Quan hệ pháp lý giữa nhà nước và doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Pdf 12

Bộ giáo dục v đo tạo Học viện chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh

Phạm minh tuấn quan hệ pháp lý giữa nh nớc
v doanh nghiệp nh nớc
ở việt nam hiện nay

luận án tiến sĩ luật học

H nội - 2007
5
Bộ giáo dục v đo tạo Học viện chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh

quan nhà nớc vẫn can thiệp vào hoạt động kinh doanh; hoạt động kém hiệu
quả và thất thoát tài sản tại DNNN cha đợc khắc phục; việc thực hiện quyền
sở hữu nhà nớc tại DNNN còn lúng túng; Nhà nớc vẫn còn bao cấp, u ái cho
DNNN. Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do: thứ nhất, các qui định pháp
luật về DNNN cha hoàn toàn phù hợp, tính khả thi không cao; thứ hai, việc
chấp hành pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật yếu của nhiều cán bộ, viên
chức, ngời quản lý và lao động trong DNNN; thứ ba, bộ máy nhà nớc vẫn còn
cồng kềnh, kém hiệu lực, thủ tục hành chính phiền hà, nhiều tầng nấc; thứ t,
cha phân định rạch ròi giữa quản lý nhà nớc và quản lý kinh doanh, việc thực
hiện quyền sở hữu của Nhà nớc còn mang nặng tính hành chính, không phù
hợp với cơ chế thị trờng; thứ năm, việc phát hiện và xử lý các vi phạm pháp
luật đối với các chủ thể nêu trên cha kịp thời và cha nghiêm minh.
Vì vậy, nghiên cứu thực trạng QHPL giữa Nhà nớc và DNNN hiện nay có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc tối u hoá quyền sở hữu nhà nớc và tăng
cờng quyền tự chủ của DNNN, đảm bảo hiệu quả của quá trình cải cách
DNNN. Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã chọn đề tài: "Quan hệ pháp lý giữa
Nhà nớc và doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam hiện nay" để làm Luận án tiến
sĩ Luật học.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
Tình hình nghiên cứu trong n
ớc:
Các công trình nghiên cứu đã khái quát quá trình đổi mới, phát triển của
DNNN để nâng cao vị trí, vai trò của DNNN.Tuy nhiên đổi mới DNNN đạt hiệu
quả thấp, thậm chí thụt lùi, nhất là trong thời gian đầu của quá trình chuyển đổi

2
cơ chế kinh tế. Các công trình này đã nghiên cứu và đề cập đến nhiều khía
cạnh, ở nhiều mức độ khác nhau, liên quan đến DNNN, địa vị pháp lý, tổ
chức, hoạt động của các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế, mối QHPL giữa
các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế với nhau và với Nhà nớc.

kinh tế thị trờng. Hiện nay, cha có công trình hay đề tài nào đi sâu nghiên cứu
một cách có hệ thống và toàn diện về quá trình hoàn thiện QHPL giữa Nhà nớc
với DNNN tại Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập
WTO và Nhà nớc đã ban hành Luật DNNN 2003, Luật DN 2005.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án: làm rõ cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện QHPL
giữa Nhà nớc và DNNN một cách có hệ thống, đề xuất các phơng hớng và
giải pháp tiếp tục hoàn thiện QHPL giữa Nhà nớc với DNNN trong điều kiện
phát triển kinh tế thị trờng định hớng XHCN.
Nhiệm vụ của luận án.
Một là, xác định khái niệm DNNN và khái niệm QHPL giữa Nhà nớc và
DNNN. Từ đó làm sáng tỏ nội dung, đặc điểm, khách thể và các yếu tố tác động
đến QHPL giữa Nhà nớc và DNNN.
Hai là, đánh giá thực trạng quá trình hình thành, vận động và phát triển
của QHPL giữa Nhà nớc và DNNN ở nớc ta trong thời kỳ đổi mới.
Ba là, trên cơ sở những tiền đề lý luận và sự đánh giá thực trạng QHPL
giữa Nhà nớc và DNNN, luận án đa ra định hớng và các giải pháp hoàn
thiện QHPL giữa Nhà nớc và DNNN.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án chỉ nghiên cứu quan hệ pháp lý giữa Nhà nớc với DNNN, trong
đó Nhà nớc với t cách là nhà đầu t. Việc nghiên cứu các quan hệ pháp luật
cụ thể trong đời sống thực tiễn (trạng thái động) có tính chất minh chứng cho
những nhận xét, đánh giá về QHPL giữa Nhà nớc và DNNN (trạng thái tĩnh).
Luận án không tập trung đi sâu vào quản lý nhà nớc đối với hoạt động kinh
doanh của DNNN mà tập trung nghiên cứu QHPL giữa Nhà nớc (nhà đầu t
)
và DNNN (tổ chức kinh doanh).

