Nghiên cứu mô hình kết cấu cốt truyện truyện thơ Nôm - Pdf 12


Bộ giáo dục v đo tạo
trờng đại học s phạm h nội

Nguyễn Thị Nhàn nghiên cứu mô hình kết cấu
cốt truyện truyện thơ nôm

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 62.22.34.01 tóm tắt luận án tiến sĩ ngữ văn



Có thể tìm hiểu luận án tại Th viện Quốc gia
và Th viện Trờng Đại học S phạm Hà Nội

một số công trình của tác giả đ công bố
có liên quan đến đề ti luận án 1. Nguyễn Thị Nhàn, (2000) Mô hình kết cấu truyện Sơ kính tân
trang của Phạm Thái, Tạp chí văn học, (8), tr.79-84.

2. Nguyễn Thị Nhàn, (tháng 11-2001) Yếu tố ngẫu nhiên và cấu
trúc tự sự Truyện Nôm, Hội thảo tự sự học, Khoa Ngữ Văn -
ĐHSP Hà Nội.

3. Nguyễn Thị Nhàn, (2002) Mô hình kết cấu truyện thơ Nôm
(Qua một số tác phẩm có nguồn gốc từ văn học dân gian, Tạp
chí văn học, (3) tr. 71-76.

4. Nguyễn Thị Nhàn, (2004) Mô hình kết cấu truyện thơ Nôm
qua nhóm truyện đề tài tôn giáo, Nghiên cứu văn học,
(8),tr.118-129.
những lối mòn là rào cản sự sáng tạo cá nhân nghệ sĩ. Có lẽ vì thế, lâu nay
từ phía tiếp nhận, nghiên cứu, tác phẩm nghệ thuật trung đại thờng bị
khuất lấp, hoà tan trong tính phổ quát của cộng đồng (trừ một số tác gia
lớn). Lựa chọn đề tài Nghiên cứu mô hình kết cấu cốt truyện truyện thơ
Nôm giúp tác giả luận án nhận ra nét chung của đặc trng thể loại và sự
phong phú của thực tế sáng tác, góp phần khắc phục sự tồn tại trong nghiên
cứu văn học mà lâu nay ta còn mắc phải là cha lấy tác phẩm văn học là đối
tợng đầu tiên.
1.5. Xuất phát từ thực tế nghiên cứu, vấn đề mô hình kết cấu cốt truyện
truyện thơ Nôm cha có công trình riêng biệt nh
một đề tài độc lập, chúng cần
đợc nghiên cứu sâu sắc, toàn diện, thoả đáng hơn.
1.6. Truyện thơ Nôm là thể loại đợc giảng dạy trong các cấp từ phổ thông
đến Cao đẳng, Đại học văn khoa, vì thế đề tài của chúng tôi còn gắn với thực tiễn
giảng dạy. Thực hiện đề tài giúp chúng tôi tìm hiểu sâu sắc hơn một mảng sáng
tác nghệ thuật, nghiên cứu phục vụ tốt hơn công việc giảng dạy văn học.

2
Những thành quả nghiên cứu, những băn khoăn của ngời đi trớc còn
để lại đã làm cơ sở, khích lệ chúng tôi chọn lựa đề tài cho luận án của mình.
2. Đối tợng và phạm vi, mục đích nghiên cứu
- Về t liệu: Đối tợng khảo sát của luận án là truyện thơ Nôm đã
đợc phiên âm quốc ngữ hiện đại và một số truyện thơ viết bằng chữ quốc
ngữ hiện đại giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu XX nhng có cùng đặc điểm
thi pháp truyện thơ Nôm. Chúng tôi khảo sát 50 tác phẩm quen thuộc, khá
tiêu biểu cho gơng mặt thể loại, qua các giai đoạn sáng tác và các nhóm
truyện khác nhau.
- Về phạm vi, mục đích nghiên cứu:
Từ thực tế khảo sát, luận án nghiên cứu cốt truyện nghệ thuật, lý giải
những biến thái đa dạng hệ thống tình tiết, sự kiện của mô hình kết cấu theo

