Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
I.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI.
Tăng cường năng lực sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo
vệ môi trường nhằm giảm nghèo là thách thức lớn đối với hầu hết các nước
kém phát triển trong đó có Việt Nam. Quản lý môi trường tốt, sử dụng hợp lý
tài nguyên đóng vai trò quan trọng đối với giảm nghèo đói, tăng trưởng bền
vững và đạt được các mục tiêu của Chiến lược phát triển bền vững của Việt
Nam. Sự nghiệp bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội và
là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và nhà nước để nền kinh tế phát triển
nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO). Trong những năm qua, công tác bảo vệ môi trường (BVMT) ở
các xã nghèo đã có những chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả
nhất định. Nhận thức về bảo vệ môi trường trong xã hội, các tổ chức, cá nhân
được nâng lên một bước. Các ngành, các cấp đã quan tâm nhiều hơn tới công
tác bảo vệ môi trường và đói nghèo. Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường
còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa chưa theo kịp tốc độ công nghiệp hoá và đô
thị hoá. Trong đó, nguyên nhân chính là nhận thức bảo vệ môi trường trong
xã hội, của người dân chưa đầy đủ, ý thức chấp hành pháp luật về môi trường
của nhiều tổ chức, cá nhân còn yếu. Đặc biệt là người dân nghèo, các cộng
đồng nghèo, điều kiện kinh tế khó khăn, người dân chỉ quan tâm tới việc giải
quyết nhu cầu mưu sinh hằng ngày mà chưa quan tâm tới công tác bảo vệ môi
trường. Để kiếm sống, người dân nghèo sẵn sàng đánh bắt cá bằng chất nổ,
bằng xung điện; sử dụng bừa bãi thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp,
san lấp ao hồ, sông suối… mà không quan tâm tới hậu quả của những hoạt
động này ảnh hưởng đến môi trường như thế nào. Một số địa phương lãnh đạo
chỉ đạo điều hành còn nặng về các mục tiêu kinh tế, coi nhẹ các yêu cầu bảo
vệ môi trường, chưa kiên quyết trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
1
Chương I: Tổng quan về quản lý môi trường.
Chương II: Hiện trạng kinh tế xã hội và quản lý môi trường tại các xã
nghèo tại Hà Nội.
Chương III. Đề xuất một các giải pháp nâng cao nâng cao hiệu quả
công tác quản lý môi trường tại các xã nghèo tại Hà Nội.
IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu.
Phương pháp điều tra xã hội học.
Phương pháp đánh giá tác động môi trường.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề thực tập của mình em được sư
giúp đỡ nhiệt tình của Tiến sỹ Lê Hà Thanh, em xin chân thành cảm ơn cô đã
nhiệt tình giúp đỡ em.
Lời cam đoan : « Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản
thân thực hiện, không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người
khác ; nếu sai phạm tôi xin chịu kỷ luật với nhà trường ».
Hà Nội ngày 29-4-2009
Vũ Thị Hồng Hạnh
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1.1 Khái niệm chung về quản lý môi trường.
“ Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích
của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành
tác động các hoạt động phát triến trong hệ thống môi trường và khách thể
quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm
đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã để ra phù hợp với luật pháp và thông
lệ hiện hành”.
Thực chất của quản lý môi trường là quản lý con người trong các
Tương tự như vậy, theo bậc thang ( quy mô), chúng ta có thể phân hệ thống
môi trường thành các hệ từ lớn đến nhỏ, từ vĩ mô đến vi mô. Dù được phân
theo chức năng hay phân theo theo bậc thang, các phần tử cơ cấu của hệ thống
môi trường cũng thường xuyên tác động qua lại quy định và phụ thuộc lẫn
nhau ( thông qua trao đổi năng lượng vật chất thông tin và liên tục), làm cho
hệ thống tồn tại, hoạt động và phát triển. Vì vậy mỗi sự thay đổi nào đó dù là
rất nhỏ, của một phần tử của hệ thống môi trường đều gây ra một phản ứng
dây chuyền cho toàn hệ, làm suy giảm hoặc gia tăng số lượng và chất lượng
môi trường, không phụ thuộc vào ý trí của con người.