4
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu QHPL giữa Nhà nớc và DNNN trong

Chơng 1
Cơ sở lý luận Về QUAN Hệ Pháp Lý
Giữa Nh Nớc V DOANH Nghiệp Nh Nớc
1.1. Khái Niệm QUAN Hệ Pháp Lý Giữa Nh Nớc V DOANH
Nghiệp Nh Nớc
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nớc
DNNN đợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau ở các nớc do cách tiếp
cận khác nhau về khoa học hoặc do để thực hiện các số liệu thống kê với mục
đích khác nhau. Trên cơ sở tiếp thu định nghĩa về DNNN trên thế giới, tác giả
đa ra định nghĩa DNNN nh sau: "Doanh nghiệp nhà nớc là tổ chức kinh tế
có mục đích thơng mại do Nhà nớc nắm quyền kiểm soát và chi phối".
Theo khái niệm này, các đơn vị kinh tế có cơ cấu tổ chức nhất định, hoạt động
nhằm vào các giá trị lợi ích do Nhà nớc kiểm soát hoặc chi phối là DNNN.
Tuy nhiên, khái niệm "mục đích thơng mại", "kiểm soát và chi phối" đợc hiểu
ở mỗi quốc gia một cách khác nhau. Ngay cả trong mỗi quốc gia, trong mỗi giai
đoạn phát triển, khái niệm trên cũng đợc hiểu không đồng nhất.
1.1.2. Đặc điểm doanh nghiệp nhà nớc
Thứ nhất, DNNN là một trong những chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế.
Về mặt pháp lý, DNNN có đầy đủ đặc điểm của DN trên cả hai phơng diện, đó
là: kinh tế và pháp lý. DNNN là một đơn vị kinh doanh có chức năng chính là sản
xuất hàng hoá, dịch vụ, tiến hành kinh doanh bằng vốn và tài sản của mình, phải
đăng ký kinh doanh và phải thực hiện chế độ hạch toán kế toán và thống kê.
Thứ hai, đặc trng của DNNN khác với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
(DNNQD) là sự hỗn hợp của tính kinh doanh và tính công cộng. Có thể căn cứ
vào hai tính chất nêu trên để phân biệt DNNN và tổ chức kinh tế khác.
Tính chất kinh doanh thể hiện ở mục đích hoạt động của DNNN. Kết quả và
năng lực hoạt động của chúng phụ thuộc vào năng lực thực hiện quyền tự chủ kinh

