Khóa luận
Tiếng lóng trên các
phương tiện truyền thông
hiện nay
SV Lê Thị Trúc Hà
MỤC LỤC
DẪN NHẬP.
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4. Mục đích nghiên cứu.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
6. Đóng góp mới của đề tài
7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn.
8. Kết cấu khóa luận.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ
1.1. Tiếng lóng.
1.1.1. Khái niệm tiếng lóng.
1.1.2. Mối quan hệ giữa tiếng lóng và phương ngữ xã hội
1.1.3. Phân biệt khái niệm tiếng lóng với biệt ngữ, từ nghề nghiệp.
1.2. Phương tiện truyền thông.
1.2.1. Khái niệm truyền thông và truyền thông đại chúng.
1.2.2. Các loại hình phương tiện truyền thông.
TIỂU KẾT
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA TIẾNG LÓNG TRÊN CÁC PHƯƠNG
TIỆN TRUYỀN THÔNG (KHẢO SÁT TRÊN CỨ LIỆU BÁO CHÍ).
2.1. Từ ngữ lóng xét về nguồn gốc.
2! : Tạp chí 2!
HHT : Hoa học trò
KHXH: Khoa học xã hội
NXB : Nhà xuất bản
TTC : Tuổi trẻ cười
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA TIẾNG LÓNG TRÊN CÁC PHƯƠNG
TIỆN TRUYỀN THÔNG (KHẢO SÁT TRÊN CỨ LIỆU BÁO CHÍ)
Trong tiếng Anh, "communication" có nghĩa là truyền thông – sự truyền đạt,
thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc. Còn trong tiếng La–tinh, nó
có nghĩa là cộng đồng. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường,
phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân và xã hội. Truyền
thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ
năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và
nhận thức. Nói ngắn gọn, bản chất của truyền thông chính là hoạt động giao
tiếp.
Truyền thông đại chúng được hiểu là những phương thức chuyển tải thông
điệp đến những nhóm đông người. Có nhiều phương tiện truyền thông đại
chúng khác nhau, phổ biến nhất là phát thanh, truyền hình, báo chí và
internet. Trong thời đại bùng nổ thông tin, truyền thông đại chúng có có vai
trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội. Cũng vì vậy mà phạm vi nghiên
cứu của đề tài rất rộng, ở đây, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát trên lĩnh vực
báo chí, đặc biệt là báo in.
“Báo”, hay gọi đầy đủ là “báo chí” (xuất phát từ hai từ: "báo" – thông
báo và "chí" – giấy), nói một cách khái quát là những xuất bản phẩm định kỳ,
như nhật báo hay tạp chí. Nhưng cũng để chỉ cả các loại hình truyền thông
khác như phát thanh, truyền hình. Định nghĩa này cũng áp dụng được cho
những loại tạp chí liên tục xuất bản trên web (báo điện tử). Có những loại báo
chí sau:
- Báo viết: Thể loại báo chí xuất hiện lâu đời nhất, hình thức thể hiện trên
phận, nhiều nhóm của lớp từ thuần Việt có những tương ứng, những quan hệ
hết sức phức tạp với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng.
Từ thuần Việt là lớp từ có lâu đời, người bản ngữ có thể hiểu được ý nghĩa
của chúng mà không gặp bất kì cản trở nào. Trong khi đó, từ ngữ lóng được
xem như một biệt ngữ xã hội. Tức là không phải nhóm xã hội nào cũng dùng
tiếng lóng. Như vậy, để tạo ra nét khu biệt, tiếng lóng phải mang nét nghĩa
khác so với tiếng toàn dân. Những đặc trưng ngữ nghĩa này sẽ được chúng tôi
trình bày ở những mục sau. Ví dụ:
- Album “Rated R”, phát hành sau sự cố tháng 9, là một lời tuyên
bố hùng hồn của Riri rằng cô đã đứng dậy sau vấp ngã bằng cách
hát những ca khúc “đá xéo” Chris Brown (2! số 256, ra ngày
03/04/2012, Rihanna và Chris Brown: Mối quan hệ replay).
Đá xéo: Nói xéo.
- Cách đây không lâu, Call Me Maybe của Carly Rae Jepsen
(“gà” cùng công ty với Justin Bieber) nếu không được anh chàng,
Selena Gomez và Ashley Tisdale thực hiện bản cover nhắng nhít vui
nhộn thì có lẽ tới bây giờ nó vẫn còn là một bài hát vô danh ở
Canada (2! số 281, ra ngày 25/09/2012, Phép màu hay bí mật chiến
lược).
