Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Lời nói đầu
Ngày nay, nớc ta đang từng bớc phát triển và hoàn thiện một nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Điều này đặt ra cho các doanh nghiệp
hàng loạt các vấn đề cần phải thay đổi và hoàn thiện. Trong các vấn đề đợc đặt
ra đối với các doanh nghiệp thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy
quản lý doanh nghiệp là một trong những vấn đề nổi cộm, hết sức phức tạp và
quan trọng.
Trong nền kinh tế thị trờng thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp đợc xác định là hiệu quả kinh tế xã hội của các hoạt
động đó. Nhìn chung, mục tiêu của một doanh nghiệp hoạt động trong nền
kinh tế thị trờng là lợi nhuận tối đa. Trong khi đó, hiệu quả kinh tế xã hội, việc
tối đa hoá lợi nhuận của các hoạt động sản xuất kinh doanh có đạt đợc hay
không là phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố hiệu quả hoạt động của
bộ máy quản lý doanh nghiệp là một yếu tố cơ bản và mang tính quyết định.
Trong khi đó ở nớc ta, ảnh hởng của cơ chế kinh tế cũ vẫn còn tồn tại
xét ở nhiều góc độ. Các ảnh hởng này thờng mang tính tiêu cực, đặc biệt là
trong lĩnh vực quản lý và từ đó ảnh hởng tới hiệu quả của hoạt động sản xuất,
kinh doanh.
Trong thực tế, bộ máy quản lý doanh nghiệp ở nớc ta đợc đánh giá thấp
hơn so với bộ máy quản lý doanh nghiệp của các nớc có nền kinh tế thị trờng
phát triển cao về hiệu quả hoạt động. Do đó, trong điều kiện nền kinh tế toàn
cầu, cạnh tranh khốc liệt thì vấn đề nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý cụ
thể hơn là hoàn thiện bộ máy quản lý doanh nghiệp là một vấn đề hết sức cấp
bách và quan trọng đối với các doanh nghiệp nớc ta ngày nay.
Hoàn thiện bộ máy quản lý doanh nghiệp có các nội dung là:
- Hoàn thiện cơ cấu bộ máy.
- Hoàn thiện công tác cán bộ.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T21
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
- Hoàn thiện cơ chế quản lý.
Quản lý theo góc độ chính trị, xã hội là sự kết hợp giữa tri thức và lao
động. Lịch sử xã hội loài ngời từ thời kỳ mông muội đến thời đại văn minh
hiện đại ngày nay cho ta thấy rõ trong sự phát triển đó có 3 yếu tố đợc nổi lên
rõ nét là tri thức, lao động và quản lý. Trong ba yếu tố này, quản lý là sự kết
hợp giữa tri thức và lao động. Nếu kết hợp tốt thì xã hội phát triển tốt đẹp. Nếu
sự kết hợp không tốt thì sự phát triển sẽ chậm lại hoặc rối ren. Sự kết hợp đó đ-
ợc biểu hiện trớc hết ở cơ chế quản lý, ở chế độ, chính sách, biện pháp quản lý
và ở nhiều khía cạnh tâm lý xã hội, nhng tựu trung lại là quản lý phải biết tác
động bằng cách nào đó để ngời bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi, đem
hết năng lực và trí tuệ của mình để sáng tạo ra lợi ích cho mình, cho Nhà nớc
và cho xã hội.
Theo góc độ hành động, góc độ quy trình công nghệ của tác động thì
quản lý là điều khiển. Theo khái niệm này quản lý có ba loại hình. Các loại
hình này đều có xuất phát điểm giống nhau là do con ngời điều khiển nhng
khác nhau về đối tợng.
