Mục lục
Mục lục 1
Mở đầu 3
1. Lý do chn ti 3
2. Mc ích và phạm vi nghiên cu 5
3. Lch s vấn 6
3.1 . Nghiên cứu thơ tình yêu thời Đờng ở Trung Quốc 7
3.2. Nghiên cứu thơ tình yêu thời Đờng ở Việt Nam 9
4. Phơng pháp nghiên cứu 11
5. Đóng góp của luận văn 11
6. Cấu trúc của luận văn 11
Nội dung 13
Chơng 1: Thơ tình yêu trong lịch sử thơ ca Trung Hoa 13
1.1 Th tinh yêu 13
1.2. Nguyên nhân hình thành thơ tình yêu thời Đờng 15
1.3. Lịch sử thơ tình yêu trớc Đờng 19
1.3.1 Thơ tình yêu thời Tiên Tần: Tình ca dân gian chiến thắng thơ tình
văn nhân 20
1.3.2. Thơ tình yêu từ nhà Hán đến Ngụy Tấn Nam Bắc triều: Sự hòa trộn giữa
tình ca dân gian và thơ tình văn nhân 36
1.4. Tình yêu trong thơ ca đời Đờng 45
Tiểu kết 54
Chơng 2: Thi tình họa ý 56
2.1. Về khái niệm tình thơ, ý hoạ mối quan hệ mật thiết của thơ và
họa 56
2.2. Vì sao thơ tình yêu thời Đờng cần có tình thơ, ý hoạ? 58
2.3. Thơ là họa vô hình, họa là thơ hữu hình 63
2.4. Lý Thơng ẩn nhà thơ tình mẫu mực Thi tình hoạ ý 68
2.4.1 Những nội dung chính trong thơ Lý Thơng ẩn 69
2.4.2 Đặc điểm nghệ thuật trong thơ Lý Thơng ẩn 84
Tiểu kết 85
là lời than oán của ngời vợ vì một lý do nào đó phải xa chồng, nỗi nhớ thơng
2
đằng đẵng ấy đợc diễn giải hết sức tài tình, khéo léo tởng chừng nh không thể
nhận ra, cho đến khi những tâm trạng đa dạng đó đợc ngòi bút của thi nhân
phác họa qua rất nhiều những biểu tợng đặc trng thì ngời đọc thấy hết sức bất
ngờ về những bức họa bằng ngôn ngữ ấy.
Thơ Đờng đợc đánh giá là một thành tựu rực rỡ của văn học Trung Hoa
từ xa đến nay. Lấy phơng châm, Thi tình hoạ ý , Tình chân ý thâm , thoáng
đãng, tự nhiên làm tiêu chí, thơ ca đời Đờng luôn đợc đánh giá là một bảo vật
quý báu của văn hóa Trung Hoa. Nhiều tác phẩm nổi tiếng đợc lu truyền thiên
cổ vô cùng hấp dẫn. Cho đến tận bây giờ thơ Đờng vẫn đợc đánh giá rất cao
trên phơng diện nâng cao tố chất văn hóa, diện mạo tinh thần của cả một dân
tộc với nhiều tên tuổi nổi tiếng nh: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch C Dị, Thôi Hiệu,
Mạnh Hạo Nhiên họ vẫn trờng tồn cùng thời gian và có ảnh hởng sâu sắc
đến văn hóa Việt Nam từ trung đại đến hiện đại. Ngời Việt Nam tìm đến thơ
Đờng nh để tìm đến bóng dáng của các bậc tiền nhân để tìm hiểu, học hỏi và
ngỡng mộ.
1.3 Việt Nam và Trung Quốc có một vị trí địa lý rất thuận tiện tạo tiền
đề cho mối quan hệ giao lu, tiếp xúc và giao thoa văn hoá từ xa đến nay. Thơ
Đờng là cầu nối cho mối quan tâm, niềm say mê của ngời yêu thơ đất Việt.