6
doanh và khả năng tổ chức, quản lý kinh doanh. Tính chất công cộng của DNNN

đối với DNNN. Với t cách này, Nhà nớc là chủ thể có quyền chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt đối với DNNN và gián tiếp đối với tài sản và vốn của
Nhà nớc tại DNNN.
1.2.3. Khách thể của quan hệ pháp lý giữa Nhà nớc và DNNN
Khách thể quan hệ pháp lý giữa Nhà nớc và DNNN là những lợi ích
vật chất và các giá trị kinh tế x hội khác mà các chủ thể hớng tới. Việc đạt
tới những lợi ích này nhằm thoả mãn nhu cầu và thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp
lý của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật cụ thể.
Theo định nghĩa này, khách thể của QHPL giữa Nhà nớc và DNNN bao
gồm: Hiệu quả đầu t, lợi nhuận, các nguồn thu ngân sách để tích luỹ quốc gia
và các giá trị kinh tế - xã hội nh: xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, bảo
đảm hàng hoá, dịch vụ phục vụ an ninh, quốc phòng và hàng hoá, dịch vụ thiết
yếu, nhạy cảm (các chất, độc hại, cháy nổ, ); bình ổn thị trờng, điều tiết nền
kinh tế; giải quyết lao động, việc làm; ổn định xã hội, xoá đói giảm nghèo, củng
cố độc lập và chủ quyền quốc gia.
1.3. Đặc điểm của quan hệ pháp lý giữa Nh nớc v doanh
nghiệp nh nớc
1.3.1. QHPL giữa Nhà nớc và DNNN có những đặc điểm chung của
quan hệ pháp lý, là quan hệ xã hội hình thành và vận động trên cơ sở pháp luật
và căn cứ vào pháp luật, thể hiện sự thống nhất về quyền và nghĩa vụ pháp lý
giữa các chủ thể.
1.3.2. QHPL giữa Nhà nớc và DNNN thể hiện sự tơng tác của quyền
sở hữu doanh nghiệp và sở hữu vốn và tài sản trong DNNN. Với t cách là
chủ thể pháp lý độc lập, có t cách pháp nhân, DNNN thực hiện các quyền
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình một cách độc lập. Song, sở
hữu DNNN là sở hữu hình thành từ phần vốn góp của Nhà nớc nên các quyền
chủ sở hữu đối với vốn và tài sản của DNNN đợc thực hiện có thể bị giới hạn

8
hoặc ràng buộc bởi điều lệ, nội dung đăng ký kinh doanh và sự kiểm soát của

9
1.4. các yếu tố chi phối mối quan hệ pháp lý giữa nh nớc v
doanh nghiệp nh nớc
1.4. Chức năng kinh tế của Nhà nớc
Chức năng kinh tế của Nhà nớc là một công cụ điều tiết vĩ mô hàng đầu
và quan trọng. Tuy nhiên, phạm vi mức độ sử dụng công cụ DNNN, mức độ tự
chủ, tính chất lệ thuộc của DNNN vào chủ sở hữu Nhà nớc phụ thuộc vào chức
năng kinh tế trong từng giai đoạn phát triển.
1.4.2. Vị trí, vai trò của hệ thống DNNN trong nền kinh tế
Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm về chính trị pháp lý và cũng là vấn đề bức
xúc về mặt quản lý kinh tế. Tồn tại với t cách là nhân tố trọng yếu trong vai trò
chủ đạo của kinh tế nhà nớc, DNNN đang đối mặt với mâu thuẫn cơ bản, đó là
mâu thuẫn giữa thực trạng hoạt động với sứ mạng đợc giao phó.
1.4.3. Cơ chế kinh tế
Đặc điểm, qui luật, nguyên lý của cơ chế thị trờng, môi trờng kinh doanh
tác động mạnh mẽ đến quá trình hoàn thiện QHPL giữa Nhà nớc và DNNN.
Điều này thể hiện rõ nét trong quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế nớc ta.
1.4.4. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và hội
nhập kinh tế quốc tế
Yếu tố này yêu cầu: Thứ nhất, phải từng bớc xoá bỏ hàng rào bảo hộ
nh thuế, hạn ngạch nhập khẩu ; thứ hai, dới sức ép cạnh tranh của quốc
tế, Việt Nam phải khẩn trơng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh DNNN; thứ
ba, Việt Nam buộc phải tuân thủ các Qui tắc của WTO, trong đó có các qui
tắc đối với DNNN.
Kết luận chơng 1
QHPL giữa Nhà nớc và DNNN trong đó Nhà nớc là nhà đầu t đợc
xem xét trên nhiều phơng diện nhng tập trung vào những nội dung sau:
hoàn thiện về năng lực chủ thể; thực hiện quyền sở hữu vốn tài sản tại
DNNN; đổi mới sắp xếp DNNN và quyền tự chủ của DNNN. QHPL này có
những đặc điểm chung của QHPL đồng thời có những đặc trng riêng biệt

Nhà nớc đã thấy rõ sự yếu kém, bất cập của chế độ hành chính chủ quản
và có nhiều qui định để dần dần xóa bỏ cơ chế này nhng cha thực hiện đợc.
Nhà nớc đã và đang cố gắng lập ra đợc một cơ quan chuyên trách quản lý và
giám sát tài sản của Nhà nớc tại DNNN.

