PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP HÓA HỌC
CHO HỌC SINH THCS
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu có tác dụng to lớn trong công
cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước ta chính vì thế việc đổi mới
phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông theo tinh thần nghị quyết IX
của đảng được chỉ rõ “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho học sinh”.
Để đạt được những điều đó cùng với sự thay đổi về nội dung, hình thức tổ
chức dạy học, cần hình thành cho học sinh kỹ năng phân tích, tổng hợp, tạo cho
học sinh năng lực tự học, tự rèn luyện bồi bổ kiến thức cho mình là việc vô cùng
quan trọng.
Đối với nhà trường THCS việc tự rèn cho mình khả năng phân tích tổng
hợp là rất cần thiết đối với tất cả các bộ môn trong đó có bộ môn hoá học, bởi
hoá học là bộ môn khoa học có rất nhiều ứng dụng đối với các nghành khoa học
khác. Góp phần đẩy mạnh sự thay đổi của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đất
nước đang đổi mới.
Trong chương trình hoá học phổ thông để nắm bắt đầy đủ các kiến thức
của bộ môn thì bài tập hoá học được đặc biệt quan tâm vì nó là phương tiện hữu
hiệu trong giảng dạy bộ môn hoá học. Bài tập hoá học góp phần nâng cao khả
năng tư duy sáng tạo cho học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức mà các em
được học.
1
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong quá trình hơn 30 năm làm công tác giảng dạy hoá học ở trường phổ
thông tôi nhận thấy bài tập hoá học là phương tiện hữu hiệu trong giảng dạy hoá
-Phát hiện xây dựng kiến thức mới.
-Nâng cao kiến thức.
2.3. CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
Theo tôi để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trước hết phải:
2.3.1.Hình thành cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản vững
vàng sâu sắc.
Đó là hình thành các khái niệm, các định luật, các tính chất, các quy
luật về cấu tạo chất và về phản ứng hoá học.
2.3.2. Rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy logic chính xác:
Học sinh thông qua các thao tác: Quan sát, Phân tích , tổng hợp và dựa
vào bản chất của vấn đề để tìm ra cách giải quyết ngắn gọn sáng tạo.
Thí dụ:
Cho hỗn hợp X Gồm FeO, Fe
2
O
3
và có khối lượng 30,4 g. Nung hỗn hợp
này trong một bình kín chứa 22,4 lít CO (ĐKTC), khối lượng hỗn hợp khí thu
được là 36 g. Xác định thành phần hỗn hợp khí. Biết rằng X bị khử hoàn toàn tạo
thành Fe.
*Algrit giải:
+Gọi số mol FeO, Fe
2
O
3
tham gia phản ứng lần lượt là a,b
(a,b > 0)
+Viết 2 phương trình phản ứng.
+Tính số mol CO
2
+Cứ 0,5 mol CO kết hợp với 0,5 mol O tạo thành 0,5 mol CO
2
+Thành phần hỗn hợp khí sau khi phản ứng gồm:
0,5 mol CO dư
0,5 mol CO
2
Phân tích: Nếu giáo viên hướng dẫn học sinh biết dùng nguyên lý bảo
toàn nguyên tử, ta có thể đơn giản cách tính mà không phải tính riêng lẻ cho từng
phản ứng. Như vậy tư duy logic, chính xác được phát triển, thể hiện học sinh đã
biết dựa vào bản chất hoá học của bài toán chứ không chỉ chú trọng nhiều tính
toán để tìm ra đáp số của bài.
2.3.3.Rèn luyện năng lực tư duy khái quát hoá trong giải bài tập hoá
học
Năng lực khái quát cao là khả năng phát hiện phát hiện những nét chung
bản chất của nhiều vấn đề, nhiều đối tượng để đưa vấn đề đó về một kiểu nhất
định. Trong giải bài tập hoá học khả năng khái quát thể hiện ở năng lực học sinh
biết phân dạng bài tập hoá học, và biết tìm phương pháp giải chung cho từng
dạng bài.
2.3.4.Rèn khả năng độc lập suy nghĩ :
Là khả năng biết tự đặt ra vấn đề, giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải
quyết vấn đề, không thoả mãn với những cái có sẵn, luôn luôn tìm ra cách giải
quuyết mới ngay cả trong các bài tập quen thuộc.
Thí dụ: Trong sách giáo khoa hoá 9 có bài tập
Từ 80 tấn quặng Firit chứa 40
0
0
S sản xuất được 92 tấn axit sunfuric. Tính
hiệu suất của quá trình.
