/(*)/(
CDE
TRVDRVEWACC
−
+
=
= 0.75*20%+0.25*10%*(1-0.34)
= 16.65%
Chi phí đầu tư ban đầu của dự án là 50 tr đô la và ngân lưu sau
thuế kỳ vọng hàng năm là 12 tr đô la trong vòng 6 năm.
621
WACC)1(
12
WACC)1(
12
E
+
=
01
/
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá '05-'06
Phân tích tài chính
Bài đọc
Tài chính công ty
Chương 15 Chi phí sử dụng vốn
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 19 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
Trong đó
1
D là cổ tức kỳ vọng, g là tốc độ tăng trưởng cổ tức g và
0
P là giá cổ phiếu hiện hành
B.
Mô hình SML (chương 13)
[
]
fMEfE
RRRR
−
+
=
β
)1(**)/(*)/(
CDE
TRVDRVEWACC
−
+
=
Trong đó,
C
T là thuế suất, E là giá trị thị trường của vốn chủ sở
hữu, D là giá trị thị trường của nợ vay và V=E+D. E/V là tỷ trọng
vốn chủ sở hữu và D/V là tỷ trọng vốn vay trong cấu trúc vốn
công ty.
Ví dụ 15.5 >> Cách áp dụng WACC
Công ty đang cân nhắc một dự án sẽ đem lại nguồn ngân lưu sau thuế
sau năm đầu tiên là 5tr uôn. Nguồn thu này sẽ tăng 5% hàng năm. Hệ
số nợ - vốn chủ sở hữu là 0.5, chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu 29.2%,
chi phí sử dụng nợ vay là 10%. Dự án này có mô hình gần giống với
hoạt động kinh doanh của công ty, nên được coi là có mức độ rủi ro
tương đương. Liệu công ty có nên chấp nhận dự án này không?
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá '05-'06
Phân tích tài chính
Bài đọc
Tài chính công ty
Chương 15 Chi phí sử dụng vốn
S.A.Ross, R.W. Westerfield & B.D. Jordan 20 Biên dịch: Lê Lan Anh
Hiệu đính: Huỳnh Thế Du
Với thuế suất 34%, công ty chỉ nên chấp nhận dự án này khi khoản
Thông tin chi
tiết về EVA có
thể tìm thấy tại
địa chỉ
www.sternstewart.com
Đánh giá kết quả hoạt động- một cách áp dụng khác của WACC
Quay lại ví dụ về Eastman Chemical, chúng ta xem xét một cách áp
dụng WACC khác: đánh giá kết quả hoạt động. Có lẽ cách tốt nhất là
phương pháp giá trị gia tăng kinh tế (EVA) do Stern Stewart phát
triển và được các công ty như AT&T, Coca-Cola, Quacker Oats,
Briggs và Stratton sử dụng trong việc đánh giá kết quả hoạt động của
công ty. Các cách khác có thể kể đến bao gồm giá trị gia tăng thị
trường (MVA) và giá trị gia tăng cổ đông (SVA).
Mặc dù có khác nhau, ý tưởng cơ bản đằng sau EVA và các chiến
lược tương tự thật ra rất dễ hiểu. Giả sử chúng ta có nguồn vốn 100 tr
đô la bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ vay cố định trong công ty của
chúng ta, WACC là 12%. Nghĩa là lợi nhuận yêu cầu là 12 tr đô la.
Quay lại chương 2, nếu ngân lưu thu được từ tổng tài sản <12 tr đô la
– chúng ta đang làm suy giảm giá trị đồng vốn; ngược lại, nếu ngân
lưu thu được >12 tr đô la - chúng ta đang tạo thêm giá trị.
Trên thực tế, những chiến lược đánh giá kiểu này có thể vấp phải
một số vấn đề triển khai. Ví dụ, dường như Eastman Chemical và các
công ty khác sử dụng nhiều giá trị sổ sách của nợ vay và vốn chủ sở
hữu trong các tính toán chi phí sử dụng vốn. Tuy nhiên, bằng cách tập
trung vào việc tạo thêm giá trị, phương pháp đánh giá dựa trên
WACC bắt buộc toàn bộ công ty quan tâm đến điểm mấu chốt thực
sự: đó là gia tăng giá trị cổ phiếu.