11
2.1.2. Thực trạng các loại hình chủ thể doanh nghiệp nhà nớc
Quá trình phát triển của quan niệm về DNNN
Khái niệm DNNN trong pháp luật thay đổi qua nhiều thời kỳ, tơng ứng
với sự thay đổi về quan niệm SHNN và sự thay đổi trong cơ chế quản lý kinh tế.
DNNN có tên gọi pháp lý đầu tiên là "doanh nghiệp quốc gia" (1948), sau đó là
"doanh nghiệp nhà nớc" (1991) Luật DNNN 1995 cũng đã đa ra khái niệm
DNNN. Các khái niệm này đều phản ánh tơng đối đầy đủ về bản chất pháp lý
của DNNN là những DN do Nhà nớc đầu t 100% vốn.
Luật DNNN 2003 quy định phù hợp với thông lệ quốc tế: "DNNN là tổ chức
kinh tế do Nhà nớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi
phối, đợc tổ chức dới hình thức CTNN độc lập, TCT, CTCP, công ty TNHH".
Khái niệm này có những đặc điểm sau: Thứ nhất, DNNN không phải là loại
hình pháp lý DN. Thứ hai, công nhận các hình thức sở hữu khác trong một
DNNN. Thứ ba, tiêu chí xác định DNNN là quyền kiểm soát và chi phối
DNNN, không phải là tiêu chí sở hữu. Tuy nhiên, pháp luật không xác định rõ
"quyền chi phối" nên khái niệm DNNN chỉ giải quyết vấn đề phân biệt DNNN
và DN "không phải là Nhà nớc" mà không theo các nguyên tắc của quản trị
DN, trong đó nguyên tắc quản trị tập trung, thống nhất là nguyên tắc hàng đầu.
Các hình thức pháp lý của chủ thể DNNN
DNNN đợc xác định theo tiêu chí quyền chi phối nên các loại hình pháp
lý của DNNN trở nên đa dạng và dễ chuyển đổi hình thức, bao gồm: CTNN;
Công ty cổ phần nhà nớc; Công ty TNHH nhà nớc một thành viên; Công ty
TNHH nhà nớc có hai thành viên trở lên; DN có cổ phần, vốn góp chi phối của
Nhà nớc; CTNN giữ quyền chi phối DN khác.

loại hình TCT nhà nớc nh trớc đây mà bao gồm ba loại TCT nhà nớc: TCT
do Nhà nớc quyết định đầu t và thành lập; TCT do các công ty tự đầu t và
thành lập; TCT đầu t và kinh doanh vốn nhà nớc (SCIC).
TCT đầu t và kinh doanh vốn nhà nớc (SCIC).
SCIC đợc thành lập nh là một TCT đặc biệt, báo cáo trực tiếp Thủ tớng
Chính phủ và chịu sự giám sát của Bộ Tài chính. SCIC đ
ợc kỳ vọng là nhà đầu
t chiến lợc, nhà t vấn tài chính chuyên nghiệp. Thông qua việc phân tích đặc
điểm, chức năng, nhiệm vụ của SCIC, tác giả đã rút ra những thuận lợi và khó
khăn của SCIC trong việc tiếp nhận và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn
Nhà nớc đầu t tại các DN. Đồng thời khẳng định việc chuyển giao chủ sở hữu
sang SCIC sẽ giảm dần sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nớc đối với
hoạt động kinh doanh của DN.