1.2.2 Tính hoạt động.
Hệ thống môi trường không phải là một hệ tĩnh, mà luôn luôn thay đổi
trong cấu trúc của nó, trong từng phân tử và trong quan hệ tương tác của
chúng. Bất kỳ một sự thay đổi nào của hệ thống đều tiềm chứa khả năng làm
cho nó lệch khỏi trạng thái cân bằng vốn có của hệ thống và hệ thống có xu
hướng lập thành một hệ thống cân bằng mới. Đó là bản chất của quá trình vận
động và phát triển của hệ thống môi trường. Đặc tính cân bằng động cần được
tính trong hoạt động cũng như trong quản lý môi trường.
1.2.3 Tính mở.
Môi trường dù ở quy mô lớn hay quy mô nhỏ cũng để là một hệ thống
mở. Các dòng vật chất, năng lượng và thông tin liên tục “chảy’ trong không
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gian và theo thời gian (từ hệ lớn như vũ trụ đến hệ nhỏ như hành tinh Trái đất
đến các hệ nhỏ hơn nữa và ngược lại, từ trạng thái này sang trang thái khác, từ
các hệ quá khứ đến cá hệ hiện tại và tiếp nối đến các thế hệ tương lai). Vì thế
các vấn đề môi trường ở các mức độ khác nhau không chỉ mang tính địa
phương mà mang tính liên vùng, liên quốc gia, toàn cầu và tính lâu dài.
Chúng cần được giải quyết bằng nỗ lực của các cộng đồng, bằng sự phối hợp
1.3.1 Mục tiêu duy trì chất lượng môi trường.
Tức là phải duy trì cho bằng được bản chất vốn có của môi trường. Ví
dụ như đảm bảo chất lượng của nguồn nước theo tính chất quy định.
1.3.2 Mục tiêu cho phát triển bền vững.
Đây là một trong những mục tiêu lâu dài và quan trọng nhất cần đạt đến
trong bảo quản lý môi trường. Thực ra phát triển bền vững ở mỗi nước là
khác nhau nhưng ở đó là sự hài hòa của các yếu tố kinh tế, xã hội, trường. Xã
hội càng phát triển thì yếu tố môi trường đặt trong vấn đề phát triển bền vững
càng gia tăng.
Trong mục tiêu phát triển bền vững đòi hỏi lĩnh vực kinh tế phải.
- Giảm đểu đặn mức tiêu phí năng lượng và các nguồn tài nguyên
khác thông qua sử dụng những công nghệ tiết kiệm và thông qua
thay đổi lối sống.
- Thay đổi các mẫu hình tiêu thụ và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học
của các nước.
- Giảm hàng rào nhập khẩu thuế quan hay chính sách bảo hộ mậu
dịch gây hạn chế thị trường thị trường cho các sản phẩm của những
nước nghèo.
- Sử dụng tài nguyên nhân văn, kỹ thuật và tài chính để phát triển
công nghệ sạch và sử dụng ít tài nguyên.
- Làm cho mọi người được tiếp cận tài nguyên một cách bình đẳng.
- Giảm chênh lệch về thu nhập và làm cho mọi người được tiếp cận y tế.
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Chyển bớt các khoản chi phí về quân sự an ninh và cho các nhu cầu
về phát triển.
- Sử dụng tài nguyên cho việc can thiệp mức sống thường xuyên.
- Xóa đói giảm nghèo.
- Loại bỏ việc sử dụng CFCs để tránh làm tổn thương đến tầng ozon
bảo vệ trái đất.
- Bảo tồn những kỹ thuật truyền thống với ít chất thải và chất ô
nhiễm, những kỹ thuật tái chế chất thải và phù hợp với các hệ thống
tự nhiên hoặc hỗ trợ cho các hệ thống tự nhiên.
- Nhanh chóng ứng dụng các kỹ thuật và công nghệ đã được cải thiện
cũng như những quy chế của chính phủ đã ban hành và sửa đổi, thực
hiện nghiêm túc những quy chế đó.
Trong lĩnh vực môi trường.
- Sử dụng có hiệu quả hơn đất canh tác và cung cấp nước.
- Cải tiến các phương pháp canh tác nông nghiệp và kỹ thuật nông
nghiệp nhằm nâng cao sản lượng lương thực thực phẩm.
- Tránh dùng quá mức phân bón hóa học và thuốc trừ sâu.
- Bảo vệ nước thông qua các biện pháp hiện hữu nhằm chấm dứt tình
trạng sử dụng lãng phí nước và nâng cao hiệu quả sử lãng phí nước
và nâng cao hiệu suất của hệ thống nước.