- Loại hình thứ nhất là việc con ngời điều khiển các vật hữu sinh không
phải con ngời để bắt chúng phải thực hiện theo ý chí của ngời điều khiển. Loại
hình này đợc gọi là quản lý sinh học, thiên nhiên, môi trờng, Ví dụ nh các
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T23
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
nhà khoa học làm công tác lai tạo giống vật nuôi, cây trồng; các nhà sản xuất
nông sản thực phẩm,
- Loại hình thứ hai là việc con ngời điều khiển vật vô tri, vô giác để bắt
chúng phát triển và thực hiện theo ý chí của ngời điều khiển. Loại
hình này đợc gọi là quản lý kỹ thuật. Ví dụ việc điều khiển máy tính,
vận hành các loại máy móc thiết bị,
- Loại hình thứ ba là việc con ngời điều khiển con ngời (quản lý nhà n-
ớc, Đảng, đoàn thể, tổ chức chính trị, kinh tế, văn hoá, ). Đó là quản
lý xã hội. Quản lý xã hội đợc Các Mác coi là chức năng đặc biệt đợc
sinh ra từ tính chất xã hội hoá của lao động.
nhiên, từng hành động đơn lẻ của con ngời thờng chỉ mang lại những kết quả
hạn chế. Để cải tạo và chinh phục tự nhiên, tất yếu đòi hỏi con ngời phải liên
kết lại với nhau cùng hành động. Những tác động tơng hợp của nhiều ngời vào
cùng đối tợng tự nhiên thờng mang lại những kết quả cộng hởng và có tính
tổng hợp.
Các Mác đã từng phân tích, mỗi con ngời riêng lẻ chỉ đơn độc tác động
vào tự nhiên. Không thể có huy vọng thoát khỏi sự ràng buộc và lệ thuộc vào
tự nhiên. Chỉ có thể chế ngự đợc tự nhiên khi ngời ta biết kết hợp các hành
động đơn lẻ lại với nhau để cùng hớng theo một ý đồ thống nhất.
Ngời quan hệ với tự nhiên, con ngời thờng xuyên tác động lẫn nhau, sự
tác động này diễn ra theo nhiều chiều và rất đa dạng. Quá trình tác động lẫn
nhau buộc ngời ta phải liên kết với nhau cùng hành động vì một mục tiêu
chung và bảo đảm lợi ích chung của mỗi ngời.
Sự thoả hiệp lợi ích cả theo nghĩa tích cực và nghĩa tiêu cực là động cơ
gắn kết hành động của con ngời lại với nhau.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T25
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là một trong những tính quy định khi xem xét bản chất hoạt động
thực tiễn của con ngời trong xã hội. Chính vì vậy, Các Mác đã nói Xét về bản
chất, con ngời là tổng hoà các mối quan hệ. Hành động của mỗi con ngời
không chỉ là kết quả chủ quan của mỗi ngời mà nó còn là kết quả tổng hợp
của các quan hệ xã hội.
Nh vậy, xét cả về mặt tự nhiên cũng nh xã hội của hoạt động sản xuất, sự
liên kết phụ thuộc và ràng buộc lẫn nhau trong quá trình hoạt động của con
ngời là một đòi hỏi cần thiết để hoạt động có hiệu quả.
Quá trình liên kết hoạt động thực tiễn của con nguời làm cho hoạt động
của họ mang tính tổ chức. Có thể hiểu tổ chức là một tập hợp mà trong đó mỗi
hành động của con ngời phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định, chịu
sự chi phối ràng buộc có tính quy ớc nhất định.
Do đó sự xuất hiện của các tổ chức nh là một đòi hỏi tất yếu trong đời
động của hệ thống. Bộ máy quản lý, một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của
mỗi bộ phận, mỗi ngời trong hệ thống quản lý, mặt khác nó có tác động tích
cực trở lại đến việc phát triển của toàn hệ thống quản lý.
Hệ thống bị quản lý là đối tợng mà sự tác độngcủa bộ máy quản lý hớng
vào nhằm mục đích tăng thêm cho nó những hình thức cụ thể, chỉ đạo hoạt
động của nó để đạt đợc kết quả định trớc. Giữa hệ thống quản lý và hệ thống
bị quản lý có mối quan hệ qua lại rất chặt chẽ. Hệ thống bị quản lý không chịu
sự tác động có hớng đích của hệ thống quản lý mà nó còn phát triển theo quy
luật vốn có của nó. Do đó hệ thống quản lý phải đợc tổ chức cho phù hợp với
đối tợng quản lý mà nó phụ trách, điều hành.
Tổ chức bộ máy quản lý là quá trình xác định các chức năng, các bộ phận
tạo thành một bộ máy quản lý nhằm thực hiện đợc các chức năng quản lý.