luận án - LA) đợc giới nghiên cứu thông cảm và chấp nhận. Chúng là những
sáng tác tiêu biểu, cho phép ngời viết khái quát những đặc điểm thể loại và xác
định những mô hình kết cấu cốt truyện cơ bản của truyện thơ Nôm.
3.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mô hình kết cấu truyện thơ Nôm đợc quan tâm khá sớm hơn nửa thế
kỷ qua trên một số công trình nh tiểu luận, chuyên luận, các công trình văn
học sử, với ba hớng chính.
Hớng thứ nhất, giới nghiên cứu xem xét từ những tác phẩm cụ thể để
từ đó rút ra kết luận về cấu trúc cốt truyện. Tiêu biểu là các tác giả Đào Duy
Anh, Dơng Quảng Hàm, Lê Trí Viễn, Maurice Durand, Nguyễn Thạch
Giang, Hoàng Hữu Yên Trong đó phải kể đến Khảo luận về Truyện Thuý
Kiều của Đào Duy Anh. Công trình của ông tiêu biểu cho một khuynh
hớng nghiên cứu Truyện Kiều nói riêng và có tính mở đầu quan trọng
trong việc xác lập mô hình kết cấu cốt truyện truyện thơ Nôm nói chung.
Tác giả xác lập mô hình ba sự kiện lớn: Hội ngộ - Lu lạc - Đoàn viên trong
Truyện Kiều. Những tác giả khác khi nhận xét về cấu trúc cốt truyện của
một số tác phẩm cũng có ý kiến giống với nhận xét của Đào Duy Anh. Tuy
nhiên, ở hớng tiếp cận này, vì xuất phát từ tác phẩm cụ thể nên ngoài
những nét chung của thể loại, kết cấu cốt truyện truyện thơ Nôm đợc phát
hiện đã hé lộ sự riêng biệt thú vị trong các sáng tác. Ví nh có những truyện
không kể theo trình tự thời gian tuyến tính. Hớng thứ hai, giới nghiên cứu
lấy đối tợng khảo sát chính là những truyện thơ Nôm có nguồn gốc từ văn
học dân gian hay loại truyện bình dân. Tiêu biểu cho hớng nghiên cứu này
là Cao Huy Đỉnh với Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Đặng
Thanh Lê với Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, Kiều Thu Hoạch với
Truyện Nôm - Nguồn gốc và bản chất thể loại. Các tác giả đều thống nhất
rằng, truyện thơ Nôm cơ bản bảo lu khuôn hình của truyện cổ tích. Kết cấu
cốt truyện theo ba chặng: Hội ngộ - Tai biến - Đoàn tụ. Hớng thứ ba, cấu
trúc truyện thơ Nôm đợc xác lập từ toàn bộ sáng tác của thể loại, không
phân biệt nguồn đề tài và loại bình dân hay bác học. Phan Cự Đệ tiêu biểu

kiểu cấu trúc, sơ đồ trên, bổ sung một số lý giải mới; chỉ ra sự biểu hiện đa
dạng biến thái của kết cấu cốt truyện truyện thơ Nôm theo trình tự thời gian
tuyến tính và chiều hớng kết thúc có hậu; xác lập các kiểu kết cấu mới đa
dạng của truyện thơ Nôm và nghiên cứu chúng trong mối quan hệ biện chứng
thống nhất giữa nội dung và hình thức tác phẩm văn chơng, góp phần khẳng
định bản chất thể loại.
5.4. Luận án có ý nghĩa trong thực tiễn giảng dạy thể loại truyện thơ Nôm
từ bậc phổ thông đến Cao đẳng và Đại học văn khoa.

5
6. Bố cục của luận án
Luận án gồm 216 trang. Ngoài phần Mở đầu (24 trang), Kết luận (5
trang), Phụ lục (10 trang), Nội dung gồm 3 chơng:
Chơng 1: Tổng quan về truyện thơ Nôm
Chơng 2: Mô hình kết cấu cốt truyện truyện thơ Nôm theo trình tự thời gian
Chơng 3: Mô hình kết cấu cốt truyện truyện thơ Nôm không theo trình tự
thời gian

Nội dung cơ bản của luận án
Chơng 1
Tổng quan về truyện thơ Nôm

1.1. Khái niệm truyện thơ Nôm
Về thuật ngữ, xa nay có nhiều cách gọi tên khác nhau cho thể loại:
truyện Nôm, truyện thơ, truyện dài, tiểu thuyết bằng văn vần, truyện thơ Nôm.
Các cách gọi đều xác định và thống nhất yếu tố truyện, đa các sáng tác về
loại hình tự sự. Chúng tôi chọn cách gọi truyện thơ Nôm.
Xét tiêu chí thể loại: truyện thơ Nôm phản ánh hiện thực bằng phơng
thức tự sự. Hai yếu tố cấu thành cơ bản của cốt truyện là sự kiện và nhân vật.
Cốt truyện có thể còn đơn giản hoặc đã phức tạp. Nhân vật chính là con ngời