Câu hỏi khái niệm
công ty, việc sử dụng WACC có thể dẫn tới những quyết định sai
lầm. Hình 15.1 sẽ giúp diễn giải lý do này.
Trong hình 15.1, đường SML mô tả lợi nhuận phi rủi ro = 7% và
phần bù rủi ro thị trường = 8%. Để đơn giản hoá, chúng ta coi vốn
chủ sở hữu có hệ số beta=1. WACC và chi phí sử dụng vốn chủ sở
hữu cùng = 15% vì công ty không sử dụng nợ.
Hình 15.1 >>
Đường SML
và WACC
Nếu công ty sử dụng WACC để ra quyết định chấp nhận - loại bỏ cho
15
16
14
Sai lầm
loại bỏ
A
B
Sai lầm
chấp nhận
R
f
=7
của
công ty và lợi nhuận kỳ vọng 14%. Liệu đây có phải là một dự án tốt?
Câu trả lời là có vì lợi nhuận yêu cầu của dự án này chỉ là 11.8%
[
]
fMEfE
RRRR
−
+
=
β
= 7%+0.6*8%
= 11.8%
Tuy nhiên nếu lấy WACC làm ngưỡng lựa chọn (cut-off) thì dự án
này sẽ bị loại bỏ vì lợi nhuận thu về <15%. Ví dụ này cho thấy công
ty có thể loại bỏ dự án có lợi nhuận với độ rủi ro ít hơn.
Với điểm B, dự án này có
2.1
=
β
và lợi nhuận thu hồi là 16% cao
hơn chi phí sử dụng vốn của công ty. Tuy nhiên đây lại không phải là
một dự án tốt vì với độ rủi ro này, mức lợi nhuận như vậy lại không
hợp lý. Nhưng nếu theo đánh giá của chỉ số WACC thì dự án này lại
có vẻ hấp dẫn. Như vậy sai sót thứ hai có thể xảy ra khi lấy WACC
làm ngưỡng lựa chọn (cut-off) là chúng ta chấp nhận dự án có độ rủi
ro cao hơn với lợi nhuận ít hơn.
Chi phí sử dụng vốn của từng bộ phận chức năng
Vấn đề liên quan tới WACC có thể xảy ra với công ty có nhiều mảng
số của các
công ty kinh
doanh cùng
dòng sản phẩm
Phương pháp chuyên ngành (Pure Play)
Chúng ta đã thấy việc sử dụng WACC không đúng sẽ dẫn tới nhiều
vấn đề. Vậy bằng cách nào chúng ta xác định được mức chiết khấu
hợp lý trong những trường hợp như vậy. Vì chúng ta không quan sát
được mức lợi nhuận của những đầu tư đó nên không có cách nào trực
tiếp tính được những hệ số beta. Thay vào đó, việc cần phải làm là
khảo sát những dự án bên ngoài có cùng mức độ rủi ro và sử dụng tỷ
lệ lợi nhuận thị trường của những dự án đó làm hệ số chiết khấu.
Quay lại với ví dụ về công ty điện thoại, giả sử chúng ta muốn
xác định mức chiết khấu của bộ phận này. Việc chúng ta có thể làm là
tìm ra một số công ty điện thoại khác đang có cổ phiếu phát hành trên
thị trường chứng khoán. Một công ty điện thoại tiêu biểu có hệ số
beta 0.80, nợ vay xếp hạng AA và tỷ số nợ - vốn chủ sở hữu là 1/1.
Sử dụng những thông tin này, chúng ta có thể tính được WACC của
một công ty điện thoại và dùng nó làm mức chiết khấu.