1.2.1 :Các chức năng và lĩnh vực trong quản lý doanh nghiệp.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T27
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Quản lý doanh nghiệp bao gồm nhiều nội dung và nhiều cách tiếp cận
khác nhau, do vậy phải phân chia, quy nạp vấn đề quản lý thành những khái
niệm nhất định để có đợc tiếng nói chung. Căn cứ vào quá trình quản lý, ngời
ta phân chia vấn đề quản lý doanh nghiệp thành các chức năng quản lý. Căn
cứ vào các nội dung quản lý, ngời ta phân chia vấn đề quản lý doanh nghiệp
thành các lĩnh vực quản lý.
Chức năng quản lý (phân loại chức năng quản lý theo quá trình quản lý):
Chức năng quản lý là những hoạt động riêng biệt của quản trị, thể hiện những
phơng hớng tác động của quản trị gia đến các lĩnh vực quản trị doanh nghiệp.
Lĩnh vực quản lý (phân loại chức năng quản lý theo nội dung quản lý):
Lĩnh vực quản lý đợc hiểu nh các hoạt động quản trị khi nó đợc thiết lập và sắp
xếp theo nội dung quản lý gắn liền với các bộ phận của doanh nghiệp, có ngời
chỉ huy và đợc phân cấp phân quyền trong việc ra các quyết định quản lý.
Nếu các chức năng quản lý là các hoạt động trong một quá trình quản lý
thì các lĩnh vực quản lý là các tổ chức để thực hiện các hoạt động kinh doanh
kết các yếu tố sản xuất, các bộ phận riêng rẽ trong doanh nghiệp với nhau
thành một hệ thống. Bằng cách thiết lập một tổ chức hoạt động hữu hiệu, các
nhà quản trị có thể phối hợp tốt hơn các nguồn lực.
Chức năng phối hợp: Chức năng này giúp cho tất cả các hoạt động của
doanh nghiệp đợc nhịp nhàng, ăn khớp, đồng điệu với nhau nhằm tạo ra sự
thuận tiện và hiệu quả.
Chức năng chỉ huy: Sau khi đã hoạch định, tạo ra một tổ chức và phối
hợp các hoạt động, các nhà quản trị phải chỉ huy lãnh đạo tổ chức. Đó là việc
đa ra và truyền đạt các chỉ thị, truyền đạt thông tin đến cho mọi ngời để họ
hoàn thành những nhiệm vụ cần thiết, biến khả năng thành hiện thực.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T29
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi
cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lờng các sai
lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với các mục tiêu và kế hoạch đã
định.
Hoạch định hớng dẫn việc sử dụng các nguồn lực để hoàn thành các
mục tiêu, còn kiểm tra xác định xem chúng hoạt động có phù hợp với mục tiêu
và kế hoạch hay không.
Mục đích của kiểm tra nhằm bảo dảm các kế hoạch thành công, phát
hiện kịp thời những sai sót, tìm ra những nguyên nhân và biện pháp sửa chữa
kịp thời những sai sót đó, bảo đảm cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ta
nhịp nhàng, liên tục và hiệu quả.
Kiểm tra là tai mắt của quản lý. Vì vậy cần tiến hành thờng xuyên và
kết hợp linh hoạt nhiều hình thức kiểm tra.
Ngoài Henry Fayol còn có các chuyên gia khác nhau đa ra những hệ
thống các chức năng khác nhau. Theo các tác giả tại trờng Đảng cao cấp Liên
Xô (cũ) thì có 6 chức năng: soạn thảo mục tiêu, kế hoạch hoá, tổ chức, phối
hợp, động viên, kiểm tra. Theo tài liệu huấn luyện cán bộ quản lý của
UNESCO ngời ta nêu lên 8 chức năng: xác định nhu cầu, thẩm định và phân
cụ thể và sự tiến bộ về nhận thức khoa học quản lý.
Có thể nói lĩnh vực quản lý chính là sự phân chia chức năng quản lý
theo nội dung tác động.
Về cơ bản, các lĩnh vực quản lý trong doanh nghiệp gồm:
* Lĩnh vực vật t: Nhiệm vụ của cung ứng vật t là bảo đảm cung cấp đầy
đủ và đồng bộ về số lợng, chủng loại, đúng chất lợng, đúng kỳ hạn, đúng địa
điểm với chi phí ít nhất. Nội dung công việc cung ứng vật t bao gồm: Phát hiện
nhu cầu vật t, tổ chức mua sắm vật t, tổ chức cung cấp vật t, tổ chức dự trữ và
bảo quan vật t. ..