Gà: Cá nhân hoặc tập thể được đào tạo một cách chuyên nghiệp với mục đích
thi đấu với các cá nhân, tập thể khác.
- Các “mọt sách” có thể Đọc online – để xem “nóng”, Tải về – để
dành đọc sau hoặc Mua tặng – để chia sẻ với bạn bè (2! số 288, ra
ngày 13/11/2012, Sinh viên thành lập hội thật kool cùng Galaxy Tab
2).
Nóng: (Sự kiện) có tính thời sự, được nhiều người quan tâm.
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy từ thuần Việt là lớp từ – ngữ lóng được sử
dụng nhiều nhất trên các phương tiện truyền thông. Đặc biệt là báo chí. Đây
là lớp từ được xem như đơn giản và dễ hiểu. Khi trở thành tiếng lóng, lẽ tất
yếu nó sẽ được gán cho một nghĩa khác với nghĩa gốc của từ. Đôi khi, ta dễ
hơn nên chúng chưa được Việt hóa hoàn toàn, dễ nhận thấy nhiều yếu tố
ngoại lai vẫn tồn tại trong bản thân những từ ngữ ấy.
Trong công trình Dẫn luận ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp có viết: “Nếu
không nhìn nhận vấn đề một cách biện chứng và lịch sử thì rất khó xác định
đâu là từ thuần bản ngữ, đâu là từ ngoại lai. Có người cho rằng chỉ có thể gọi
một cách hợp lý từ ngoại lai trong một ngôn ngữ nhất định là những yếu tố đã
thâm nhập sau cái thời kì ít nhiều chính xác đánh dấu một cách quy ước giai
đoạn đầu của ngôn ngữ ấy. Trong thực tế, vấn đề xác định thời gian hình
thành của một ngôn ngữ dân tộc nào đó là rất phức tạp và không phải bao giờ
cũng cho một câu trả lời chắc chắn. Vì vậy, chúng ta vẫn vấp phải cái khó
khăn trong khi phân biệt từ bản ngữ và từ ngoại lai. Nội dung của hai khái
niệm này chỉ có thể xác định một cách tương đối chắc chắn nếu xét chúng
trong những giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định. Các giai đoạn phát triển của
một ngôn ngữ kế tiếp lẫn nhau, mỗi giai đoạn bao gồm những yếu tố thuộc ba
loại:
- Những yếu tố cũ, giai đoạn trước để lại;
- Những yếu tố mới du nhập vào từ các ngôn ngữ khác trong giai đoạn ấy;
- Những sản phẩm mới được cấu tạo trên cơ sở những yếu tố cũ và những yếu
tố mới du nhập vào.
Xét trong giai đoạn ấy, những từ thuộc loại một và loại ba có thể được coi từ
bản ngữ, còn những từ thuộc loại hai là những từ ngoại lai. Như vậy, khái
niệm từ ngoại lai và từ bản ngữ được quan niệm một cách biện chứng. Những
từ ngoại lai trong giai đoạn này có thể trở thành từ bản ngữ trong giai đoạn
tiếp theo” [20; 129 – 134].
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin nghiên cứu và phân
tích lớp từ vay mượn là “những yếu tố mới du nhập vào các từ và các ngôn
ngữ khác trong giai đoạn ấy” – tức là giai đoạn khoảng mười năm trở lại đây.
Trong đó chia ra thành: Lớp từ ngữ gốc Hán và lớp từ ngữ gốc Ấn – Âu.
2.1.2.1. Lớp từ ngữ lóng có nguồn gốc Hán
Quá trình tiếp xúc lâu dài với tiếng Hán đã để lại trong tiếng Việt một số
Vệ tinh: Người để ý, theo đuổi (khác giới).
Theo những thống kê ban đầu của chúng tôi, lớp từ – ngữ lóng là từ Hán –
Việt chiếm tỉ lệ rất ít (4,6% các cứ liệu khảo sát trên báo chí). Nguyên nhân
chủ yếu là do sắc thái trang trọng, nghiêm túc của lớp từ này. Lớp từ Hán –
Việt xuất hiện nhiều trong các lớp từ vựng mang màu sắc văn hóa gọt giũa
hơn là tiếng lóng – vốn được xem như thuộc về phong cách khẩu ngữ.
Các từ ngữ lóng gốc Việt và gốc Hán thường được cấu tạo theo cách chuyển
nghĩa, tạo nghĩa mới khác với nghĩa gốc của từ. Hiếm thấy trường hợp nào
giữ nguyên nghĩa ban đầu.