Nhiều đặc trng của thơ Đờng nh: hình ảnh, ngôn ngữ, bút pháp và lối t duy
của những thi nhân đời Đờng có ảnh hởng to lớn, sâu sắc đối với nền văn học
Việt Nam. Thơ Đờng ngày nay không chỉ là một bộ phận quan trọng trong ch-
ơng trình văn học ở Đại học mà còn đợc chú ý trong chơng trình văn học
THPT. Bớc đầu tìm hiểu, nghiên cứu thơ Đờng sẽ có ý nghĩa thiết thực trong
công tác giảng dạy.
1.4 Thơ Đờng mang trong mình nhiều đề tài rộng rãi, nội dung phong
phú, hình thức đa dạng, hình tợng sáng sủa, tình ý sâu xa Cái hay và cái đẹp
của thơ Đờng không biểu hiện ở bên ngoài câu chữ mà nằm trong nội dung
sống động, thấm đẫm tình ngời. Nhng nếu chỉ đọc thơ thì không thể hiểu hết
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Do vốn hiểu biết còn hạn chế về văn tự Hán, chúng tôi tìm hiểu thơ Đ-
ờng chủ yếu qua các bản dịch sang tiếng Việt. Công việc khảo sát cuốn Đờng
thi tuyển dịch của Lê Nguyễn Lu, Thơ Đờng bản dịch của Trần Trọng San.
Luận văn đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật, nội dung thơ tình yêu chủ
yếu trong phạm vi thời Vãn Đờng. Từ đó thấy đợc đặc trng nghệ thuật cũng
nh nét độc đáo, riêng biệt của thơ tình phơng Đông. Chúng tôi chọn ra một số
bài thơ tiêu biểu của Lý Bạch, Lý Thơng ẩn, Đỗ Mục trong rất nhiều các
nhà thơ tình thời Đờng để làm điểm nhấn cho một thời đại thi ca diễm tình của
lịch sử thơ ca Trung Hoa. Ngoài ra, chúng tôi còn mở rộng phạm vi nghiên
cứu so sánh, đối chiếu với thơ tình phơng Tây. Tuy nhiên do giới hạn dung l-
4
ợng của luận văn nên sự mở rộng phạm vi chỉ đợc thực hiện trong những trờng
hợp cần thiết. Với phạm vi đó, chúng tôi mong muốn góp thêm cái nhìn, một
tiếng nói của mình khi nhìn nhận, đánh giá mảng thơ tình yêu đời Đờng.
3. Lịch sử vấn đề
Đời Đờng là một triều đại quan trọng trong lịch sử văn hoá Trung Quốc.
Đây là thời kỳ kinh tế phồn vinh, xã hội ổn định, văn hóa nghệ thuật thu đợc
thành tựu huy hoàng đặc biệt là thơ ca cổ điển đã ở vào thời kỳ phát triển cực
thịnh. Sáng tác thơ ca trở thành một trong những nội dung chủ yếu trong hoạt
động văn hóa xã hội, nội dung khoa cử của triều đình cũng thay đổi từ thi viết
luận văn thành thi viết thơ phú để đánh giá và lựa chọn ngời tài.
Thơ Đờng ra đời trong thời kỳ nhà Đờng (618-907), thời đại này sản
sinh ra một nền thi ca vĩ đại, nền thi ca ấy đã trờng tồn cùng năm tháng và
trong lòng ngời trở thành một thành tựu văn học lớn của nhân loại. Thơ Đờng
hiện còn trên 48.900 vạn bài thơ của hơn 2200 nhà thơ (theo Toàn Đờng Thi),
khối lợng này đủ để chứng minh bản thân nó đã trở thành một vờn hoa đa h-
ơng sắc. Vì vậy nó đợc coi nh Đỉnh cao của ngôn ngữ văn minh nhân
loại(Almanach - Những nền văn minh thế giới). Tìm hiểu thơ Đờng chính là
tìm hiểu về một di sản quý giá của nền văn minh nhân loại.
cách thi nhân đời Đờng ta có thể thấy rõ ngời Trung Quốc rất trân trọng di sản
văn học, hơn nữa các quá trình nghiên cứu của họ rất công phu, nghiêm túc và
có nhiều cách kiến giải rất chính xác, tinh tế. Chúng tôi học tập đợc rất nhiều
ở những công trình ấy. Đó là sự đa dạng của các cá tính sáng tạo, sự độc đáo
của các tác phẩm cụ thể.