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T211
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Ngời ta thờng sử dụng phơng pháp quy hoạch tuyến tính, phơng pháp
dựa trên lý thuyết về dự trữ, phơng pháp PERT, hay kiểu cung ứng đúng kỳ
hạn của Nhật để điều khiển côngviệc cung ứng vật t.
* Lĩnh vực sản xuất: Sản xuất là việc sử dụng con ngời lao động để tác
động lên yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (vật chất, tài chính, thông tin)
để làm ra các sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với nhu cầu của thị trờng. Bao
gồm toàn bộ các hoạt động có tính chất công nghiệp trên cơ sở phối hợp các
yếu tố lao động, t liệu lao động và đối tợng lao động đã có thể chế biến các
sản phẩm hàng hoá và thực hiện các dịch vụ. Cụ thể nh: Nghiên cứu thiết kế
loại sản phẩm định sản xuất (căn cứ vào nhu cầu của thị trờng) về các mặt
nguyên lý cấu tạo, giải pháp cấu tạo, tính năng kỹ thuật, chất lợng sử dụng. Để
nghiên cứu ở bớc này, cần nắm vững khái niệm chu kỳ sống (vòng đời) của
sản phẩm; Lựa chọn công nghệ sáng tạo sản phẩm; Lựa chọn loại hình sản xuất
bao gồm các loại sau: sản xuất đơn chiếc (theo đơn đặt hàng), sản xuất hàng loạt,
sản xuất theo dây chuyền liên tục; Tổ chức lao động và bộ máy quản lý: Tổ
chức kiểm tra sản xuất và kiểm tra chất lợng, tổ chức cung ứng và dự trữ cho
dây chuyền sản xuất, điều hành quá trình sản xuất theo thiết kế và quy trình đã
định.
Nhiệm vụ: hoạch định chơng trình; xây dựng kế hoạch sản xuất; điều
Gồm các nhiệm vụ sau:
- Lĩnh vực tổ chức: Tổ chức các dự án, phát triển và cải tiến bộ máy tổ
chức cho doanh nghiệp, tổ chức tiến trình hoạt động toàn bộ doanh nghiệp.
- Lĩnh vực thông tin: Xây dựng kế hoạch về các thông tin liên quan cho
doanh nghệp, chọn lọc và xử lý các thông tin, kiểm tra thông tin và giám sát
thông tin.
* Lĩnh vực hành chính pháp chế và các dịch vụ chung:
Bao gồm: thực hiện các mối quan hệ pháp lý trong và ngoài doanh
nghiệp, tổ chức các hoạt động quần chúng trong doanh nghiệp, các hoạt động
hành chính và phúc lợi doanh nghiệp.
Sự phân chia trên đây chỉ mang tính khái quát, trên thực tế quản trị, các
lĩnh vực đợc tiếp tục chia nhỏ nữa cho đến các công việc, nhiệm vụ quản trị cụ
thể; mặt khác có bao nhiêu lĩnh vực quản trị còn phụ thuộc vào đặc điểm kinh
tế kỹ thuật của từng doanh nghiệp.
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa phân loại theo chức năng và theo các lĩnh vực
quản trị.
- Mục đích của sự phân loại theo chức năng là bảo đảm quán triệt các
yêu cầu của khoa học quản trị, nó đảm bảo cho bất kỳ một hoạt động
quản trị nào cũngđều đợc tiến hành theo một trình tự chặt chẽ. Đó là
cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình quản trị tại một doanh nghiệp để
từ đó tìm cách tháo gỡ. Thực chất của việc phân loại theo chức năng là
sự quán triệt những nguyên lý của khoa học quản lý vào quản lý
doanh nghiệp.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T214
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
- Mục đích của sự phân loại theo lĩnh vực quản lý là: Trớc hết nó chỉ
ra tất cả các lĩnh vực cần phải đợc tổ chức thực hiện quản trị trong một
doanh nghiệp, đây là một căn cứ quan trọng để thiết lập bộ máy quản
lý doanh nghiệp. Phân loại các lĩnh vực quản lý phù hợp với tình hình
kinh doanh còn là căn cứ quan trọng để tuyển dụng, bố trí và sử dụng
Kiểm tra
(KT)
Vật t
Sản xuất
Marketing
-
-
-
-
-
H.chíhh, p. chế
DK vật t
DK sản
xuất
DK .