Nếu nghĩ tới việc đầu tư một loại hình kinh doanh mới, chúng ta
nên xác định mức chi phí sử dụng vốn hợp lý bằng cách xem xét lợi
nhuận thị trường của những công ty đang có hoạt động kinh doanh
tương tự. Trong ngôn ngữ của phố Wall, công ty chỉ tập trung vào
một ngành kinh doanh được gọi là chuyên ngành (
pure play). Ví dụ,
nếu bạn mua cổ phiếu thường vì tin chắc dầu thô sẽ giữ giá, bạn sẽ
phải xác định những công ty chỉ kinh doanh mặt hàng này vì họ sẽ bị
ảnh hưởng nhiều nhất khi giá dầu thay đổi. Những công ty như vậy
được gọi là chuyên ngành (
pure play) trong hệ thống giá dầu thô.
Phương pháp mang tính chủ quan
Vì có những khó khăn trong việc tính toán khách quan suất chiết khấu
cho các dự án độc lập, công ty thường chọn phương pháp điều chỉnh
chủ quan cho cách tính WACC. Ví dụ công ty có WACC = 14%. Tất
cả các dự án được xếp vào 4 loại như sau
Loại Ví dụ Nhân tố
hiệu chỉnh
Mức chiết
khấu
Rủi ro cao Sản phẩm mới +6% 20%
Rủi ro trung
bình
Tiết kiệm chi phí, mở rộng
sản xuất
0% 14%
Rủi ro thấp Thay thế thiết bị hiện hành -4% 10%
Bắt buộc Thiết bị kiểm soát ô nhiễm N/A N/A
Hiệu ứng của sự phân loại đơn giản này là việc giả định rằng tất cả
dự án hoặc rơi vào một trong ba loại rủi ro hoặc phần bắt buộc. Trong
trường hợp cuối , chi phí sử dụng vốn không tương thích vì dự án bắt
buộc phải làm. Với phương pháp tính toán này, WACC của công ty
có thể thay đổi theo điều kiện kinh tế. Nếu điều đó xảy ra, suất chiết
khấu của các dự án khác nhau cũng sẽ thay đổi.
Trong mỗi một loại rủi ro, một số dự án lại có độ rủi ro cao hơn
và như vậy xác suất ra quyết định sai lầm vẫn có thể xảy ra. Hình
15.2 có thể giải thích cho điều này. So sánh hình 15.1 và 15.2, chúng
ta thấy vấn đề tương tự vẫn tồn tại, nhưng mức độ ảnh hưởng của
quyết định sai lầm có thể ít hơn trong phương pháp có tính chủ quan
này. Ví dụ dự án A có thể được chấp nhận nếu sử dụng WACC,
nhưng có thể bị loại trừ nếu xếp vào loại đầu tư rủi ro cao. Điều này
Về nguyên tắc, sẽ tốt hơn nếu quyết định mức lợi nhuận yêu cầu của
từng dự án riêng biệt một cách khách quan. Tuy nhiên trên thực tế
khó có thể đi xa hơn các điều chỉnh chủ quan vì hoặc những thông tin
cần thiết không tìm được hoặc không nhất thiết phải mất công đến
vậy.
Câu hỏi khái niệm
15.5a Những hậu quả có thể xảy ra nếu công ty dùng WACC đánh giá
tất cả các dự án đầu tư?
15.5b Phương pháp chuyên ngành (
Pure Play) xác định suất chiết
khấu hợp lý là gì? Trong trường hợp nào có thể áp dụng phương pháp
này?
15.6 CHI PHÍ PHÁT HÀNH VÀ WACC
Cho tới lúc này chúng ta vẫn chưa đưa phần chi phí phát hành vào
trong tính toán WACC. Nếu công ty chấp nhận dự án mới, có thể
công ty cần phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu mới. Điều này có
nghĩa là công ty sẽ phát sinh chi phí phát hành. Bản chất và mức độ
ảnh hưởng của chi phí phát hành sẽ được nghiên cứu trong chương
16.
Đôi khi người ta cho rằng cần điều chỉnh tăng WACC của công ty
20
10
Rủi ro thấp
(-4%)
A
Rủi ro cao
(+6%)
R