Trong cuốn Bình luận về thơ tình của Lu Khắc Trí, việc khảo sát hơn
110 bài thơ của hơn 50 nhà thơ đã khẳng định hệ thống ngôn ngữ trong thơ
tình thời Đờng là một viên ngọc quý trong nghệ thuật thơ ca cổ điển Trung
Quốc. Hay xét đến cuốn Nghiên cứu ca từ thơ tình Lý Thơng ẩn của Lu Học
Khải, Lý luận văn học, Nxb Đại học An Huy, ngời đọc khám phá một thế giới
ngôn ngữ mang đậm chất Đờng thi trong thơ tình yêu của Lý Thơng ẩn. Với
mục đích làm nổi bật giá trị của thơ tình yêu thời Đờng cuốn sách nghiên cứu
về các phần thơ của ông nh: Thơ Vịnh sử, thơ Vịnh vật. Nhng cuốn sách chủ
yếu đề cao giới thiệu về phần thơ tình yêu hay còn gọi là thơ Vô đề của ông.
Cũng viết về đề tài này chúng tôi còn gặp cuốn Nghiên cứu thơ ca Lý
Thơng ẩn của Ngô Chấn Hoa, Nxb nhân dân An Huy. Lý Nghĩa Sơn thi tập
tiên chú của Chu Hạc Linh, Lý Nghĩa Sơn thi giải của Lục Côn Tằng, Ngọc
Khê Sinh thi ý của Khuất Phục, Lý Thơng ẩn ái tình thi giải của Chung Lai
Nhân đây cũng là những ví dụ tiêu biểu cho nhà thơ tình tiêu biểu thời Vãn
Đờng. Ngoài ra còn nhiều bài luận văn, nhiều bài viết nghiên cứu về nội dung
6
cũng nh nghệ thuật thơ ca Lý Thơng ẩn. Qua công trình nghiên cứu này
chúng tôi hiểu rõ hơn về một thời đại thơ Đờng trong quá khứ, một nhà thơ Lý
Thơng ẩn mang nặng nỗi đau tình.
Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát các công trình nghiên cứu về nhà thơ
Đỗ Mục nh: Đỗ Mục thi nhân thời Vãn Đờng của nhà nghiên cứu Trần Vũ
Quân do Nxb Sớng Lu Hồ Bắc xuất bản năm 1951. Đỗ Mục và thơ ca của ông
của Cát Hiếu Âm đợc đăng trên nguyệt san Học thuật T6/1981 Nxb Nhân
Dân Thợng Hải. Tuyển tập bình luận thơ Đỗ Mục của Ngô Tại Khánh do Nxb
Cổ Th, Thợng Hải, T10/2002.
ờng đã làm cho nhà nghiên cứu ngời Việt bị cuốn hút, say mê, điển hình trong
cuốn Lý Thơng ẩn lan trong rừng vắng Lê Quang Trờng đã khẳng định:Th-
ơng ẩn là một hồn thơ đa tình, đa cảm, thơ của ông âm trầm mà ỷ lệ Dẫu là
thơ diễm tình nhng đọc thơ ông vẫn ẩn chứa nỗi niềm và sự chiêm nghiệm sâu
sắc về cuộc đời và tình yêu. ở Việt Nam tìm hiểu về thơ tình yêu thời Đờng,
nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Trờng là ngời đã khảo dịch và giới thiệu đợc
trọn vẹn nhất hơn một trăm bài thơ tình của của Lý Thơng ẩn.
Viết về đề tài này còn phải kể đến những sáng tác của Đỗ Phủ, trong
cuốn Cuộc sống thơ và thơ cuộc sống, Hoàng Trung Thông đã dành nhiều
trang viết về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật về thơ diễm tình của ông.