TC vật t
TC sản
xuất
TC .
PH vật t
PH
.CH vật t
CH
KT vật t
KT
Các doanh nghiệp càng lớn, kinh doanh càng đa dạng thì càng có nhiều
lĩnh vực quản lý, và do vậy càng có nhiều A
chức năng quản lý phức tạp nhằm thực hiện mục tiêu quản trị đã quy định.
Cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp hình thành bởi các bộ phận quản trị
và các cấp quản trị.
Bộ phận quản trị là một đơn vị riêng biệt, có những chức năng quản lý
nhất định, ví dụ phòng Kế hoạch, phòng Kiểm tra kỹ thuật, phòng Marketing,
Cấp quản trị là sự thống nhất tất cả các bộ phận quản trị ở một trình độ
nhất định nh cấp doanh nghiệp, cấp phân xởng,
Nh vậy, rõ ràng là số bộ phận quản trị phản ánh sự phân chia chức năng
quản trị theo chiều ngang, còn số cấp quản trị thể hiện sự phân chia chức năng
quản trị theo chiều dọc.
Sự phân chia theo chiều ngang là biểu hiện của trình độ chuyên môn hoá
trong phân công lao động quản trị. Còn sự phân chia chức năng theo chiều dọc
tuỳ thuộc vào trình độ tập trung quản trị và có liên quan đến vấn đề chỉ huy
trực tuyến và hệ thống cấp bậc.
Lý luận và thực tiễn chứng minh sự cần thiết phải bảo đảm sự ăn khớp
giữa các bộ phận quản trị, giữa cấp quản trị với bộ phận quản trị và cấp sản
xuất.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T217
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2.2Những nhân tố ảnh hởng đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Khi hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị, không những phải xuất
phát từ các yêu cầu đã trình bày ở trên, mà điều quan trọng và khó khăn nhất là
phải quán triệt những yêu cầu đó vào những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống
cụ thể nhất định. Nói cách khác, cần tính đến những nhân tố ảnh hởng trực tiếp
và gián tiếp của việc hình thành, phát triển và hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản
trị.
Dới đây là những nhân tố quan trọng có tác động đến việc xây dựng và
hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp.
- Môi trờng kinh doanh.
chức của doanh nghiệp sản xuất thì các bộ phận sản xuất chiếm tỷ trọng chủ
yếu, bộ máy quản trị doanh nghiệp đợc thiết lập hớng vào việc phục vụ tốt nhất
cho hoạt động sản xuất. Còn trong doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, các bộ
phận cung cấp đóng vai trò quan trọng, các hoạt động của bộ máy quản trị hoạt
động hớng vào phục vụ tốt cho các hoạt động này. Có thể nói rằng các doanh
nghiệp có mục đích, chức năng hoạt động không giống nhau thì không thể có
cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp giống nhau đợc.
- Quy mô của doanh nghiệp.
Quy mô của doanh nghiệp ảnh hởng trực tiếp đến cơ cấu tổ chức bộ máy
quản trị doanh nghiệp. Doanh nghiệpcó quy mô càng lớn thì cơ cấu tổ chức bộ
máy quản trị của doanh nghiệp càng phức tạp. Trong cơ cấu tổ chức bộ máy
quản trị doanh nghiệp có quy mô lớn phải hình thành nhiều cấp quản trị hơn,
và ở mỗi cấp cũng bao gồm nhiều nơi làm việc hơn rất nhiều so với những
doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Trong nhiều trờng hợp thì quy mô doanh nghiệp
còn ảnh hởng trực tiếp và có tính chất quyết định đến kiểu cơ cấu tổ chức cụ
thể. Thông thờng quy mô của doanh nghiệp gia tăng thì cơ cấu tổ chức cũng
gia tăng, nhng không theo tỷ lệ nh gia tăng quy mô.