2.1.2.2. Lớp từ ngữ lóng gốc Ấn- Âu
Lớp từ này chủ yếu có nguồn gốc từ tiếng Pháp và tiếng Anh (xuất hiện khá
nhiều ở dạng phiên âm hoặc nguyên ngữ), chiếm tỉ lệ khoảng 12%. Dựa trên
những cứ liệu đã khảo sát được, đối tượng sử dụng tiếng lóng chủ yếu là giới
trẻ. Họ có xu hướng sử dụng từ vay mượn Anh ở dạng nguyên ngữ. Hiện nay,
khi nói đến hiện trạng lạm dụng từ ngữ nước ngoài là nói đến việc lạm dụng
lớp từ vay mượn có nguồn gốc Ấn – Âu là chủ yếu (đặc biệt là tiếng Anh). Sở
dĩ tiếng Anh trên các văn bản báo chí trở thành lớp từ vay mượn chiếm tỉ lệ
lớn là vì hiện nay tiếng Anh được sử dụng phổ biến như một ngôn ngữ quốc
tế trên toàn thế giới, việc dạy học và sử dụng tiếng Anh cũng đang rất phổ
biến ở Việt Nam. Dưới đây là một vài đoạn văn bản trên các trang báo:
- Sinh nhật Mr/Ms Right, 200 ngày yêu nhau, một năm chung
sống, tất cả đều là những dịp chính đáng để tổ chức một sự kiện bất
ngờ (2! số 256, ra ngày 03/04/2012, Học cách gia tăng tình cảm như
các cặp đôi We Got Married).
- Đến giờ mình vẫn chưa hoàn hồn mỗi khi nhắc đến Ex (2! số
250, ra ngày 21/02/2012, Tình phí: Yêu tình này rất phí).
Cả hai đoạn văn bản trên đều có sử dụng tiếng lóng dưới dạng nguyên
ngữ. Thực chất đa phần những từ lóng dưới dạng nguyên ngữ là để tạo ra nét
sắc thái riêng biệt cho đối tượng sử dụng nó – giới trẻ. “Mr/Ms Right” không
phải cách gọi một nhân vật nào đó với sắc thái trang trọng, nghiêm túc, mà
- Trên FB, tôi biết chị từ bao năm nay đã đứng ra thành lập ngôi
nhà tình thương cho các em chó mèo bị bỏ rơi, không những thế, với
từng trường hợp, chị còn làm người “môi giới” cho các em về với
người sẵn sàng nuôi nấng và chăm sóc (2! số 265, ra ngày
05/06/2012, Tình nguyện chiều sâu).
FB: Viết tắt của Facebook – trang mạng xã hội có lượng người dùng
đông nhất hiện nay.
- Có nhiều bạn còn hay thường pm facebook hay mail để nhờ tôi
tư vấn cách làm bánh. (2! số 291, ra ngày 04/12/2012, Cơn sốt “mỹ
bánh”)
PM: Tin nhắn riêng, liên hệ riêng, thường dùng trên các trang mạng xã hội
(viết tắt từ tiếng Anh: Private message).
Thực tế cho thấy, không chỉ người Việt, mà người bản ngữ cũng dùng những
cụm từ viết tắt kiểu này. Như vậy, ta hoàn toàn có thể xếp nó vào hình thức
vay mượn nguyên gốc tiếng nước ngoài. Tương đương với FB hay PM còn
có BFF (Best friends forever), DIY (Do it yourseft), LOL (Laugh out loud),
ILU (I love you), B4 (Before), OMG (Oh my god)… Tuy nhiên, những cụm
này chỉ xuất hiện trên báo 2! và Hoa học trò, còn trên những trang báo như
Tuổi trẻ, Tuổi trẻ cười thì hiếm khi được sử dụng.
Cần chú ý rằng các từ ngữ thuộc lớp từ lóng có tính chất lâm thời, chúng là
một hiện tượng ký sinh vào vốn từ tiếng Việt. Xuất hiện và mất đi, thay đổi
thường xuyên, không ngừng. Bằng chứng là rất nhiều tiếng bồi trước đây rất
hay được sử dụng thì nay đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, ít xuất hiện trên các
phương tiện truyền thông. Có thể kể đến các trường hợp sử dụng từ ngữ lóng
theo kiểu tiếng bồi như: No four go (vô tư đi), know die now (biết chết liền),
ugly tiger (xấu hổ), like is afternoon (thích thì chiều), sugar sugar a hero
man (đường đường một đấng anh hùng)…
Hiện tượng sử dụng lớp từ vay mượn của tiếng lóng trên các phương tiện
truyền thông có thể được lý giải qua yếu tố tâm lý lứa tuổi. Đối tượng sử
dụng tiếng lóng trên các phương tiện truyền thông chủ yếu là người trẻ. Khi
là gán cho nó một nghĩa mới dựa trên từ sẵn có.