Trong đó, chú trọng những đặc sắc về nội dung t tởng của thơ Đỗ Phủ và đã có
rất nhiều những phát hiện độc đáo. Hoàng Trung Thông đã nhận ra sự riêng
biệt của Đỗ Phủ Trong thơ Đỗ Phủ những chữ th ơng tâm, thở dài, ôm hận, bi
sầu, ấm ức cùng với tình cảm và hình ảnh thơ mà nhà thơ lựa chọn, đã làm
cho bài thơ có một phong cách trầm t, u uất riêng biệt ít thấy ở những nhà thơ
khác. Tình cảm trong thơ ông không chỉ là tình yêu thơng đơn thuần mà còn
là nỗi đau đớn, xót xa, nỗi oán tình mà thơ ca đời Đờng cũng có nhiều thi
nhân vớng phải. Có lẽ về điều này ta nhận thấy giữa Đỗ Phủ và Lý Thơng ẩn
có một điểm chung trong cách thể hiện tình cảm, cảm xúc.
Nh vậy, để tìm hiểu sâu hơn về thơ tình thời Đờng chúng tôi kế thừa
thành tựu nghiên cứu về thơ tình yêu thời Đờng của các nhà nghiên cứu ở
Trung Quốc và Việt Nam qua các t liệu mà chúng tôi có điều kiện tham khảo.
Những bài viết tham khảo ở cả phần t liệu trong nớc và nớc ngoài là những
gợi ý cho chúng tôi hình thành đề tài nghiên cứuThơ tình yêu đời Đờng.
Trong đó ý kiến của các nhà nghiên cứu là những gợi ý quan trọng giúp chúng
tôi trong quá trình tìm hiểu đề tài này. Chúng tôi mong muốn có một hớng tiếp
cận hệ thống về giá trị nội dung cũng nh giá trị nghệ thuật của thơ tình thời Đ-
ờng để góp phần làm cho mảng thơ tình tởng nh xa lạ sẽ đến gần với độc giả
yêu thơ.
4. Phơng pháp nghiên cứu
tinh thần cao cấp đặc hữu của con ngời. ái tình đợc sản sinh ra giữa nam và nữ,
là một loại rung động tình cảm tự phát không thể tự chủ đợc, đồng thời cũng
là một sự tự lựa chọn của cá thể. Loại tình cảm độc đáo, đặc sắc l ỡng tính t-
ơng hấp, lỡng tình tơng duyệt này tế nhị mà phức tạp, nó có thể mang lại sự
vui vẻ bất tận cho con ngời, cũng có thể để lại sự thống khổ sâu sắc. Từ khi có
chữ viết, con ngời cha bao giờ ngừng ca tụng và tán dơng thứ tình cảm đẹp đẽ
mà thần kỳ này. ái tình là suối nguồn bất tận cho sáng tác văn học, ái tình là
chủ đề sáng tạo vĩnh hằng của văn học.
1.1 Thơ Tình yêu - : Theo Đại từ điển Tiếng Việt , Nguyễn Nh ý
(chủ biên), NXB Văn hóa - Thông tin ấn hành năm 1999
1.1.1 Thơ - :
Thơ là hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, có nhịp điệu,
vần điệu để thể hiện ý tởng, cảm xúc nào đó của tác giả một cách hàm súc.
Thơ là sự hiện thân cho những gì sâu sắc thầm kín nhất của con tim và
huyền diệu thiêng liêng nhất của tâm hồn con ngời, và khơi động những hình
ảnh tơi mát sống động nhất, âm thanh tuyệt vời nghệ thuật nhất trong thiên
nhiên (Lamartine)
1.1.2 Tình yêu -:
10
Tình yêu là trạng thái tâm lý cảm xúc, là thái độ, tình cảm nồng thắm,
gắn bó thân thiết với nhau giữa nam và nữ. Đó là một quan hệ giữa ngời và ng-
ời, quan hệ tinh thần tinh tế, kỳ diệu, thần bí khó có thể định nghĩa đợc.