quan hệ tiền tệ phát triển, quan hệ của con ngời thay đổi. Yếu tố thị dân xuất
hiện và phổ biến hơn trong cách sống, tình cảm, suy nghĩ của xã hội thị
thành, con ngời cá nhân có mảnh đất nảy sinh.
Thứ hai là tình hình t tởng trong các thế kỷ XVI - XVIII. Lịch sử
chứng kiến sự suy yếu dẫn đến phá sản của ý thức hệ t tởng chính thống,
sự vùng dậy đấu tranh của nhân dân, sự lớn mạnh của trào lu t tởng dân
chủ trong xã hội. Đó là môi trờng phi chính thống - một trong những điều
kiện để tiểu thuyết ra đời.
1.2.2. Tiền đề văn hoá nghệ thuật
1.2.2.1. Nền văn hoá dân tộc
Trong đời sống tinh thần các thế kỷ XVII đến nửa đầu XIX, con ng
ời
có xu hớng tìm về cội nguồn. Văn hoá dân gian có u thế trội, giữ vai trò dân
chủ hoá văn hoá bác học.
Những lĩnh vực văn hoá dân gian bao gồm các hình thức nghi lễ - diễn
trò, hội hè, một số phong tục và văn học (chủ yếu là văn học trào tiếu).
Trong xã hội trung đại, những niềm vui trần thế của con ngời thờng
bị lễ giáo hạn chế, cấm kỵ, môi trờng sinh hoạt văn hoá dân gian giúp con
ngời trở về cuộc sống gần tự nhiên, tự do, dân chủ hơn. Dân gian dùng trào
tiếu để giải thiêng, phàm tục, suồng sã hoá những chuẩn mực chính thống.
Qui luật này dờng nh có tính phổ biến với nhiều dân tộc trên thế giới.
Nhiều truyện thơ Nôm có tiền thân là những bài kể hạnh hoặc bắt nguồn
từ các phật thoại, tiên thoại, thần tích.

7
Tạo điều kiện cho truyện thơ Nôm xuất hiện còn là nôi văn học dân
gian: cách kể chuyện từ phơng thức truyền miệng, tiêu biểu là cổ tích; ca dao
dân ca cung cấp thể thơ lục bát để nó trở thành nhân vật chính, đảm nhận
vai trò của thể loại.
1.2.2.2. Giao lu văn hoá

ly tâm. Nghệ sĩ vợt tính qui phạm của thi pháp trung đại, xích gần tới
chủ nghĩa hiện thực.

8
1.3. Quá trình hình thành và phát triển truyện thơ Nôm
Quá trình hình thành, phát triển, sự nhờng bớc của thể loại trải qua
bốn giai đoạn.
Giai đoạn đầu - khoảng thế kỷ XVI là giai đoạn đầu tiên trong hành
trình thể loại. Truyện thơ Nôm đợc hình thành và có thể những sáng tác đã
ra đời. Giai đoạn thế kỷ XVII khẳng định chính thức có văn bản truyện thơ
Nôm, khi chữ Nôm và thơ lục bát thử sức qua các thể loại ở giai đoạn
trớc. Giai đoạn thế kỷ XVIII, nửa đầu XIX là thời hoàng kim của thể loại. Số
lợng nhiều, cốt truyện từ nhiều nguồn khác nhau, chủ đề phong phú, nhiều
tác phẩm lớn, có kiệt tác Đoạn trờng tân thanh. Truyện thơ Nôm giai đoạn
này ví nh dàn hợp xớng nhiều bè tạo nên âm hởng đặc sắc, khẳng định
sức mạnh của thể loại, có đóng góp lớn trên bớc đờng phát triển văn học
dân tộc. Giai đoạn nửa cuối XIX, đầu XX là thời nhờng bớc, giã từ văn đàn
của thể loại. Sau khi đã làm tròn sứ mệnh, truyện thơ Nôm lùi vào hậu
trờng khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu XX. Thời đại điều chỉnh thị hiếu
công chúng. Văn học dân tộc diễn ra quá trình hiện đại hoá mạnh mẽ những
năm đầu thế kỷ XX. Số phận thể loại có lý do khách quan và nguyên nhân
tự chúng, truyện thơ Nôm cũng vậy.
1.4. Diện mạo và chủ đề truyện thơ Nôm
1.4.1. Diện mạo
Trớc hết, xét về số lợng tác phẩm. Theo t liệu của Kiều Thu
Hoạch, kho tàng truyện thơ Nôm còn khoảng trên 100 truyện. Con số đó
khẳng định thực lực thể loại. Chúng có thể đáp ứng nhiệm vụ đặt ra đối với
thể loại: bao quát hiện thực khá rộng lớn, miêu tả nhiều số phận, nhiều loại
ngời khác nhau.
Thứ hai, qui mô tác phẩm truyện thơ Nôm: 42/50

nghệ sĩ trớc thời đại và nhu cầu tự thân của ngời cầm bút.