13
Tập đoàn kinh tế
Việc chuyển đổi DNNN theo mô hình tập đoàn kinh tế đợc coi là một
biện pháp quan trọng trong việc hoàn thiện QHPL giữa Nhà nớc và DNNN.
Thông qua phân tích các qui định của pháp luật, tác giả đã làm rõ mô hình, đặc
điểm của mô hình kinh tế này và đa ra khái niệm: Tập đoàn kinh tế là một tổ
hợp lớn các DN có t cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành
khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên
cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia. Trong mô
hình này, "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công ty
con" về tài chính và chiến lợc phát triển. Tuy nhiên, các tập đoàn đang dựa quá
nhiều vào sự kiểm soát bằng mệnh lệnh hành chính nên không có đợc sự linh
hoạt để thích ứng với môi trờng kinh doanh mang tính cạnh tranh.
Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nớc (công ty hóa)
Nhà nớc đã đợc triển khai thực hiện có hiệu quả các biện pháp tổ chức
lại và chuyển đổi sở hữu DNNN nh: cổ phần hóa, giao, bán, khoán kinh doanh,

Giai đoạn từ 1986 đến khi ban hành luật DNNN 1995
Nhà nớc từng bớc thực hiện việc trao quyền quản lý, sử dụng vốn, trách
nhiệm bảo toàn vốn cho DNNN, mở rộng việc giao vốn nhà nớc và quy định
trách nhiệm bảo toàn vốn. Nhà nớc hoàn thiện qui định chế độ khấu hao,
khoán cho ngời lao động. Quyền tự chủ của DNNN cha đợc qui định cụ thể
và pháp điển hóa nên việc thực hiện còn nhiều sơ hở. Quản lý nhà nớc và quản
lý kinh doanh cha đợc tách bạch rõ.
Giai đoạn ban hành luật DNNN 1995 đến nay
Luật DNNN 1995 đã đánh dấu một bớc quan trọng trong việc pháp luật
hóa quyền tự chủ kinh doanh của DNNN. Tiếp đó, Luật DNNN 2003 xác định
DNNN đợc tổ chức theo các loại hình của Luật DN đợc quyền tự chủ nh DN
dân doanh. Riêng đối với CTNN, Nhà nớc cũng mở rộng quyền tự chủ hơn. Để
đảm bảo quyền sở hữu của Nhà nớc, đồng thời đảm bảo trật tự nhà nớc, việc
thực hiện quyền tự chủ của DNNN luôn kèm theo cụm từ "theo qui định của
pháp luật", vì vậy, quyền tự chủ của DNNN là quyền tự chủ "có điều kiện".
Việc thực hiện quyền tự chủ, đạt đợc kết quả: Thứ nhất, phân định rõ về vốn,
tài sản của CTNN và vốn, tài sản của Nhà nớc. Thứ hai, CTNN có quyền chiếm
hữu, sử dụng vốn, tài sản của công ty để kinh doanh, thực hiện các lợi ích hợp pháp
từ vốn và tài sản của công ty. Thứ ba, mở rộng một số quyền của CTNN trong hoạt
động kinh doanh, tạo sự chủ động, linh hoạt cho CTNN trong việc quyết định các
vấn đề liên quan đến tài chính của công ty. Thứ t, hoàn thiện một số cơ chế về
quyền của DNNN theo hớng nhấn mạnh yếu tố thị trờng trong cơ chế hoạt động.
Thứ năm, bãi bỏ loại hình DN công ích, chỉ qui định về DNNN hoạt động công ích.

15
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong việc thực hiện quyền sở hữu nhà nớc
Tác giả đã phân tích quá trình hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể
trong quá trình Nhà nớc cố gắng thực hiện và đảm bảo quyền sở hữu của mình
phù hợp với bản chất của sở hữu. DNNN là chủ sở hữu đối với những tài sản
thuộc vốn điều lệ cũng chỉ có tính tơng đối vì đây cũng chỉ là loại sở hữu phát

