Lời Nói Đầu
Chúng ta đang ở những năm đầu của thế kỷ XXI - thế kỷ của văn minh
và tiến bộ khoa học, công nghệ mới.Thế kỉ XX đã trôi qua nhng nó để lại
nhiều thành tựu rực rỡ về khoa học - công nghệ cho thế giới và nớc ta. Đối với
nớc ta, một nớc có nền kinh tế kém phát triển thì vấn đề công nghiệp hoá - hiện
đại hoá là con đờng tất yếu tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội
để có thể bắt kịp sự chuyển biến của nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
Vấn đề công nghiệp hoá nền kinh tế của nớc ta đợc đặt ra từ năm 1960
trong văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần thứ III nhng do tập trung chống phá
bọn xâm lợc nên mãi sau khi đất nớc hoà bình thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa
xã hội, chủ trơng công nghiệp hoá mới đợc triển khai, thực hiện. Thể hiện trong
văn kiện đại hội IV, V, VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Sau khi nớc ta từ bỏ
cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và tiến hành đổi mới kinh tế thì
Việt Nam đã tiến hành công cuộc công nghiệp hoá với phơng châm Xây dựng
một nền kinh tế mở hội nhập với khu vực và thế giới, hớng mạnh về xuất khẩu
bằng những sản phẩm trong nớc sản xuất có hiệu quả [9.84]. Với việc thực
hiện theo phơng châm trên thì nền kinh tế nớc ta có sự phát triển đáng kể từ
năm 1991 2000.
Bớc sang thiên niên kỷ mới, trớc yêu cầu thực hiện nghị quyết IX của
đảng về phát triển kinh tế - xã hội mời năm đầu của thế kỷ XXI là Đẩy mạnh
công nghiệp hoá- hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền
tảng đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp [10.148].
Tuy nhiên, công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nớc ta trong
thời đại ngày nay sẽ gặp không ít khó khăn, thử thách, phức tạp, đòi hỏi chúng
1
ta phải động viên và phát huy sức mạnh dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới,
phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực tạo thành nguồn lực tổng
hợp để biến đờng lối của Đảng thành hiện thực.
Với mong muốn làm sáng tỏ thêm về công cuộc đổi mới nói chung và
công nghiệp hoá - hiện đại hoá nói riêng ở nớc ta hiện nay, em chọn đề tài:
Vai trò của công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong sự nghiệp xây dựng chủ
1.2.1. Vai trò công nghiệp - hoá hiện đại hoá.
Thứ nhất là công nghiệp hoá - hoá hiện đại hoá làm phát triển lực lợng
sản xuất, năng suất lao động tăng lên tạo điều kiện tăng trởng và phát triển kinh
tế. Khắc phục tụt hậu về kinh tế của nớc ta so với các nớc khác trong khu vực và
trên thế giới, góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân.
Thứ hai là công nghiệp hoá - hiện đại hoá góp phần củng cố và tăng c-
ờng vai trò kinh tế của nhà nớc, nâng cao năng lực tích tuỹ tạo điều công ăn
việc làm cho nhân dân. Khuyến khích sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi
cá nhân.
Thứ ba là công nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo điều kiện củng cố quốc
phòng, an ninh.
Thứ t là công nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo điều kiện cho việc xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phân
công và hợp tác quốc tế.
3
1.2.2. Nhiêm vụ công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
Qua tất cả các kỳ đại hội Đảng ta luôn luôn xác định công nghiệp hóa -
hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở nớc ta.
Nhiệm vụ cơ bản mà công nghiệp hoá - hiện đại hoá phải giải quyết là
tạo cơ sở, vật chất cho chủ nghĩa xã hội, đó là nền tảng của sản xuất bằng máy
móc thay thế cho sản xuất nhỏ thủ công bằng chân tay, công nghiệp hoá trong
tất cả các ngành kinh tế quốc dân đều dựa trên điện khí hoá và áp dụng rộng rãi
những thành tựu khoa học, kỹ thuật mới vào để tổ chức một cách có kế hoạch
trên phạm vi cả nớc. Nhằm thoã mãn ngày càng đầy đủ những nhu cầu vật chất
và văn hoá tinh thần của ngời dân trong xã hội. Vấn đề chủ nghĩa xã hội tạo ra
một hệ thống công nghiệp hóa nặng đặc biệt là công nghiệp điện tử chế tạo máy
móc, công nghiệp nhẹ chế biến.
1.2.3. Mục tiêu công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã
tố của cơ sở vật chất - kỹ thuật của phơng thức sản xuất trớc nó và cải tạo, phát
triển thành cơ sở vật chất - kỹ thuật cho bản thân mình.
Nớc ta trãi qua nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc, nền sản xuất chủ yếu là
nền sản xuất tự cung, tự cấp. Do vậy, công nghiệp hoá - hiện đại hoá trở thành
vấn đề cần thiết đối với nớc ta để khắc phục khó khăn đồng thời xây dựng đất n-
ớc.
Sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí với sản xuất ngày càng xã
hội hoá đã tự phát tạo ra tiền đề vật chất khách quan cho sự ra đời của phơng
5
thức sản xuất mới: phơng thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu
của nó là chủ nghĩa xã hội. Nh vậy, mối liên hệ tất yếu lịch sử, cơ sở vật chất -
kỹ thuật của xã hội chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của phơng thức sản xuất cộng
sản chủ nghĩa phải là nền đại công nghiệp cơ khí hiện đại.