- Yếu tố kỹ thuật sản xuất, đặc điểm công nghệ, loại hình sản xuất.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T219
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Kỹ thuật sản xuất đợc đề cập đến ở đây bao hàm cả đặc điểm về công
nghệ chế tạo sản phẩm, loại hình sản xuất, Kỹ thuật sản xuất ảnh h ởng trực
tiếp đến cơ cấu tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, và thông qua đó tác động
trực tiếp đến cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp. Công nghệ chế tạo sản
phẩm có ảnh hởng rất lớn đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp.
Nếu giả sử doanh nghiệp có cùng quy mô, cùng sản phẩm sản xuất ra thì
doanh nghiệp càng sử dụng công nghệ hiện đại bao nhiêu, thiết bị càng có xu
hớng tự động hoá cao theo hớng hình thành cả dây chuyền thiết bị tự động hoá
sẽ dẫn đến cơ cấu sản xuất càng đơn giản hơn, và khi xây dựng cơ cấu tổ chức
nói chung, bộ máy quản trị doanh nghiệp nói riêng, doanh nghiệp càng có xu
thông qua ngày 20/4/1995) thì các DNNN của nớc ta đợc phân làm 2 loại:
+ Tổng công ty nhà nớc và các doanh nghiệp độc lập có quy mô lớn, có
cơ cấu tổ chức quản lý nh sau: HĐQT, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc
Giám đốc và bộ máy giúp việc.
+ Các DNNN không quy định tại khoản 1 điều này, có Giám đốc và bộ
máy giúp việc.
Theo Luật Doanh nghiệp (đợc Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999) thì
công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên phải có: Hội đồng thành viên, Chủ
tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc). Công ty TNHH có trên
11 thành viên phải có Ban kiểm soát. Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ
đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ
phần có trên 11 cổ đông phải có Ban kiểm soát.
- Cơ chế quản lý vĩ mô chính sách của nhà nớc.
Không một yếu tố riêng lẻ nào có thể quyết định cơ cấu tổ chức của một
doanh nghiệp, mà cơ cấu tổ chức chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố và các yếu tố
này thay đổi tuỳ theo từng trờng hợp cụ thể.
1.2.2.3-Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
1. Cơ cấu tổ chức quản trị không ổn định.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T221
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là một loại cơ cấu tổ chức quản trị không có mô hình cụ thể. Cơ cấu không
ổn định dựa vào cách tiếp cận theo hoàn cảnh, cách tiếp cận ngẫu nhiên.
Cách tiếp cận này xuất phát từ quan điểm: Không có một cơ cấu tổ chức tối u cho
mọi doanh nghiệp. Cách tiếp cận này cho rằng để xây dựng cơ cấu tổ chức quản trị
phù hợp cho một doanh nghiệp phụ thuộc vào: công nghệ, tính ổn định của môi tr-
ờng và các nhân tố động khác. Theo cách tiếp cận này, các biến sau ảnh hởng tới
hình thành cơ cấu tổ chức quản trị của doanh nghiệp.
- Chiến lợc của doanh nghiệp.
- Mục tiêu của doanh nghiệp
- Tính ổn định của môi trờng.
đề nhanh chóng.
Nhợc điểm
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T2
Người lãnh đạo
tổ chức
Người lãnh đạo
tuyến sản
xuất 1
Người lãnh đạo
tuyến sản
xuất 2
1 2 1
2
23
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
- Mỗi thủ trởng phải có kiến thức toàn diện, thuộc nhiều lĩnh vực
khác nhau.
- Không tận dụng đợc các chuyên gia có trình độ cao về từng
chức năng quản trị.
- Có sự ngăn cách giữa các bộ phận khác nhau trong doanh
nghiệp và thiếu sự phối hợp giữa chúng.
- Có khó khăn trong việc khuấy động tính sáng tạo.
3. Cơ cấu tổ chức quản trị chức năng (song trùng lãnh đạo).
Đặc điểm:
- Hoạt động quản trị đợc phân thành các chức năng và mỗi chức
năng đợc giao cho một ngời quản lý.
- Những ngời thừa hành mệnh lệnh nhận đợc lệnh từ các ngời quản
trị chức năng khác nhau.
- Mệnh lệnh của thủ trởng toàn doanh nghiệp đợc truyền xuống cấp
cơ sở chủ yếu qua bộ phận quản trị chức năng.
1 2 3
25