2.2.1. Cấp thêm nghĩa mới cho từ ngữ trong vốn từ toàn dân
Gán nghĩa mới cho những từ ngữ sẵn có là đặc điểm cấu tạo quan trọng nhất
của tiếng lóng. Trong tổng số 558 từ – ngữ lóng mà chúng tôi khảo sát được,
có đến 359 từ lóng (64,3%) được cấu tạo theo cách này. Cho dù tiếng lóng có
vay mượn từ tiếng nước ngoài, hay có nguồn gốc thuần Việt thì đều nằm
trong vốn từ chung của người bản ngữ, được người bản ngữ xử lý nghĩa gốc,
nghĩa bóng theo cách của mình. Chúng tôi tạm gọi nét nghĩa ấy là “nghĩa
lóng”. Sau đây là một vài ví dụ, nghĩa gốc được chúng tôi tra cứu trong Từ
điển tiếng Việt phổ thông (Viện Ngôn ngữ học, 2010, NXB Phương Đông):
- Nhan nhản trên những trang mạng là cuộc “mưa đá” giữa hai
bờ chiến tuyến ném qua ném lại (2! số 258, ra ngày 17/04/2012,
Chàng Bắp làm cha, bạn nghĩ gì?).
“Mưa đá” được định nghĩa là “mưa có hạt đông cứng thành đá”. Tuy
nhiên người sử dụng gán cho nét nghĩa là những “lời tranh chấp, bình phẩm,
đánh giá, có sắc thái xúc phạm nhau”. Theo lẽ thường, “mưa đá” làm con
người ta đau về thể xác, nghĩa lóng lại là sự tổn thương về mặt tinh thần.
Hay:
- Trong một lần hẹn hò với bạn gái, khi móc ví bạn vô tình làm rớt
1 em “áo mưa” trước mặt cô nàng, bạn sẽ… (2! số 258, ra ngày
17/04/2012, Khám phá khả năng “sát gái” cùng MQ Test).
Từ nét nghĩa “áo bằng loại vải không thấm nước để đi mưa” đến “bao cao
su”, người sử dụng đã liên hệ giữa nét nghĩa che chắn, bảo vệ tránh khỏi một
điều gì không mong muốn.
Giữa nghĩa lóng và nghĩa gốc liên hệ với nhau bởi sự liên tưởng của người sử
dụng. Dựa trên một đặc điểm giống nhau nào đó mà người ta gán cho từ một
nét nghĩa mới. Do vậy, không phải ai cũng hiểu được nghĩa lóng, điều này
bộc lộ đặc trưng hạn chế về phạm vi sử dụng của tiếng lóng.
2.2.2. Biến đổi vỏ ngữ âm
Ngoài việc giữ nguyên vỏ âm thanh của từ, tiếng lóng trên các phương
/. Cơ sở của quá trình
biến âm này là đặc điểm phương ngữ Bắc Bộ. Tuy cùng một kiểu ghi âm –z-
/, nhưng lại có tới hai biến thể chữ viết khác nhau, một bên thuần Việt (gi-),
một bên lại vay mượn con chữ của tiếng nước ngoài (z-).
Một trong số những lớp từ quan trọng của tiếng Việt là từ ngoại lai. Bất kể từ
vay mượn nào, sống trong môi trường giao tiếp của người Việt trong thời
gian dài sẽ có những yếu tố biến đổi cho hợp với người bản ngữ. Không ít
trường hợp biến âm từ có nguồn gốc vay mượn như:
- Mấy ngày qua, clip “15 kiểu học sinh trong lớp học” đang gây
sốt cộng đồng teen, truy cập ngay vào “bác Du” (Youtube) và thử
xem mình là kiểu nào nhé! (HHT số 1004, ra ngày 01/04/2013, 168h
qua: Clip hot)
“Bác Du” /bak
5
zu
1
/ là từ lóng chỉ “web chia sẻ video clip trực tuyến”
– Youtube /`ju:tju:b/. Youtube là một từ có gốc Ấn – Âu, âm tiết lại chứa
đựng những âm vị không tồn tại trong hệ thống âm vị tiếng Việt. Khi được
Việt hóa, tất yếu sẽ có một số âm vị biến đổi. Cụ thể trong trường hợp này,
âm đầu /j-/ được biến đổi thành /z-/. Hai âm này lại gần nhau về cách cấu âm,
biến đổi dựa trên đặc điểm phương ngữ Nam Bộ.