- Tránh các hoạt động phát triển của con người gây mất ổn định của
khí hậu, hủy diệt tầng ozone.
- Hạn chế mở mang đất nông nghiệp trên đất dốc hoặc đất bạc màu.
- Làm chậm lại, tiến tới chặn đứng sự hủy hoại rừng nhiệt đới hệ sinh
thái san hô, rừng ngập mặn ven biển, những vùng đất
- Ngập nước nơi cư trú độc đáo khác để bảo vệ đa dạng sinh học.
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Đảm bảo tính đa dạng sinh học.
Đa dạng sinh học là sự giàu có của giống loài động thực vật mà bản
thân thiên nhiên đã tạo ra hoặc có sự can thiệp của bàn tay con người. Theo
thống kê hiện nay Việt Nam là nước có đa dạng sinh học đứng thứ năm trên
căn cứ khoa học và thực tiễn.
Hai là, khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền
hạn và trách nhiệm của người ra quyết định.
Các phương pháp kinh tế.
Các phương pháp kinh tế tác động vào đối tượng quản lý thông qua lợi
ích kinh tế để cho đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có
hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ.
Thực chất phương pháp kinh tế là tạo ra động lực thúc đẩy con người
hoạt động bảo vệ môi trường. Động lực đó càng lớn, nếu như nhận thức đầy
đủ và kết hợp đúng đắn các lợi ích tồn tại khách quan trong hệ thống.
Chủ thể quản lý môi trường tác động lên đối tượng môi trường bằng
các phương pháp kinh tế theo các hướng khác nhau.
- Định hướng phát triển chung bằng các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp
với điều kiện của hệ thống, bằng những chỉ tiêu cụ thể cho từng thời
gian cho từng phân hệ, từng cá nhân của hệ thống.
- Sử dụng các định mức kinh tế các biện pháp đòn bẩy, kích thích
kinh tế để lôi cuốn, thu hút, khuyến khích các cá nhân cộng đồng
hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
- Bằng chế độ thưởng, phạt vật chất, trách nhiệm kinh tế chặt chẽ để
điều chỉnh hoạt động của các bộ phận, các cộng đồng, các cá nhân,
xác lập trật tự kỷ cương, xác định chế độ trách nhiệm cho mọi bộ
phận, cho đến từng người trong hệ thống.
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngày nay xu hướng chung của các nước là mở rộng việc áp dụng các
phương pháp kinh tế trong quản lý môi trường. Muốn vậy cần chú ý đến một
số khía cạnh quan trọng sau.
Một là, việc áp dụng các phương pháp kinh tế luôn luôn gắn liền với
đến từng người, từng cộng đồng , có tác động xã hội hóa công tác bảo vệ môi
trường. Đây là một trong những bí quyết thành công của nhiều nước Đông
Nam Á và Bắc Âu.
Các phương pháp tác động lên các yếu tố khác của hệ thống
môi trường.
Đó là các phương pháp quản lý đi sâu vào từng yếu tố chi phối lên các
đầu vào của quá trình quản lý môi trường ( tài chính, lao động, công nghệ,
thông tin, pháp chế vật tư, sản phẩm rủi ro...). Các phương pháp quản lý này
mang tính chất nghiệp vụ, gắn liền tính kỹ thuật của quản lý chuyên ngành
theo các thành phần môi trường và thường gắn với việc sử dụng các phương
pháp toán-một loại không thể thiếu trong việc lựa chọn các phương pháp quản
lý kinh tế ngày nay.
Các phương pháp tác động lên hệ thống môi trường khác.
Đó là cách tác động bên ngoài hệ thống. Nó không thể sử dụg các tác
động trực tiếp như đã sử dụng trong nội bộ mà tủy thuộc vào mối tương quan
hệ thuộc và phụt thuộc cụ thể diễn ra như thế nào ( mình lệ thuộc họ hay họ lệ
thuộc mình và họ là quan hệ tương đồng), mà có cách sủ dụng phương pháp
thích hợp. Các phương pháp sử dụng chủ yếu ở đây là sự biến dạng của ba
phương pháp đã biết: các phương pháp kinh tế các phương pháp tác động tâm
lý thay cho các phương pháp giáo dục, các phương pháp quan hệ hợp lý-thay
cho các phương pháp hành chính. Ngoài ra có thể sử dụng các phương pháp
khác như phương pháp cạnh tranh, phương pháp marketing, phương pháp xã
hội học, phương pháp truyền thông...