1.5. Vấn đề phân loại truyện thơ Nôm
Xa nay tồn tại hai cách chia loại. Cách thứ nhất, dựa vào tiêu chí có tên
hoặc không có tên tác giả, giới nghiên cứu định loại truyện thơ Nôm khuyết
danh và hữu danh. Cách thứ hai, căn cứ vào nội dung và trình độ nghệ thuật
của tác phẩm, chúng đợc gọi là bình dân và bác học.
Tác giả luận án đa ra cách chia dựa trên thực tế sáng tác thể loại. Tiêu
chí chủ yếu là đề tài, chủ đề, nguồn cốt truyện và chức năng của truyện thơ
Nôm. Bớc đầu chúng tôi chia thành năm loại: truyện lãng mạn, thế sự, lễ
nghi tôn giáo, luân lý đạo đức và lịch sử. Việc định loại chỉ có ý nghĩa tơng
đối. Đờng biên giữa các sáng tác lãng mạn, thế sự hay tôn giáo vẫn có thể
giao thoa.
Tóm lại, với những tiền đề ngoài văn học và những tiền đề thuộc bản
thân văn học đã tạo điều kiện cho truyện thơ Nôm hình thành và phát triển.
Có thể nhận thấy sự biến chuyển trên các lĩnh vực kinh tế, t tởng, văn hoá
cùng sự trởng thành của ngôn ngữ dân tộc, sự vơn lên theo kịp xu thế thời
đại của nghệ sĩ. Họ có ý thức tích cực trong tiếp nhận văn hoá bên ngoài.
Truyện thơ Nôm là sản phẩm tinh thần cộng hởng từ nhiều yếu tố. Sự có
mặt của loại tiểu thuyết bằng thơ thời trung đại là sản phẩm tất yếu.

10
Chơng 2

Mô hình kết cấu cốt truyện truyện thơ Nôm
theo trình tự thời gian 2.1. Khái niệm kết cấu, cốt truyện và kết cấu cốt truyện
2.1.1. Khái niệm kết cấu

cấu trúc nội tại thông qua hệ thống tình tiết, chi tiết phong phú. Bởi vì sau

11
sự kiện thứ hai, nhân vật vận động khác nhau. Vì thế, ngời viết diễn đạt mô
hình rõ hơn là: gặp gỡ

trắc trở, chia ly hoặc tai biến, lu lạc

đoàn tụ.
Đây là dạng thức mang ý nghĩa nghệ thuật. Chiều hớng mũi tên nhấn
mạnh con đờng thẳng nhân vật trải qua, vị trí trớc sau của các sự kiện
không xê dịch. Ta qui định: sự kiện gặp gỡ là A, sự kiện trắc trở hay tai
biến là B, thì sự kiện đoàn tụ là A. Hai sự kiện đầu và cuối có cách qui ớc
là A và A bởi vì gặp gỡ nào, đoàn tụ ấy, không có các gặp gỡ khác và các
đoàn tụ khác theo cách cắt nghĩa này. Nhân vật chính trong truyện là cặp
đôi nam nữ nên có kiểu cấu trúc nh vậy.
Chúng tôi khảo sát, thống kê và thấy 22/50
tác phẩm = 44% tuân thủ
kết cấu này (Bảng 2.1, tr.64 LA). Đây là mô hình khuôn mẫu đợc đúc rút
từ lâu đời trong truyền thống nghệ thuật tự sự phơng Đông.
2.3. Nghệ thuật thể hiện những biến thái hệ thống tình tiết, sự kiện
trong kết cấu cốt truyện truyện thơ Nôm theo trình tự thời gian và chiều
hớng kết thúc có hậu.
Chúng tôi tìm hiểu xem các tình tiết trong mỗi sự kiện đợc tổ chức,
gắn kết ra sao? Các sự kiện đợc móc nối thế nào? Mỗi sự kiện có ý nghĩa
gì đối với mạch kể; với việc lý giải hệ thống nhân vật, chủ đề; thời gian,
không gian nghệ thuật
Cùng có chung tên gọi gặp gỡ