Tình yêu là trạng thái tâm lí xã hội, là sự rung cảm sâu sắc của con ng-
ời. Với ngời phơng Đông do những quan điểm thời đại với hàng trăm thứ lễ
giáo khác nhau hết sức khắt khe với tình yêu cá nhân. Tình yêu chỉ đợc ca
ngợi khi nam nữ đã yên bề gia thất. Từ đó tình yêu đợc xét đến trong những
mối quan hệ gia đình. Tuy nhiên nó cũng đầy đủ những cung bậc: nhớ thơng
da diết khi phải xa nhau, buồn vui khi ở gần nhau, và nhiều khi vì một lý do
nào đó mà sinh ra oán hận pha lẫn tủi hờn.
Tâm lý luyến ái này là sự giác ngộ của nhân tính, là sự thể hiện cái đẹp
Tất cả những cung bậc tình cảm phức tạp, tế nhị của tình yêu đều trở
thành đối tợng hớng đến của thơ ca. Dù rằng quan niệm thẩm mỹ của văn học
cổ điển Trung Quốc về vấn đề này còn rất ngặt nghèo. Hơn nữa, các thi nhân
đời Đờng rất ngại và thực sự ít có cơ hội để đề cập đến tình yêu với những cảm
xúc cá nhân một cách trực tiếp. Nhng tình yêu là một quy luật của tự nhiên, là
thể hiện bản năng sinh tồn của loài ngời, yêu đơng và giờ phút nồng thắm nhất
vẫn đợc thi nhân ca ngợi trong cảm xúc tâm lý của mình.
Thơ tình yêu đợc hiểu theo nghĩa là thể thơ viết về trạng thái tâm lý
đồng cảm xúc giữa nam và nữ, những ngời có tình cảm gắn bó thân thiết, có
quan hệ yêu đơng. Thơ tình yêu là cảm xúc trữ tình trong quan hệ nam nữ.
Trạng thái cảm xúc này rất khó diễn tả bằng lời vì vậy khi diễn đạt thi nhân th-
ờng dùng những cách nói tợng trng, tế nhị và dùng những phơng tiện nghệ
thuật để thể hiện dụng ý sáng tác.
1.2 Nguyên nhân hình thành thơ tình yêu thời Đờng.
Đề tài tình yêu luôn là một đề tài quan trọng của thơ ca cũng nh kịch và
tiểu thuyết Trung Quốc. Thơ tình trong Kinh Thi là tiếng nói hồn nhiên chân
chất của con ngời Trung Hoa cổ đại, khi cha có sự ràng buộc của lễ giáo
phong kiến. Ta nghe ở đây nỗi rung cảm bồi hồi của buổi ban đầu, lời tỏ bày
chân thành, bộc trực, nỗi nhớ nhng sầu muộn, cuộc hẹn hò và lời yêu say đắm,
cho đến những lời giận hờn trách móc, nỗi tuyệt vọng và nỗi oán hậntất cả
đều chất phác, chân thành.
Thời Hán - Nguỵ - Lục Triều (Khoảng thế kỷ 3 TCN đến thế kỷ 6 SCN) lễ
giáo phong kiến đã ràng buộc con ngời một cách gắt gao, ấy vậy mà ngời ta
vẫn say mê và mạnh dạn nói rằng:
Thà rằng biết đến thành xiêu nớc đổ,
Bởi nhân gian thật khó trùng phùng.
Hoặc:
Gió xuân thật đa tình,
12
Thổi mở cả xiêm y của ta.
Đờng. Đến thời Vãn Đờng (836-907), nhà Đờng xuống dốc và sụp đổ nhanh
chóng. Nông dân càng bị bóc lột triệt để, tất yếu dẫn đến các cuộc nổi dậy.
Phong trào lan rộng ra mãi, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của Hoàng Sào. Lời
13
hịch khởi nghĩa của Vơng Tuyên Chi đã khái quát tình hình chính trị thời kỳ
này, xã hội bớc vào con đờng suy thoái. Trong cảnh xã hội nhiễu nhơng, đất n-
ớc loạn ly phân tán, nền văn học Trung Hoa cũng đột nhiên chuyển biến mang
tính chất lãng mạn, trữ tình. Không khí lãng mạn lan tràn, hình thành một loại
thơ ca mà ngời ta gọi là diễm tình , lấy tình yêu nam nữ làm đề tài chính. Thơ
ca thời kỳ này đề cao tình yêu trai gái lãng mạn, không còn sự ràng buộc của
lễ giáo phong kiến. Giai đoạn này có những nhà thơ nổi tiếng nh: Lý Thờng
ẩn, Đỗ Mục, Ôn Đình Quânvà một số các nhà thơ khác nữa.