Tác giả làm rõ khách thể của quan hệ này trớc đổi mới là: Hiện vật, hoàn
thành hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh, lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế hòa quyện,
không đặt vấn đề hiệu quả đầu t. Khách thể hiện nay là những giá trị thể hiện
qua lợi nhuận và lợi ích kinh tế. Hiệu quả đầu t là tiêu chí đánh giá quan trọng
hàng đầu. Mặc dù chậm chạp, nhng QHPL giữa Nhà nớc và DNNN đợc
hoàn thiện theo hớng nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN thông qua việc
mở rộng quyền tự chủ. Các yếu tố của thị trờng trong giai đoạn chuyển tiếp
cha ổn định, Nhà nớc còn bỡ ngỡ trong việc giao quyền tự chủ cho DN.
Việc ban hành Luật DNNN 1995 và Luật DNNN 2003 đã có những thay
đổi cơ bản về quyền và nghĩa vụ làm cho chủ thể ngày càng hớng tới những
giá trị và lợi ích thiết thực phù hợp với cơ chế thị trờng. Tuy nhiên, những giá
trị và lợi ích trong nhiều trờng hợp đã không đạt đợc nh các chủ đầu t khác
khi còn những qui định cho phép sự nâng đỡ, u ái làm cho DNNN dựa dẫm, ỷ
lại, thiếu tính cạnh tranh.
2.3.2. Tình hình DNNN và những kết quả của quá trình hoàn thiện
quan hệ pháp lý giữa Nhà nớc và DNNN.
* Những thành tựu chủ yếu. Cơ chế thực hiện quyền sở hữu nhà nớc đối
với DN đã từng bớc đợc xác lập và hoàn thiện phù hợp với cơ chế thị trờng,
bớc đầu đã phân định chức năng quản lý nhà nớc của các cơ quan nhà nớc
với chức năng kinh doanh của các DNNN. Sắp xếp lại DNNN phù hợp hơn với
cơ chế thị trờng. Số lợng DNNN đã đợc thu gom đầu mối, tránh đầu t dàn
trải và chồng chéo. Hiện tợng can thiệp của các cơ quan hành chính nhà nớc
đối với các quyết định hợp pháp, đúng luật, đúng điều lệ của DN ngày càng
giảm, đặc biệt là đối với các CTCP đợc hình thành từ việc CPH DNNN.
* Về những yếu kém, tồn tại.
Quan điểm về DNNN vừa mâu thuẫn, không
rõ ràng, vừa cha triệt để tuân thủ các nguyên tắc của kinh tế thị trờng định
hớng XHCN. Với bản chất và đặc điểm cố hữu của mình, DNNN không thể
gánh vác quá nhiều vai trò mà Nhà nớc kỳ vọng trong khi các điều kiện thực
hiện hoàn toàn không bảo đảm. Các chính sách, biện pháp nhiều khi mâu thuẫn,

chéo, đan xen, thiếu hiệu lực, bị phân tán ra nhiều cơ quan, nhiều tổ chức dẫn
tới chồng chéo, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau do lợi ích cục bộ.
Nhà nớc quá chú
trọng đến thực hiện chức năng quản lý, ban hành và thực thi pháp luật hơn là
việc thực hiện quyền sở hữu để đảm bảo việc gia tăng giá trị của tài sản thuộc
quyền sở hữu nên CTNN luôn cảm thấy không thích ứng đối với "vòng kim cô"
của các cơ quan chủ quản.
Cơ chế giám sát và cơ chế công khai, minh bạch trong việc thực hiện
quyền sở hữu và quyền tự chủ kinh doanh cha đợc qui định rõ ràng, dẫn đến
việc tùy tiện, đầu t dàn trải, thất thoát, kém hiệu quả, móc ngoặc, tham ô.

18
Kết luận chơng 2
Những kinh nghiệm đợc rút ra từ quá trình hoàn thiện QHPL giữa Nhà
nớc và DNNN là: (1) Tăng cờng quyền tự chủ của DNNN đi đôi với việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế phù hợp với thể chế kinh tế thị trờng
XHCN. (2) Hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền SHNN, tăng hiệu quả đầu t,
chống lãng phí, thất thoát, kết hợp với việc xóa bỏ bao cấp đối với DNNN theo
định hớng Nhà nớc là chủ đầu t bình đẳng với các chủ thể đầu t, kinh
doanh khác; (3) Chuyển đổi DNNN, đa dạng hóa hình thức sở hữu trong DNNN
kết hợp với việc xóa bỏ cơ chế hành chính chủ quản; (4) Xây dựng cơ chế công
khai, minh bạch trong tổ chức hoạt động của chủ thể kết hợp với tăng cờng
năng lực của Nhà nớc trong việc kiểm tra, giám sát tổ chức hoạt động của
DNNN. (5) Đổi mới, sắp xếp DNNN để nâng cao tính chuyên nghiệp và năng lực
kinh doanh của DNNN, đồng thời hoàn thiện cơ chế để phát triển các DNNQD.
Chơng 3
PHƯƠNG HƯớNG v giải pháp hon thiện quan hệ pháp lý
giữa nh nớc v doanh nghiệp nh nớc
3.1. phơng hớng hon thiện quan hệ pháp lý giữa Nh nớc
v doanh nghiệp nh nớc

Trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa khuyến khích tự do cạnh tranh với sự
quản lý phù hợp của Nhà nớc. Hội nhập quốc tế sẽ làm cho sự cạnh tranh diễn
ngày càng gay gắt. Vai trò của Nhà nớc ngoài việc hớng dẫn, kiểm tra, cung
cấp thông tin thị trờng, tạo môi trờng thuận lợi cho DNNN phát triển, còn có
chức năng điều tiết và bảo vệ nền kinh tế. Môi trờng kinh doanh thuận lợi sẽ
tạo cơ hội kinh doanh, kích thích phát triển kinh doanh của DN.
3.1.4. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động DNNN
Hoàn thiện môi trờng pháp lý an toàn và thuận lợi, thể hiện qua việc đáp
ứng các yêu cầu sau: Thứ nhất, đảm bảo quyền tự chủ của DNNN, thông qua
điều lệ của doanh nghiệp. Nhà nớc không can thiệp quá sâu vào quyền tự
quyết và tự chủ của DNNN. Thứ hai, phải thống nhất với mục tiêu tạo ra sân
chơi bình đẳng giữa các loại hình. Thứ ba, vai trò của Nhà nớc đối với các DN
phải đợc thể hiện thông qua hiệu lực của hệ thống luật pháp; qua việc triển
khai thực hiện; qua việc kiểm tra và giám sát thực thi pháp luật. Thứ t, tạo hành
lang pháp lý cho phép các DN chủ động, sáng tạo và năng động trong kinh doanh.

20
3.1.5 Hoàn thiện bộ máy nhà nớc, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
chính trong kinh tế
Hoàn thiện bộ máy nhà nớc, phân rõ chức năng quản lý nhà nớc với
quản lý kinh doanh, giảm bớt các tổ chức hành chính, trung gian không cần
thiết. Bộ máy nhà nớc cần đợc hoàn thiện theo hớng đảm bảo thực hiện tốt
chức năng hoạch định chiến lợc, qui hoạch, chính sách phát triển, hớng dẫn,
hỗ trợ, kiểm tra kiểm soát các DN thuộc mọi thành phần kinh tế, trên mọi địa bàn.
Cải cách hành chính trong lĩnh vực DNNN phải giải quyết gốc rễ của tính
khó minh bạch trong tổ chức và hoạt động của DNNN. Việc không minh bạch
trong tổ chức và hoạt động của DNNN trong việc thực thi pháp luật làm cho
mối quan hệ giữa chủ sở hữu pháp lý và chủ sở hữu thực tế trở nên rối rắm, khó
khăn và phức tạp.
3.2. Giải pháp hon thiện QHPL giữa nh nớc v DNNN

doanh nghiệp.
Pháp luật phải tạo cơ sở cho việc bồi dỡng, đào tạo cán bộ quản lý DN để
từng bớc có đợc đội ngũ các nhà DN giỏi đáp ứng yêu cầu quản lý DN trong
cơ chế thị trờng; Qui định về tiêu chuẩn cán bộ quản lý DNNN theo tiêu chuẩn
là các nhà quản trị kinh doanh giỏi, có khả năng nhạy bén trong nắm bắt cơ hội,
biết cách tạo ra nhiều lợi nhuận, nâng cao thơng hiệu và vị thế DN và trung
thành với sự nghiệp của đất nớc, biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân;
có đạo đức và tác phong chuẩn mực.
3.2.2. Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền sở hữu nhà nớc với t cách
nhà nớc là nhà đầu t vào DN
Ban hành Luật thực hiện quyền SNNN tại DN với những yêu cầu:
Xoá bỏ chế độ hành chính chủ quản. Khắc phục tối đa sự trùng lặp, chồng
chéo giữa các cơ quan nhà nớc trong việc thực hiện quyền SHNN tại DNNN.
Thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện quyền SHNN tại DNNN, các DNNN
đợc hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, DNNN thực hiện quyền
tự chủ kinh doanh mà không phải xin phép hoặc xét duyệt của cơ quan cấp trên.