(trắc trở) tai biến

nhóm lãng mạn đã phản ánh một phần hiện thực phức tạp, éo le, thậm chí bi
kịch tình yêu trớc tác động khách quan.
ở những sáng tác lãng mạn, sự kiện này là tiêu điểm, cốt lõi để thêu
dệt nên nội dung. Số lợng dòng thơ đợc u tiên (trên 40% - Bảng 2.2,
tr.66 LA). Bức tranh hội ngộ phong phú, nhiều tình tiết, diễn biến khá phức tạp.
Là kết tinh đặc sắc của thể loại về nội dung và nghệ thuật, Truyện
Kiều hiện diện nhiều dạng thức kết cấu: theo trình tự thời gian, trùng điệp,
hô ứng, đồng tâm, kết cấu của kịch Các dạng thức tràn sang nhau không
có ô ngăn nhất định. Vì thế Truyện Kiều không có sự tơng đồng với cách
diễn đạt phổ biến. Mỗi gặp gỡ của Thuý Kiều là một đoạn đời, một quan hệ
khác nhau. Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải, không ai thay thế đợc ai. Mỗi
tình cảm là một sắc thái riêng biệt. Tuy nhiên, sau mỗi gặp gỡ là một màu ly
biệt, chỉ thấy buồn đau, mất mát, xót lòng ở lại, t
rùng điệp gặp gỡ, trùng
điệp chia ly. Cuộc tái ngộ Kim - Kiều đậm màu sắc bi kịch. Độc giả không
bình yên với hình thức có hậu đó. Tự sâu thẳm dội lên nỗi khắc khoải khôn
nguôi. Nguyễn Du cắt nghĩa câu chuyện tình yêu hạnh phúc cổ điển và hiện
đại, độc đáo và nhân bản.
Bằng hình thức gặp gỡ rồi chia ly mãi mãi, Nguyễn Du đã khắc hoạ
con ngời bi kịch, con ngời tự ý thức trong chiều sâu tâm tởng. Dù mợn
cốt truyện nhng Nguyễn Du không đơn thuần chuyển dịch những tình tiết,
sự kiện trong lam bản Kim - Vân - Kiều, chúng đã đợc nội cảm hoá.
Nguyễn Du quan tâm việc sắp xếp chúng nh thế nào, diễn tả chúng ra sao
để tạo thành hệ thống mới, có đời sống nghệ thuật mới.

13
Cấu trúc cốt truyện góp phần sáng tỏ hệ thống nhân vật. Các nhân vật tài
tử giai nhân và thị nữ, ngời hầu đợc khắc hoạ rõ nét. Nhân vật tài tử đa tình,
si tình là một kiểu biến thể chàng nho sinh truyền thống. Con ngời công
danh có độ phai nhạt nhiều. Xứng đôi với tài tử là giai nhân nhan sắc, tài


14
ở sự kiện trắc trở, (tai biến), nghệ sĩ đã chỉ ra những nguyên cớ chủ
yếu có tính xã hội, tính giai cấp, tính đạo đức, tính ngẫu nhiên gây bất hạnh
cho con ngời.
Đối với sáng tác lãng mạn, nhân vật chủ yếu gặp trắc trở. Có thể do
trai gái hiểu lầm nhau hoặc cha mẹ ngăn cản, ngời ngoài phá đám
Những sáng tác thế sự, nhân vật thờng gặp tai hoạ. Đấng tối thợng
gieo hoạ. (Tống Trân - Cúc Hoa, Lý Công ). Tai hoạ do tệ nạn quan nha,
bọn kẻ cớp (Truyện Kiều, Phù dung tân truyện). Con ngời khổ vì thói
xấu ẩn nấp trong phần tối tăm ích kỷ (Lâm Sanh - Xuân Nơng, Lý Công )
Tiểu thuyết là sự thực ở đời, nó diễn tả những biến chuyển linh động, với
những mâu thuẫn phức tạp và những nguyên cớ (Phạm Quỳnh). Những tai
biến trong truyện thơ Nôm thế sự đã chứng tỏ phần nào sự đời phức tạp.
Cấu trúc lý giải chiều hớng đờng đời nhân vật. Tai biến đảo tung số
phận, tạo ra đờng gấp khúc, đứt gãy, lối rẽ ngoặt khó lờng. Nhân vật từ
khoảng sáng phải dấn thân vào vùng tối.
Thời gian diễn ngôn ngắn, song sự kiện tai biến (trắc trở) thể hiện biệt
tài của ngời trần thuật. Ngòi bút nghệ sĩ tỏ ra có bản lĩnh khi góp phần
giải phẫu ung nhọt xã hội. Đó là sự lan tràn hoành hành của cái ác, cái
xấu, sự mong manh của sinh mệnh con ngời, sự bất lực của vơng pháp.
Với kiểu kết cấu theo trình tự thời gian, sau (trắc trở) tai biến là chia
ly hoặc lu lạc
. Mạch kể tạo đợc sự kết nối lôgíc giữa các tình tiết và sự
kiện trớc sau. Nếu nhân vật gặp trắc trở, tiếp theo họ thờng chia ly. Đó là
ở những sáng tác lãng mạn. Nếu sự kiện thứ hai là tai biến, thì chặng sau
nhân vật trải qua lu lạc. Kiểu diễn tả này hiện diện trong nhóm truyện thế
sự là chính. Với loại lãng mạn, trắc trở, chia ly không phải tâm điểm tự sự.
Số lời thơ khiêm tốn (từ 6% đến 20%, Bảng 2.3, tr.91 LA).
Khác nhóm lãng mạn, chặng lu lạc là tâm điểm tự sự của truyện thế