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II
HIỆN TRẠNG KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TẠI CÁC XÃ NGHÈO TẠI HÀ NỘI
Tổng cộng 136154 90563 45591 20677 1.519
1 Kim Quan 46104 29478 16626 6526 1.415
2 Cẩm Yên 39228 22800 16428 4651 1.185
3 Đại Đồng 50822 38285 12537 9500 1.869
Nguồn số liệu: trích báo kinh tế xã hội hàngnăm của xã và quy hoạch đất đai
đến năm 20010 và 2015.
Với vị trí thuận lợi, có thị trường lớn là thủ đô Hà Nội tiêu dùng trực
tiếp nhiều loại nông-lâm-thủy sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ
công mỹ nghệ. Là một trong những địa phương có nguồn nhân lực dồi dào và
có kiến thức kỹ thuật. Với chuỗi đô thị Miếu Môn-Xuân Mai-Hòa Lạc-Sơn
Tây và các khu công nghệ cao được xây dựng sẽ là cơ hội, động lực thúc đẩy
các mặt hoạt động kinh tế đặc biệt là ngành công nghiệp và phát triển đô và là
địa bàn xây dựng mới, di chuyển xí nghiệp công nghiệp của Thủ đô. Khi
đường Láng –Hòa Lạc giai đoạn 2 được xây dựng, hệ thống đường sắt, xa
điện ngầm từ Hà Nội đi Hòa Lạc được xây dựng sẽ là tiền đề tạo bước phát
triển đột phá kinh tế về kinh tế xã hội của địa phương.
Tốc độ tăng trưởng của ba xã nghèo trên bình quân là12,46%/năm
trong đó tăng trưởng bình quân của xã Kim Quan là 14,57%/năm, xã Cẩm
Yên là 13,41%/năm, xã Đại Đồng là 9,4%/năm , được thể hiện trong bảng 2
sau:
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Biểu 2: Giá trị sản lượng và tốc độ tăng trưởng kinh tế (2005-2007)
Tên xã
Tổng giá trị sản lượng Tốc độ tăng trưởng %
2005 2006 2007
2006/
2005
trường 47
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
53%/năm, đến năm 2007 là 53 %/năm.Chi tiết từng xã thể hiện tại Biểu 4,
dưới đây
Biểu 4: Giá trị sản xuất nông nghiệp và CN, TTCN, TMDV (2005-2007)
Đơn vị tính: triệu đồng
Tên xã
Tổng giá trị sản lượng Sản xuất nông nghiệp SX CN, TTCN, TMDV
2005 2006 2007 2005 2006 2007 2005 2006 2007
Tổng 3 xã 95867 119644 129006 42410 117.437 135.704 53466 63142 11599
Tỷ trọng sản xuất từng năm (%) 44 47 47 56 53 53
Kim Quan 30.510 43.125 43.848 8.610 17.403 19.186 21.900 25.722 24.662
Tỷ trọng sản xuất từng năm (%) 28 40 44 72 60 56
Cẩm Yên 11.426 14.567 16.023 6.921 9.917 10.723 4.505 4.650 5.300
Tỷ trọng sản xuất từng năm (%) 61 68 67 39 32 33
Đại Đồng 53.931 61.952 69.135
26.87
0
29.182 30.800 27.061 32.770 38.335
Tỷ trọng sản xuất từng năm (%) 50 47 45 50 53 55
Nguồn số liệu: Trích báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm các xã cung cấp
Nhìn chung, sự tăng trưởng kinh tế của các xã là phù hợp với quy luật
thuận chiều trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong cả nước. Đó là
kết quả bước đầu đáng ghi nhận mở ra khả năng mới trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH, tuy nhiên ta cũng vẫn nhận thấy
đây là một trong những xã nghèo khá điển hình, mức tổng sản lượng nông
nghiệp vẫn chiếm khá cao trong tổng sản lượng sản xuất. Đời sống nhân dân
từng bước cải thiện, các mặt xã hội cũng có chuyển biến tích cực. Do tổ chức
thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích các cá nhân gia
hàng hoá. Hàng năm, những con sông này còn có tác dụng bồi đắp
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
một lượng lớn phù xa góp phần làm tăng độ phì nhiêu của đất cho
các khu vực đồng bằng dọc hai bờ sông.