Xã hội thời kỳ Vãn Đờng đang lúc rối ren, điều đó cũng đã ảnh hởng
đến quan điểm sáng tác của thi nhân. Họ dờng nh đã chán ghét những đối
chọi, đấu đá trên trờng chính trị, danh lợi. Để cầu đợc sự an ủi tinh thần, cân
bằng tâm lý họ thờng trốn tránh thực tế, chìm đắm trong ái tình và đến những
nơi sơn thủy để ẩn mình.
Trong các tình cảm thiêng liêng của con ngời, thơ Đờng ít đề cập đến
tình cảm luyến ái nam nữ, điều đó cũng do những quan điểm của thời đại với
hàng trăm thứ lễ giáo khác nhau hết sức khắt khe với tình yêu cá nhân. Nho
gia tiết dục, Đạo gia quả tục, Phật giáo diệt dục, lại thêm t tởng thời đại về tự
do cá nhân không đợc đề cao thậm chí hầu nh cha đợc đặt ra. Mục đích chính
của văn học là thi dĩ ngôn chí , thơ là để nói đến cái chí, nói đến cái ta đại
đồng. Các thi nhân đời Đờng rất ngại và thực ra rất ít có cơ hội đề cập đến tình
yêu với những cảm xúc cá nhân một cách trực tiếp, thẳng thắn, hầu hết đều
phải dùng cách nói tợng trng rất tế nhị để diễn đạt.
Phân loại các nhà thơ Đờng theo trờng phái khác nhau, rất khó khăn và
dễ phiến diện vì họ phải thật tài để vừa miêu tả sự hiện thực trong xã hội vừa
có những bài thơ phóng khoáng trữ tình để lại cho đời sau. Đề tài trong thơ Đ-
ờng có thể nói rất đa dạng và phong phú, nhiều hình thức diễn đạt phóng
luận phê bình ở Trung Quốc, Việt Nam và nớc ngoài đã dày công tìm hiểu,
khai thác cái hay, cái đẹp và nghiên cứu cái độc đáo của nó tạo nên nhiều
công trình có giá trị lớn về thơ tình yêu thời Đờng.
1.3 Lịch sử thơ tình yêu trớc Đờng
Thơ tình yêu thời cổ đại của Trung Quốc bắt nguồn khá sớm. Nó sinh ra
sớm hơn rất nhiều so với những thể loại thơ ca nh thơ ái quốc, thơ chính trị,
thơ biên tái, thơ vịnh sử, thơ vịnh vật. Những thể loại thơ ca này xuất hiện khi
nền kinh tế văn hóa của một quốc gia hoặc của một chế độ phong kiến phát
triển đến trình độ nhất định. Còn thơ tình yêu ra đời trên nền tảng ca hát tự do
của nam và nữ thì đã có khi con ngời xuất hiện thành cộng đồng trên thế gian.
Nh Chu Hi từng nói:
Phàm thi chi sở vị phong giả,
Đa xuất vu lí hạng ca dao chi tác,
15
Sở vị nam nữ d ca vịnh, các ngôn kỳ tình dã
(Chu Hi - Thi tập truyền tự)
(thơ đợc gọi là gió, đa phần đợc sáng tác trong dân gian, thói quen của trai gái
khi yêu nhau sử dụng lời ca, ngôn từ là tình)
Tình yêu thuở ban đầu thờng đợc xuất hiện trong quá trình lao động và thơ
tình thời cổ đại biểu hiện ái tình tự do chân chính, thông thờng cũng sản sinh
ra trong quá trình lao động. Nh vậy, nền tảng của tình yêu giữa nam và nữ đợc
tích luỹ và phát triển trong quá trình lao động. Tình yêu cũng là một quá trình
tất yếu để con ngời sinh tồn, phát triển, duy trì nòi giống. Tình yêu là một
minh chứng để con ngời khẳng định rằng sự tiến hoá đã đến một cái ngỡng
cao cấp cho giống nòi của mình.