*Alorit giải:
+ Viết 3 phương trình
2
SO
4
(3)
+Tính khối lượng S có trong 80 tấn quặng Firit
+Dựa vào phương trình (1) tính khối lượng SO
2
+Dựa vào phương trình (2) tính khối lượng SO
3
+Dựa vào phương trình (3) tính khối lượng H
2
SO
4
+Tính hiệu suất.
*cách khác:
Học sinh nhận thấy quá trình sản suất H
2
SO
4
từ quặng Firit gồm
nhiều phản ứng kế tiếp (sản phẩm của phản ứng này là chất tham gia của
phản ứng kế tiếp )
Học sinh lập hồ sơ chuyển hoá từ 3 phản ứng trên
1mol FeS
2
→
2 mol SO
2
2.3.5. Rèn luyện tư duy sáng tạo linh hoạt thông qua việc tìm các cách
giải của một bài tập.
Thí dụ: Cho 10,8 g một kim loại hoá trị III tác dụng với Clo có dư thu
được 53,8 g muối. Xác định kim loại theo phản ứng.
Cách 1: Tính theo phương trình hoá học
Gọi kim loại hoá trị III là A, nguyên tử khối là a ( a>0 )
PTHH : 2A + 3Cl
2
= 2ACl
3
2 mol : 3 mol : 2 mol
a
8,10
mol
35,35
4,53
xa +
mol ACl
3
Ta có:
5
5,106
4,538,10
+
=
aa
a = 27. Kim loại đó là Al
Cách 2:
=
5,35
6,42
= 1,2 ( mol )
Số mol muối tạo thành =
3
2,1
= 0,4 ( mol )
Ta có: 0,4 x ( a + 35,5 x 3 ) = 53,4
⇒
a = 27 Kim loại đó là Al
Phân tích:
Thực hiện yêu cầu này tuy tốn nhiều thời gian nhưng cùng một lúc nó giúp
ta đạt được nhiều mục đích.
+Phát huy năng lực sáng tạo của học sinh.
+Tổng kết các phương pháp giải bài tập.
+So sánh và đánh giá các phương pháp giải.
2.3.6.Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc hướng
dẫn học sinh ra đề, tự giải và tự kiểm định kết quả.
6
Việc tự ra một đề bài tập đặt học sinh vào vị trí phải sử lý nhiều tình
huống khác nhau, theo các mức độ khác nhau.
Thí dụ:
Từ sơ đồ mối quan hệ giữa các loại chất vô cơ hoặc hữu cơ, tôi thường yêu
cầu học sinh:
+ Học sinh tự ra đề về một chuỗi biến hoá ( trong đó các chất đã biết
CTHH ) sau đó tự viết phương trình, rồi kiểm nghiệm đúng sai.
+ Tự ra đề về một chuỗi biến hoá ở mức độ cao hơn ( trong chuỗi biến hoá
đó chỉ có một hoặc vài chất đã biết CTHH )
+ ở mức độ cao hơn nữa: Học sinh tự ra đề về chuỗi biến hoá thể hiện
Rèn được kỹ năng này cho học sinh, một phần cũng giúp cho giáo viên
năng động sáng tạo, luôn trăn trở tìm ra cái mới đáp ứng được yêu cầu dạy học,
nâng cao tay nghề, là một phương pháp tự học, tự bồi dưỡng rất có hiệu quả.
Qua rèn luyện phát triển tư duy cho học sinh thông qua bài tập hoá học tôi
thấy rõ chất lượng được nâng lên cụ thể là:
Kết quả các lần K/S học sinh lớp 9 năm học 2012-2013
Sĩ số
Số lần
K/S
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
24
1 1 4,2% 5 20,8
%
15 62,5
%
3 12,5%
2 3 12,5
%
9 37,5
%
11 45,8
%
1 4,2%
3 6 25% 12 50% 6 25% 0 0
Nhìn vào số liệu giỏi, khá, trung bình, yếu của các lớp qua các lần khảo sát
từ đầu đến cuối năm học, khi chưa áp dụng và đã áp dụng phương pháp phát
triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập hoá học ta thấy: Số học sinh
khá, giỏi tăng, số học sinh trung bình, yếu giảm đặc biệt nhiều học sinh yếu đã
vươn lên trung bình, chứng tỏ phương pháp đã có hiệu quả rõ rệt.
9
MỤC LỤC
10