ấm. Chúng biểu hiện chủ yếu ở các truyện lãng mạn và một số sáng tác thế
sự. Kết thúc này hiện hữu trong 11/50 tác phẩm (Song Tinh, Hoa tiên, Bình -
Sơn - Lãnh - Yến ). Lối kết thúc này đợc l
ợc kể là chính, ít câu chữ.
Công thức diễn tả khuôn sáo, lặp lại trong nhiều tác phẩm: Loan phợng
sánh đôi, Song song anh yến, sum họp trúc mai Phần cuối nghèo nàn
chi tiết. Đoàn tụ trọn vẹn bày tỏ sự cố gắng của con ngời, tâm nguyện
nhân sinh đợc đền đáp. Nụ cời lạc quan đọng lại trong đoạn kết.
Khi đoàn tụ, con ngời đợc trở về giữa quê hơng, gia đình thân
thơng. Một không gian yên bình là mong ớc của mọi ngời sau khi phải
trải qua không gian lu lạc xa lạ.
Kiểu đoàn tụ cha trọn vẹn toát lên từ ý nghĩa khách quan của tác
phẩm. Hình thức sum họp nhng quá khứ đã cớp đi niềm vui đích thực của
con ngời. Phần đời hao khuyết, nỗi buồn đau của nhân vật không đợc lấp
đầy, xoa dịu trong cuộc sống hiện tại. (Phơng Hoa, Truyện Kiều ). ở mức
độ khác nhau, lôgíc cấu trúc đã tái hiện khá khách quan những hoàn cảnh

16
cụ thể của con ngời, không có mẫu số chung qui đồng cho các cuộc đời.
Nghệ sĩ thấu cảm nỗi bất hạnh, bi kịch trong chiều sâu tâm hồn mà nhìn bề
ngoài không dễ gì phát hiện đợc.
Nguyễn Du diễn tả bi kịch đoàn tụ nh thế thấm thía qua nỗi buồn đau
của các nhân vật Thuý Kiều, Kim Trọng và Thuý Vân. Cũng trong tiệc sum
họp, nghệ sĩ hoàn thiện tính cách nhân vật. Thuý Kiều ý thức sâu sắc về bản
thân, Kim Trọng thiết tha, cao thợng, Thuý Vân sâu sắc nhng ít lời, sống
bằng lý trí.
Tính chất, hình thức đoàn tụ giả tởng là kiểu kết quen thuộc trong cổ
tích thần kỳ. Phần lớn những sáng tác mợn cốt truyện hoặc ảnh hởng t
duy nghệ thuật dân gian hiện diện kiểu đoàn tụ này. Nhờ yếu tố thần kỳ,
mạch kể không bị ngng đọng, số phận nhân vật đổi chiều, con ngời đi về

thờng có cái nhìn chung chung đối với những tơng đồng bên ngoài của
cốt truyện, cha có sự đánh giá thật công bằng, riêng biệt cho mỗi sáng tác.
Bớc đầu, tác giả luận án phác hoạ mô hình kết cấu cốt truyện truyện thơ
Nôm theo trình tự thời gian và kết thúc có hậu nh sơ đồ 2.1, tr.116 LA).
Có thể tóm tắt ngắn gọn nh sau: gặp gỡ (trực tiếp, đờng vòng, ơc lệ)
trắc trở hoặc tai biến (đột ngột, nhiều nguyên nhân), sau đó nhân vật chia ly
hoặc lu lạc (thời gian dài, nhiều hình thức) đoàn tụ (trọn vẹn, cha trọn
vẹn, giả tởng).
2.4. Mô hình kết cấu cốt truyện truyện thơ Nôm theo trình tự thời
gian không kết thúc có hậu
Luận án của chúng tôi khảo sát một số truyện tiêu biểu trong nhóm lễ
nghi tôn giáo. Nghệ sĩ không xây dựng cốt truyện trên lôgíc có tính khách
quan giữa các sự kiện mà h cấu các tình tiết, sự kiện từ điểm tựa tâm linh
bằng một đờng dây giả tởng trong cách hình dung của mình.
Tìm hiểu những sáng tác này, tác giả luận án đặt nghệ thuật và tôn
giáo trong mối quan hệ hai chiều. Chúng nh một dòng nhng tách thành
hai nhánh ngợc chiều nhau. Thứ nhất, nghệ sĩ mợn yếu tố thần kỳ tôn
giáo để làm cứu cánh cho sự bế tắc của cuộc đời, diễn tả giả tởng xã hội.
Thứ hai, tôn giáo cậy nhờ nghệ thuật để thâm nhập vào cõi tâm linh con
ngời - đó là giả t
ởng tôn giáo.
2.4.1. Với giả tởng xã hội, con ngời bày tỏ những t tởng, ớc
vọng khác nhau: quay lng, phủ nhận thực tại hớng về quá khứ, chối bỏ
nhân gian, con ngời muốn siêu thoát thế tục (Mai đình mộng ký, Từ Thức,
Lu Nguyễn nhập Thiên Thai). Bạch Viên - Tôn Các, Từ Thức, Lu Nguyễn
nhập Thiên Thai có cốt truyện không xuôi chiều, thuần nhất. Phải chăng
nghệ thuật diễn tả tâm thế ứng xử giằng co, phức tạp của kẻ sĩ đơng thời
trớc nhiều lựa chọn! Những sáng tác này thờng có dạng thức là: nhân vật
gặp trắc trở (thất cơ lỡ vận, bất mãn hiện tại ) nảy sinh giả tởng siêu
thoát thế tục (trốn vào mộng mị, quá khứ, lạc vào cõi tiên )