22
Xoá bỏ phơng thức quản lý trực tiếp của các cơ quan chủ quản, thay đổi
"cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp" bằng cơ quan quản lý và thực hiện quyền sở
hữu tài sản của nhà nớc tại DN. Nhà nớc không phân biệt hình thức sở hữu,
tách bạch rõ ràng với chức năng chủ sở hữu đối với DNNN, chức năng chủ sở
hữu đối với DNNN tập trung vào cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nớc.
Hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền sở hữu. Hình thức sở hữu hợp lý trong
từng lĩnh vực, từng thời kỳ nhất định sẽ cho phép sử dụng có hiệu quả nhất các
yếu tố kinh tế, tài chính. Các hình thức sở hữu của DNNN có thể thay đổi linh
hoạt. DNNN đợc coi là trọng yếu, mũi nhọn đòi hỏi Nhà nớc phải nắm toàn
bộ vốn hoặc tỷ lệ khống chế. Sử dụng công cụ SHNN một cách linh hoạt và
có hiệu quả, đa dạng hoá sở hữu các DN sẽ làm mất ranh giới về sở hữu giữa
các loại hình DN. Việc thực hiện quyền SHNN phải là sự thoả thuận trên cơ

hình DN, không cần phân biệt DNNN thành hai loại là công ty và tổng công ty.
Thực hiện việc công khai, minh bạch và các nguyên tắc phù hợp với cơ
chế thị trờng trong quá trình chuyển đổi sở hữu. Tránh tình trạng vừa thất thoát
tài sản của Nhà nớc, vừa khép kín không thu hút đợc các nhà đầu t thực sự
để phát triển và tăng cờng hiệu quả của DN. áp dụng rộng rãi việc đấu giá cổ
phần để đảm bảo hiệu quả của quá trình cổ phần hoá, đồng thời xác định giá u
đãi cho ngời lao động và các nhà đầu t chiến lợc trên cơ sở giá đấu giá.
Tiếp tục củng cố, sắp xếp và hoàn thiện tổng công ty nhà nớc. Các tổng
công ty phải có cơ cấu mềm dẻo, thành lập trên cơ sở có các DNNN nòng cốt,
các DN thành viên khác phải thực sự tham gia trên tinh thần tự nguyện vì lợi ích
chung và lợi ích của chính mình. Nhà nớc cũng cần có quy hoạch cụ thể để tạo
thuận lợi cho các DN gia nhập tổng công ty.
Kết luận chơng 3
Phơng hớng và giải pháp hoàn thiện QHPL giữa Nhà nớc và DNNN
phải làm cho QHPL này biến đổi đa dạng, tích cực, phong phú cả về lợng và
chất, phù hợp với sự đa dạng, phong phú, nhạy bén, tự điều chỉnh của cơ chế thị
trờng. Điều này đòi hỏi giải pháp phải gắn bó mật thiết với việc hoàn thiện
môi trờng kinh doanh, nâng cao năng lực chủ thể, đổi mới, sắp xếp DNNN,
hoàn thiện việc bảo vệ thực hiện quyền SHNN tại DNNN

24
Kết luận
Hoàn thiện QHPL giữa Nhà nớc và DNNN là một quá trình gắn liền với
thực tiễn điều chỉnh pháp luật giữa Nhà nớc và DNNN. Nhà nớc và DNNN là
hai chủ thể pháp lý độc lập, vì vậy, quan hệ giữa hai chủ thể, một bên là Nhà
nớc với t cách là chủ sở hữu tài sản đầu t và tổ chức kinh doanh, còn bên kia
là chủ thể kinh doanh đợc Nhà nớc đầu t vốn, đợc tự chủ trong sản xuất,
kinh doanh. DNNN là một chủ thể kinh doanh thuộc thành phần kinh tế nhà
nớc, có quyền tự chủ kinh doanh, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh với các chủ
thể kinh doanh khác. DNNN có hai t cách vừa có quyền đối với Nhà nớc, vừa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status