Trong lịch sử xa xa những lời giao duyên, tâm sự, tỏ tình của trai gái
đều xuất phát từ những lời ca, câu hát trong dân gian. Đây cũng là lý do vì sao
rất ít gặp các tác phẩm ca ngợi tình yêu của các văn nhân là vì những văn nhân
cổ đại Trung Quốc chịu sự ràng buộc bởi t tởng Nho gia và lễ giáo phong kiến.
Họ thờng kìm nén cảm nhận tình yêu trong nội tâm, coi đề tài tình yêu là vùng
Chàng trai bao ớc mong).
Yểu điệu thục nữ,
Ngộ mỵ cầu chi
(Ôi cô gái dịu hiền
Ngày đêm những tìm kiếm)
Yểu điệu thục nữ
Cầm sắt hữu chi
(Cô gái hiền xinh tơi,
Ta mơ ngày cầm sắt reo vui)
Yểu điệu thục nữ
Chung cổ nhạo(lạc) chi
(Cô gái hiền xinh xinh,
Ta mơ ngày chiêng chống rập rình)
(Quan Th Chu Nam)
Bỉ mỹ Mạnh Khơng
Tuân mỹ thả đô
(Mạnh Khơng xinh đep kia ơi
Đã bao đẹp đẽ càng ngời đoan trang)
Bỉ mỹ Mạnh Khơng
Đức âm bất vong
(Mạnh Khơng xinh đẹp kia ơi
17
Quên sao đức hạnh những lời nàng trao)
(Trịnh Phong - Hữu nữ đồng xa)
Võ sĩ khôi ngô, tráng kiện, dũng mãnh, uy phong, ngời nam tử có thể
hộ quốc an bang là bạn đời lý tởng trong lòng ngời phụ nữ thời xa:
Thạc nhân ngữ ngữ,
Công đình vạn vũ.
Hữu lực nh hổ,
Chấp bí nh tổ.
Đi hái rau ngải rồi,
Một ngày không gặp
Nh ba năm trời)
(Thái Cát V ơng Phong)
Nỗi nhớ của chàng trai và cô gái cứ đau đáu, da diết khi phải xa nhau và
nỗi nhớ ấy ngày càng tăng tiến theo mức độ thay đổi của thời gian đợc so sánh
trong thơ: Một ngày không gặp mà nh ba tháng, rồi nh đến ba nămVà đây
nữa một lời mời gọi tha thiết của cô gái khi đang yêu thật mạnh dạn, chân
thành biết bao:
Thác hề, thác hề,
Phong kỳ xuy nhữ.
Thúc hề, bá hề,
Xớng, d hoạ nhữ!
(Vỏ cây ơi, lá cây ơi!
Cái gió nó thổi mày rơi ấy mà!
Chàng ơi hãy cất lời ca,
Hãy mau cất tiếng cho ta hát cùng!)
(Thác Hề - Trịnh Phong)
Ca dao nớc Trịnh khi nói về tình yêu nh một lời ca ngợi tình cảm bình
dị của nam nữ:
Tử huệ t ngã,
Kiển thờng thiệp Trăn.
Tử bất ngã t,
Khải vô tha nhân?
Cuồng đồng chi cuồng dã thả!
Tử huệ t ngã,
Kiển thờng thiệp Vĩ.
Tử bất ngã t,
Khả vô tha sĩ?
Cuồng đồng chi cuồng dã thả!
Hẹn ta đợi ở góc thành.
Trốn đâu, ta tìm chẳng thấy,
Đi đi, lại lại, vò đầu ngóng trông.
Gái hiền quyến luyến bao tình,
Tặng ta bút đỏ, vơng hình bóng ai.
20
ở đầu bút có tua dài,
Ta yêu nét đẹp của ai mất rồi.
Trên đồng nàng tặng cỏ non,
Cỏ trông lạ đẹp, gói tròn niềm thơng.
Thật ra chẳng đẹp, rất thờng,
Vì ngời đẹp tặng nên thơng vô cùng.