Ngày nay, nguồn tài nguyên nước mặt của các xã đang đứng trước
những nguy cơ suy giảm nghiêm trọng về chất lượng do ô nhiễm gây ra. Hiện
tại các nguồn ô nhiễm tại các thuỷ vực rất đa dạng, tập trung chủ yếu vào các
loại chất thải rắn, các loại hoá chất bảo vệ thực vật, dầu mỡ thải từ các hoạt
động giao thông đường thuỷ, dịch vụ du lịch...đã gây ra những ảnh hưởng
đáng kể đến chất lượng của nguồn tài nguyên nước của địa phương và làm ô
nhiễm thuỷ vực. Nguồn nước sinh hoạt của nhân dân vẫn chủ yếu lấy từ giếng
khoan và giếng khơi. Theo thống kê của xã Cẩm Yên hiện nay, nhân dân xã
sử dụng phần lớn nước sinh hoạt từ có 80 giếng khoan của hộ gia đình và 500
giếng đào trong hộ gia đình. Còn tại xã Đại Đồng hiện nay, nhân dân xã sử
dụng phần lớn nước sinh hoạt từ 7 giếng làng khoảng 3.600m
3
và 1.500 bể
chứa nước mưa, 2.000 giếng khoan của hộ gia đình. Nhân dân xã Kim Quan
sử dụng phần lớn nước sinh hoạt từ có 80 giếng khoan của hộ gia đình và 500
giếng đào trong hộ gia đình Các giếng nước ngầm được người dân tự khai
thác ở độ sâu 20-30 mét. Sau đó được bơm hút lên hầu hết các nguồn nước
đều được người dân cho chảy vào bể lọc bằng cát. Đây là công đoạn duy nhất
trong quá trình xử lý nước tại các hộ gia đình hiện nay. Mặc dù quá trình lọc
cát đã có tác dụng làm giảm hàm lượng sắt có trong nguồn nước, song không
thể triệt để nên nguồn nước khi sử dụng đều có hàm lượng sắt và một số yếu
tố khác cao hơn tiêu chuẩn quy định cho phép đối với nước sinh hoạt. Không
có hộ gia đình nào dùng nước ao hồ và các nguồn khác vì đã bị ô nhiễm
đều không xử lý và xả thải trực tiếp ra môi trường. Do đặc thù như
vậy nên những cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ này đều là những địa điểm có tính nhậy cảm môi trường
cao. Đây là các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ có phát sinh ra một lượng nước thải khá lớn trong quá
trình sản xuất. Hầu hết lượng nước thải được sinh ra đều không xử
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lý và xả thải trực tiếp ra môi trường. Quá trình này gây ảnh hưởng
trực tiếp đến nguồn nước mặt là điều khó tránh khỏi.
2.1.2. Hiện trạng môi trường nước ngầm.
Hiện trạng nước ngầm của 3 xã có trữ lượng khá dồi dào. Theo kết quả
điều tra đánh giá tiềm năng, chất lượng và hiện trạng sử dụng nước dưới lòng
đất phục vụ quy hoạch và khai thác bền vững nguồn nước ngầm của địa
phương, trữ lượng tĩnh tự nhiên nước dưới đất đủ khả năng cung cấp nước
cho quá trình phát triển kinh tế xã hội, sản xuất và đời sống dân sinh trên địa
bàn từng xã. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn nhất định do điều kiện địa
chất thủy văn phức tạp, trữ lượng nước phân bố không đồng đều giữa các
vùng.
Nguồn nước ngầm tại 3 xã đang chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nguồn ô
nhiễm khác nhau trong đó đặc biệt là ảnh hưởng của các nguồn nước thải
không được xử lý. Điều đó có thể thấy rất rõ tại tất cả các làng nghề trên địa
bàn các xã. Tại các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ, nguồn nước ngầm được người dân tự khai thác ở độ sâu 20-30 mét.