Với kết cấu cốt truyện nh
thế, yếu tố thần kỳ đã và đang có mặt trong
những loại hình nghệ thuật và văn chơng đơng đại. Chúng không chỉ bao
hàm đặc điểm thời đại đã làm chúng xuất hiện, mà còn có sự liên hệ sinh
động với những thời đại tiếp sau (M. B. Khrápchenkô). Không ít nhân vật
lịch sử, danh nhân đợc nhìn nhận đa chiều. Nghệ sĩ đơng đại vừa hoá giải
yếu tố thần kỳ vừa thế tục hoá yếu tố thần kỳ, đồng thời biến cải yếu tố thần
kỳ theo quan niệm hiện đại (Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Hồ Quý Ly của
Nguyễn Xuân Khánh ).
Bớc đầu, tác giả luận án trình bày dạng thức kết cấu cốt truyện bắt nguồn
từ giả tởng tôn giáo - Phật giáo, nh sơ đồ 2.2, tr. 139 LA . Có thể diễn đạt gọn
nh sau: Tìm đến cõi Thiền (tự nguyện, bị xô đẩy do hoàn cảnh, do Phật thử
thách) bị ngăn cấm hoặc không

tu đạo

đắc Phật. 19
Chơng 3
mô hình kết cấu cốt truyện truyện thơ Nôm
không theo trình tự thời gian Chơng này chúng tôi tìm hiểu những biến tấu của mô hình gốc và
một số kiểu tổ chức cốt truyện không theo trình tự thời gian để thấy rõ sự
sáng tạo của nghệ sĩ.
3.1. Kết cấu đảo trật tự thời gian và kết cấu trùng điệp, lồng ghép
Vẫn là các sự kiện, biến cố lớn trong cuộc đời nhân vật: gặp gỡ, (trắc


20
trình bày bởi lối sắp xếp trùng điệp sự kiện gặp gỡ với nhân vật nam (Nhị
độ mai). Những sáng tác có cấu trúc nh thế đã diễn tả khá phong phú
chuyện đời. Mỗi gặp gỡ là mỗi hoàn cảnh, có ý nghĩa, sắc thái tình cảm
khác nhau.
ở lối đảo trật tự, nhân vật còn đợc thử thách bằng nhiều tai hoạ, tạo
ra kiểu sắp xếp trùng điệp tai hoạ. Cấu trúc đã phần nào diễn tả xung đột xã
hội gay gắt giữa con ngời với con ngời, giữa con ngời với các thế lực
xấu xa tàn bạo, với cờng quyền. Đó là Lục Vân Tiên, Nhị độ mai. Mô hình
cấu trúc là tai biến: gặp gỡ

tai biến
1
, tai biến
2
, lu lạc

đoàn tụ.
Kết cấu trùng điệp còn đắc dụng trong những trờng hợp có mạch kể
xuôi dòng thời gian tuyến tính nhng tác giả gia tăng các tần số lặp lại của
một số môtíp, nhiều yếu tố ngẫu nhiên. Phần lớn là những truyện thế sự kế
thừa, ảnh hởng cách kể chuyện dân gian có cấu trúc nh vậy. Chúng giống
nh các biến thể trên cùng một kiểu mẫu, vừa nhất dạng một cách kỳ lạ
vừa chói loà (V. Prốpp).
Vì có nhiều gặp gỡ nên đã tạo thành những mối nhân duyên tay ba,
tay t cho nhân vật. Màn đoàn tụ đông vui, phá vỡ mô hình gốc. Dạng thức
của lối cấu trúc này là gặp gỡ trắc trở, chia ly hoặc tai biến, lu lạc: gặp
gỡ
1