Tiếng lóng có tính chất lâm thời, từng giai đoạn khác nhau lại có những từ
lóng khác nhau. “Tóa” là một từ lóng vừa mới xuất hiện khoảng hai năm trở
lại đây, nhanh chóng phổ biến trong cộng đồng người trẻ. “Tóa” /twa
5
/ chính
là biến âm của “quá” /kwa
5
/. Âm đầu /k-/ được biến đổi thành /t-/. Ban đầu,
Hay:
- T.O.P (Big Bang) và Se7en “tình củm” trên Strong Heart (2! số
256, ra ngày 03/04/2012, Bản tin Bromance: T.O.P (Big Bang) và
Se7en “tình củm” trên Strong Heart).
Không chỉ có nguyên âm /--/ mà cả nguyên âm /-a-/ cũng được chuyển
thành nguyên âm /-u-/. “Tình củm” /tiŋ
2
kum
4
/ lại chính là biến âm của “tình
cảm” /tiŋ
2
kam
4
/. Cả hai âm vị đều là những nguyên âm dòng sau, âm sắc cố
định, đặc điểm khu biệt giữa hai âm này rất lớn khi khác nhau cả hình dáng
môi và độ mở của miệng. Nguyên âm /-a-/ là một nguyên âm không tròn môi,
có độ mở lớn. Nguyên âm /-u-/ là một nguyên âm có âm sắc tròn môi, có độ
mở nhỏ.
Ngôn ngữ của giới trẻ nói riêng và tiếng lóng nói chung ngày càng có nhiều
biến đổi, thậm chí có những câu chữ chưa từng xuất hiện trước đây, như:
Ai bảo chỉ có “Là con gái mới thật tuyệt”, làm con trai cũng
“toẹt vời” lắm nhé! (HHT số 998, ra ngày 18/02/2013, Là con trai thật
tuyệt).
Cũng giống như “tóa”, “toẹt vời” (tuyệt vời) là từ lóng mới xuất hiện trong
vài năm trở lại đây. Về cơ bản, ngữ âm tiếng Việt chưa có cách ghi âm chính
xác cho “toẹt vời”, trong bài viết này, chúng tôi mạn phép ghi âm dựa trên
cảm nhận chủ quan của cá nhân về âm vị học. “Toẹt vời” /twt
6
vi
/. Ở đây, chúng tôi không
chú trọng đến việc phân tích sự biến đổi âm chính mà chỉ tập trung vào thanh
điệu. Từ những âm vị có âm vực thấp (bao gồm các thanh huyền (2), hỏi (4),
nặng (6) sang những âm vị có âm vực cao (bao gồm các thanh ngang (1), ngã
(3), sắc (5). Thanh ngang là thanh có âm điệu không gãy đối lập với thanh
hỏi, thanh nặng có âm điệu gãy. Đồng thời, đó cũng là sự chuyển đổi từ thanh
trắc sang thanh bằng.
2.2.3. Thêm hoặc bớt âm tiết
Mỗi âm tiết tiếng Việt đều có vai trò nhất định trong việc cấu tạo từ, thay đổi
bất kì âm tiết nào cũng sẽ thay đổi ý nghĩa của từ. Nếu biến đổi vỏ ngữ âm
chỉ thay đổi một phần của vỏ ngữ âm, thì việc thêm hoặc bớt âm tiết sẽ thay
đổi toàn bộ vỏ âm tiết ấy. Xét ví dụ:
- Hoặc suốt ngày vào Facebook của chàng/nàng comment những
dòng “sến sặc sụa” (2! số 254, ra ngày 20/03/2012, Dành cho
những tình yêu thực sự).
“Sến sặc sụa” là một trong số cụm từ có hiện tượng lặp phụ âm đầu ít
ỏi mà chúng tôi khảo sát được, ý nghĩa của nó không gì khác ngoài nhấn
mạnh ý của sến (ủy mị, yếu đuối). Để tạo ấn tượng kéo dài về mặt âm thanh,
giới trẻ đã khéo léo kết hợp sau “sến” các âm tiết có chung phụ âm đầu /ş-/
mà hoàn toàn không để ý đến vai trò liên kết ngữ nghĩa. Kiểu thêm âm tiết
này rất phổ biến, trở thành một nét đặc trưng riêng của giới trẻ, vừa hài hước,
vừa trẻ trung năng động. Thậm chí nickname hoặc tài khoản các trang mạng
xã hội cũng được đặt theo mô hình này (ví dụ: Trân Trần Trẻ Trung, Tiên
Tưng Tửng, Hà Hâm Hấp…).