Sau đó được bơm hút lên hầu hết các nguồn nước đều được người dân cho
chảy vào bể lọc bằng cát. Đây là công đoạn duy nhất trong quá trình xử lý
nước tại các hộ gia đình hiện nay. Mặc dù quá trình lọc cát đã có tác dụng làm
giảm hàm lượng sắt có trong nguồn nước, song không thể triệt để nên nguồn
- Chất thải sinh ra từ quá trình hoạt động du lịch trên các thuỷ vực
nước mặt gây ô nhiễm dầu mỡ, mất cảnh quan của các thuỷ vực;
- Sự lan truyền chất ô nhiễm từ những khu vực này sang khu vực
khác, lan truyền theo dòng chảy.
Trước thực tế trên, các chất ô nhiễm đối với các nguồn nước hiện nay
là khá đa dạng, nguồn ô nhiễm này gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
của các thuỷ vực nước mặt cũng như túi nước ngầm. Hiện nay các nguồn ô
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhiễm môi trường nước có nguồn gốc không giống nhau thường mang tính
đặc thù cao cho từng khu vực.
Với những đặc điểm chung về sự tác động qua lại của nguồn tài nguyên
nước với con người như hiện nay tại các thuỷ vực nước mặt và các túi nước
ngầm trên địa bàn các xã đã xuất hiện hiện tượng ô nhiễm. Quá trình sử dụng
các nguồn nước bị ô nhiễm sẽ gây ra nhiều các loại bệnh khác nhau cho sức
khoẻ của con người sử dụng như da liễu, tiêu hoá, ung thư, đau mắt…Điều
này cho thầy tính chất nguy hại đối với sức khỏe của cộng đồng khi phải sử
dụng nguồn nước bi ô nhiễm
Ngoài ra, việc sử dụng các nguồn nước ngầm bị ô nhiễm trong vùng
trồng trọt cũng có thể gây ra sự hấp thu các chất ô nhiễm như kim loại nặng
vào các sản phẩm của quá trình trồng trọt. Đây là tác động gián tiếp đến sức
khoẻ cộng đồng do sử dụng các nguồn nước bị ô nhiễm. Như vậy, hiện nay sử
dụng các nguồn nước không bảo đảm chất lượng vào các mục đích khác nhau
của cuộc sống sẽ là nguyên nhân gây ra nhiều tác động nguy hại đến sức
khoẻ của con người. Các tác động này, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Với
đặc điểm như vậy, việc gìn giữ chất lượng của nguồn tài nguyên là rất quan
trọng. Việc này cần được thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ của nhiều ban
ngành có liên quan.
giao thông. Đối với một số khu công nghiệp đang trong quá trình
san lấp mặt bằng nên ô nhiễm bụi từ quá trình chuyên chở, rơi vãi
đất, đá là rất lớn. Hiện tượng ô nhiễm môi trường không khí xẩy ra
tại các khu vực có tuyến đường giao thông chạy qua bởi lưu lượng
phương tiện tham gia giao thông ngày càng lớn đã xuất hiện hiện
tượng tiếng ồn và bụi bẩn.
Vũ Thị Hồng Hạnh Lớp: Kinh tế môi
trường 47
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Các khu công nghiệp và các nhà máy, xí nghiệp sản xuất công
nghiệp. Trong những năm gần dây với định hướng mới trong phát
triển kinh tế, xã hội của từng xã mọc nên nhiều khu, cụm điểm công
nghiệp được hình thành trên địa bàn. Các nhà máy, xí nghiệp, khu
công nghiệp với số lượng, mật độ như hiện nay đang hoạt động trên
địa bàn xã là không lớn. Do đó những tác động của nguồn khí thải
từ hoạt động của các nhà máy này đến môi trường không khí của
tỉnh là không đáng kể.
- Các làng nghề truyền thống, có số lượng khá lớn cho nên những tác
động từ quá trình sản xuất của làng nghề này đến môi trường không
khí là rất đáng kể. Do đặc điểm sản xuất đặc trưng của các làng
nghề, các tác động của chúng đến môi trường không khí cũng mang
tính đặc trưng. Hiện nay các tác nhân gây ô nhiễm sinh ra từ các
làng nghề của địa phương chủ yếu là hơi, khí thải, mùi và tiếng ồn
tại các làng chế biến nông sản, các làng sản xuất các sản phẩm cơ
khí, các làng nghề sản xuất mộc, mây tre, giang, dan…có thể nói,
hiện nay tác nhân gây ô nhiễm có nguồn gốc từ các làng nghề hiện
nay là rất đa dạng và với số lượng nhiều tác động đến môi trường
không khí là rất lớn và trên diện rộng.
- Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Hiện nay các cơ sở sản