Năm 1921, tại đại hội III quốc tế cộng sản LêNin đã chỉ rõ: cơ sở vật
chất - kỹ thuật duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp
cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp nhng không thể đóng khung ở
nguyên lý chung đó, cần phải cụ thể hoá nguyên lý đó. Nền đại công nghiệp ở
vào trình độ kỹ thuật hiện đại và có khả năng cải tạo cả nông nghiệp, đó là điện
khí hoá cả nớc. Ngoài ra, ông còn nói: một lần nữa, tôi phải nhấn mạnh rằng
cơ sở kinh tế duy nhất có thể có đợc của chủ nghĩa xã hội là nền đại công
nghiệp cơ khí, ai quên điều đó ngời đó không phải là ngời cộng sản. Chúng tôi
phải đặt vấn đề một cách thực tiễn đại công nghiệp hiện đại là thế nào? đại công
nghiệp hiện đại có nghĩa là điện khí hoá toàn nớc Nga.
Nh vậy, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền đại công
nghiệp cơ khí hiện đại có khả năng cải tạo nông nghiệp, luận điểm trên của chủ
nghĩa Mác- LêNin cần phải đợc vận dụng một cách thích hợp với đặc điểm của
thời đại cách mạng khoa học - kỹ thuật và đặc điểm cụ thể của mỗi nớc.
Trong xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá về kinh tế đang phát triển
mạnh mẽ, trong điều kiện cách mạng khoa học- kỹ thuật và công nghệ hiện đại
phát triển rất nhanh, những thuận lợi và khó khăn về khách quan và chủ quan,
hoá nền kinh tế quốc dân. Văn kiện đại hội lần thứ VII ban chấp hành trung -
ơng khoá VII khẳng định quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá ở nớc ta là:
Quá trình chuyển căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
7
vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử
dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghiệp, phơng tiện và ph-
ơng pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của nông nghiệp và tiến bộ
khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.[7.84].
Việc xác định đúng những quan điểm công nghiệp hoá - hiện đại hoá là
vấn đề rất quan trọng. Vì các quan điểm công nghiệp hoá - hiện đại hoá là cơ sở
cho việc định hớng và chỉ đạo, thực hiện các nội dung và bớc đi của công
nghiệp hoá- hiện đại hoá.
Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá cần phát triển khoa
học công nghệ. Vì thế, việc đa khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống là
rất cần thiết đối với nớc ta đồng thời phải xã hội hoá tri thức khoa học công
nghệ để mọi ngời có thể am hiểu và sử dụng chúng. Bên cạnh đó, phải phát huy
lợi thế của đất nớc, tận dụng các thành tựu khoa học tiên tiến và ứng dụng
chúng trong đời sống để phát triển kinh tế.
Quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá là quá trình cải tiến lao động thủ
công lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, thực hiện cơ khí hoá trong sản
xuất. Từ đó, chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, có
kết cấu tơng đối hiện đại và hợp lý đồng thời tiến hành cơ khí hoá và tự động
hoá trong sản xuất. Đây là yếu tố then chốt tạo ra bớc nhảy vọt cho nền kinh tế.
Để phát triển công nghiệp hoá- hiện đại hoá cần phải thúc đẩy sự tăng tr-
ởng và phát triển mạnh của các ngành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế
nhằm tạo vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện phát triển kinh tế, chính trị xã hội.
Đồng thời kết hợp tối u các thế mạnh của các quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ,
trong đó phát triển quy mô vừa và nhỏ là chính.
Để phát triển công nghiệp hoá- hiện đại hoá cần phải khai thác tối đa
nguồn vốn trong nớc và nớc ngoài. Phải có biện pháp thu hút nguồn vốn nớc
9
nghiệp vì ngành công nghiệp mới có khả năng phát huy đợc lợi thế cạnh tranh,
chiếm lĩnh đợc thị trờng trong nớc và thế giới.
Nớc ta là một nớc nghèo, lao động thủ công là chính dẫn đến kết cấu hạ
tầng của nền kinh tế còn thấp. Việc phát triển kết cấu vật chất hạ tầng trở nên
cấp thiết. Cùng với việc đó cần phát triển các ngành dịch vụ để đáp ứng nhu cầu
của nhân dân lao động, nâng cao đời sống của nhân dân. Ngoài ra, phải chuyển
dịch các ngành theo vùng, lãnh thổ để khai thác lợi thế và tiềm năng của vùng
lãnh thổ đó. Đồng thời, mở rộng quan hệ hợp tác với các nớc trong khu vực và
trên thế giới. Để nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu để
xuất khẩu đáp ứng nhu cầu nhập khẩu coi xuất khẩu là trọng điểm xây dựng nền
kinh tế mở với một cơ cấu kinh tế hợp lý, năng động.
2.2. Nội dung của công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
2.2.1. Những thành tựu mà công nghiệp hoá - hiện đại hoá đã đạt đ ợc.
Sau khi thực hiện chính sách đổi mới kinh tế năm 1986 và sau đại hội
khoá VII (năm 1994) thì việc thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá diễn ra
rất sôi nổi, nó làm thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh hơn: Nền kinh tế có
bớc phát triển mới về lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất về hội nhập kinh tế
quốc tế, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đợc cải thiện rõ rệt, văn hoá
xã hội không ngừng tiến bộ, thế và lực của đất nớc hơn hẳn 10 năm trớc, khả
năng độc lập tự chủ đợc nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh công nghiệp
hoá - hiện đại hoá.[7.93].
Trớc kia, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đợc tiến hành theo cơ chế kế
hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp với pháp lệnh chỉ tiêu riêng của nhà nớc.
Hiện nay, công nghiệp hoá - hiện đại hoá không chỉ dừng lại ở nhận thức mà
đã trở thành hành động mạnh mẽ thôi thúc mỗi ngời dân, mỗi ngành, mỗi doanh
nghiệp, mỗi địa phơng tham gia[1.3].
Bên cạnh đó, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đợc tiến hành trong khi
cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ đang phát triển với trình độ ngày
10