Thơ tình trong Kinh Thi thể hiện sinh động cuộc sống tình yêu phong
phú nhiều màu sắc của con ngời thời bấy giờ, đặc biệt là miêu tả rất chi tiết
tâm ý tình yêu, luyến ái sinh động và sâu sắc, trong đó có sự vội vàng, buồn
phiền thơng cảm của tình yêu đơn phơng:
yểu điệu thục nữ,
ngụ mị cầu chi
cầu chi bất đắc,
ngụ mị t bặc (phục)
(Ôi cô gái dịu hiền
Ngày đêm những kiếm tìm
Kiếm tìm hoài chẳng đơc,
Thức ngủ lòng vấn vơng)
(Chu Nam Quan Th )
Và cũng có tình yêu có đi có lại bộc bạch nỗi lòng:
Đầu ngã dĩ mộc cô (qua),
đầu chi dĩ quỳnh c,
phỉ báo dã,
Vĩnh dĩ vi hảo dã.
Tình yêu trong thơ ca thời đó còn đợc miêu tả trong cảnh bận lòng, lo
âu, sốt ruột khi lỡ hẹn:
Đông môn chi dơng,
kỳ diệp tơng tơng.
Hôn dĩ vi kỳ,
Minh tinh hoàng hoàng.
(Trần phong - Đông môn chi dơng 1)
(Cửa đông dơng liễu là đà,
Lá thì chen rậm rờm rà xanh tơi.
Hẹn nhau vào lúc tối trời,
Sao Minh thấy chiếu sáng ngời từng cao.)
(Cây liễu ở cửa đông)
Còn có tâm t triền miên khó dứt bỏ, khó giãi bầy:
22
Khiêu hề đạt hề,
tại thành khuyết hề,
nhất nhật bất kiến,
nh tam nguyệt hề.
(Trịnh phong - tử khâm )
(Giỡn kìa, nhảy kìa,
ở cửa thành kia.
Một ngày chẳng thấy
Nh ba tháng trời)
Trong Thi Kinh những bài thơ ca miêu tả sự chung tình và trạng thái t-
ơng t của nam nữ thanh niên không mang tính phiến diện thế tục, mà chỉ là sự
biểu lộ tình cảm theo bản năng sinh mệnh của một cá thể. Thơ Kinh Thi lấy
phong cách, hình tợng giản dị tự nhiên, lãng mạn tơi đẹp để tái hiện tình yêu
lạc quan mà tự chủ của thời đại bấy giờ.
Thơ ca phản ánh hôn nhân tình yêu trong Kinh Thi có ảnh hởng lớn
Vì vua, chàng đứng ở hàng đầu quân.
Từ khi chàng tiến về đông,
Đầu em tóc rối, cỏ bồng khác chi.
Há không có phấn son gì,
Mặt mày trang điểm để vì ai đây?!
Mong trời ma xuống thật mau,
Mặt trời đã ló, một màu chói chang.
Em nguyền chỉ nhớ tới chàng,
Đầu tuy có nhức cũng cam tấm lòng.
Làm sao có đợc cỏ huyên,
Đem về chái bắc, dới thềm trồng ngay.
Nhớ chàng, nguyện chẳng đổi thay,
Dẫu cho đau đớn lòng này, quản chi!)
Lời thơ mộc mạc, giản dị tự nhiên nhng chứa đựng một tình cảm yêu th-
ơng gắn bó, sự chung thuỷ, nghĩa tình giữa ngời vợ đối với ngời chồng trong
hoàn cảnh xa cách. Nhng vẫn còn có tâm trạng lo âu về cuộc sống gian khổ
của chồng ở bên ngoài:
Hữu hồ tuy tuy,
Tại bỉ Kỳ lơng
Tâm chi u hĩ,
Chi tử vô thờng .
( Vệ Phong - Hữu hồ 2 )
Có con chồn - Chơng 1
24
(Có con chồn bớc lang thang
ở trên đập đá bắc ngang sông Kỳ.
Lòng em luống những sầu bi.
Nỗi chàng quần thiếu ai thì may cho?)
Hữu hồ tuy tuy,
Tại bỉ kỳ lệ