một số sáng tác bằng thơ có nguồn cốt truyện từ văn học dân gian thuộc loại
thế sự tổ chức nội dung theo cách thức xâu chuỗi, lắp ghép (Thạch Sanh,
Chàng Chuối ). Trong một cốt truyện có nhiều mẩu chuyện đợc xâu

21
chuỗi xoay quanh cuộc đời nhân vật. Chúng không giàng buộc nhau theo
quan hệ nhân quả, nhng hợp thành một hệ thống để cùng hoà âm, góp
tiếng nói chung cho ý tởng nghệ thuật. Chúng phát huy trong chặng đời
lu lạc nhân vật. Các yếu tố ngẫu nhiên cũng đợc đan cài nhiều. Mỗi nhân
vật là những mảnh đời bị cắt chia ở những hoàn cảnh khác nhau, những
không gian khác nhau. Đồng thời sự rời rạc đợc xâu chuỗi, lắp ghép để hoàn
thiện những số phận, để gắn kết các mảnh đời khác nhau hợp tan, tan hợp.
Kết cấu xâu chuỗi, lắp ghép giúp nghệ sĩ tự do kéo dài hay co ngắn
văn bản diễn ngôn tuỳ ý. Với thể thức xâu chuỗi, lắp ghép các tình tiết, sự
kiện, cấu trúc phân biệt kiểu nhân vật. Kiểu nhân vật trong cổ tích tái sinh
trong văn chơng. Kết cấu xâu chuỗi, lắp ghép trong truyện thơ Nôm đã chứng
minh qui luật kế thừa, sáng tạo của văn chơng đối với văn học dân gian.
3.3. Kết cấu đối đáp
Theo quan niệm truyền thống, cốt truyện cổ điển có hệ thống biến cố
và nhân vật. Qua thực tế khảo sát kỹ, một số tác phẩm nh Bớm hoa, Lục
súc tranh công tính truyện khá mờ nhạt, vì vậy chúng tôi gạt ra ngoài.
Những tác phẩm nh Trê cóc, Trinh thử có tính truyện rõ, chúng là đối
tợng đợc tìm hiểu. Tuy nhiên đây là những tác phẩm có cốt truyện cha
phức tạp.
ảnh hởng từ dân gian, nhóm này nhiều nét tơng đồng với ngụ ngôn.
Nhân vật chính là loài vật. Tính phúng dụ triết lý thâm trầm là u thế trội
của chúng.
Để hình thành truyện kể, nghệ sĩ thờng mợn một nguyên cớ, một
tình huống nào đó. Mạch kể đợc thực hiện qua những cuộc thoại.
Đối

cực đoan, giáo điều đẩy con ngời tới u muội. Ví nh chôn con, dành cơm
nuôi mẹ của Quách Cự. Quá khích nh lão Lai, 70 tuổi giả làm con trẻ pha
trò, những chuyện nằm váng, khóc măng
Tóm lại: Chúng tôi đã cố gắng khảo sát và xác lập những mô hình kết
cấu cơ bản hiện diện trong sáng tác truyện thơ Nôm và cố gắng lý giải vì
sao có những hình thức diễn đạt nh vậy. Kết cấu biểu hiện nội dung sâu
sắc. Tuy nhiên, chúng tôi cũng hiểu rằng, đó cha phải là tất cả những dạng
thức cuối cùng đợc xác lập. Song ngời viết đã thực hiện đợc mục đích
đặt ra là: tìm hiểu kết cấu cốt truyện nghệ thuật của truyện thơ Nôm trong
quan hệ biện chứng với nội dung tác phẩm, lý giải sự biến thái hệ thống sự
kiện trong kiểu kết cấu truyện truyền thống; xác lập, lý giải những mô hình
kết cấu mới không giống quan niệm truyền thống, góp phần khẳng định bản
chất thể loại.

Kết luận

1. Phạm trù thể loại có tính ổn định và vận động. Truyện thơ Nôm
cũng vậy. Nó vừa bảo đảm tính tĩnh và phổ quát của đặc trng thể loại vừa
dành khoảng trống cho sáng tạo nghệ sĩ. Phân loại truyện thơ Nôm, luận án
xem xét những sáng tác nh sự biểu hiện bình thờng của đời sống văn học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status