QUẢN LÝ CHI TIÊU CÔNG - Pdf 12

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
BÀI TẬP LỚN
MÔN TÀI CHÍNH CÔNG
Đề tài: QUẢN LÝ CHI TIÊU CÔNG

Giảng viên hướng dẫn : PGS. TS. Nguyễn Hòa Nhân
Lớp : K26.TNH.ĐN2
Nhóm thực hiện : Nhóm 7
Đà Nẵng, tháng 3/2014
Nhóm 7 Trang 1
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
MỤC LỤC
1.Những vấn đề chung về NSNN và hệ thống NSNN 1
1.1 Khái niệm và bản chất Ngân sách Nhà nước 2
1.1.1. Khái niệm về NSNN 2
1.1.2. Bản chất của NSNN 3
1.1.3. Vai trò Ngân sách Nhà nước 3
1.2 Hệ thống Ngân sách Nhà nước 7
1.2.1 Khái niệm hệ thống ngân sách nhà nước 7
1.2.2. Những nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước 8
1.2.3. Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam 9
2. Chi tiêu công 12
2.1 Khái niệm 12
2.2 Phân loại chi tiêu công 12
2.3 Nhân tố ảnh hưởng chi tiêu công 14
3. Quản lý chi tiêu công 15
3.1 Công cụ quản lý chi tiêu công 15
3.2 Nội dung chi tiêu công 15
3.3 Những tiếp cận cơ bản về quản lý chi tiêu công hiện đại 32

1.1 Khái niệm và bản chất Ngân sách Nhà nước
Nhóm 7 Trang 2
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
1.1.1. Khái niệm về NSNN
- NSNN là dự toán thu - chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời
gian nhất định (thường là một năm).
Như vậy, NSNN là một kế hoạch tài chính cơ bản của quốc gia, trong đó gồm
có kế hoạch thu, kế hoạch chi và được lập theo phương pháp cân đối (thu phải đủ
chi, chi không vượt thu).
- Theo Luật ngân sách nhà nước Việt Nam thì: “NSNN là toàn bộ các
khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng ,
nhiệm vụ của Nhà nước.
Năm ngân sách hay còn gọi là năm tài chính, là giai đoạn mà trong đó, dự
toán thu - chi tài chính đã được phê chuẩn của Quốc hội có hiệu lực thi hành. Ở
tất cả các nước, năm ngân sách đều có thời hạn bằng một năm dương lịch, nhưng
thời điểm bắt đầu và kết thúc ở mỗi nước có khác nhau. Ở đa số các nước, năm
ngân sách trùng với năm dương lịch (bắt đầu ngày 1/1 và kết thúc vào ngày
31/12), như: Pháp, Bỉ, Hà Lan, Trung Quốc, Philippine, Ở các nước khác, thời
điểm bắt đầu và kết thúc năm ngân sách thường rơi vào tháng 3, 4, 6 hoặc 7 hàng
năm. Cụ thể là: Anh, Nhật, Canada, Singapore . . có năm ngân sách bắt đầu vào
ngày 1/4 năm trước và kết thúc vào ngày 31/3 năm sau; Ý, Na - Uy, Đài Loan,
ÚC có năm ngân sách bắt đầu vào ngày 1/7 năm trước và kết thúc vào ngày
30/6 năm sau; Mỹ có năm ngân sách bắt đầu vào ngày 1/10 năm trước và kết thúc
vào ngày 30/9 năm sau.
Việc quy định năm ngân sách hoàn toàn là ý định chủ quan của Nhà nước.
Tuy nhiên, ý định này cũng bắt nguồn từ những yếu tố tác động khác nhau, trong
đó có hai yếu tố cơ bản là:
- Đặc điểm hoạt động của nền kinh tế có liên quan đến nguồn thu của ngân
sách Nhà nước (chế độ kế toán, thống kê; tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp).

- Mức động viên vào ngân sách nhà nước đối với các thành viên trong
xã hội qua thuế và các khoản thu khác (có liên quan) phải hợp lý. Mức động viên
cao hay thấp đều có tác dụng tiêu cực.
- Tỉ lệ động viên vào ngân sách nhà nước đối với tổng sản phẩm quốc
nội (GDP ) vừa đảm bảo hợp lý với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vừa đảm
bảo cho đơn vị cơ sở có điều kiện tích tụ vốn để tái sả n xuất mở rộng.
- Các công cụ kinh tế được sử dụng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà
nước và thực hiện các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước.
b) Ngân sách nhà nước-công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội của nhà
nước.
Khi đề cập đến các công cụ tài chính trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền
kinh tế - xã hội , nhà nước không thể không sử dụng một công cụ rất quan trọng,
đó là ngân sách nhà nước. Bởi lẽ , phạm vi phát huy vai trò của ngân sách nhà
nước rất rộng và trên một mức độ lớn , nó tương đồng với phạm vi phát huy chức
năng và nhiệ m vụ của nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội .
Hay nói cách khác, do cơ chế thị trường cần thiết phải có sự điều chỉnh vĩ mô từ
phía nhà nước. Song, nhà nước cũng chỉ có thể thực hiện đìêu chỉnh thành công
khi có nguồn tài chính đảm bảo, tức là khi sử dụng triệt để và có hiệu quả công cụ
ngân sách nhà nước . Vai trò đìêu tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội của ngân sách
nhà nước có thể được khái quát hóa trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và thị
trường như sau :
- Về mặt kinh tế:
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng hình
thành cơ cấu kinh tế mới , kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc
quyền.
- Ngân sách nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để nhà nước đầu tư cho cơ
sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, để
Nhóm 7 Trang 5
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của

Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí,vay và chính sách chi ngân sách nhà nước có
thể điều chỉnh được giá cả, thị trường một cách chủ động.
+ Một chính sách ngân sách thắt chặt hay nới rộng đều có thể tác động
mạnh mẽ đến cung - cầu xã hội.
+ Việc huy động của ngân sách nhà nước dưới các hình thức thuế, phí, lệ
phí,vay và kể cả bảo hiểm xã hội trên GDP và GNP chiếm tỉ trọng cao thì sự cung
ứng vốn đầu tư dài hạn, vốn tiền tệ ngắn hạn của các nhà đầu tư và đầu tư của dân
sẽ giảm, vốn tự đầu tư sẽ khan hiếm hơn. Mặt khác, nó sẽ làm cho cầu về hàng
hóa, dịch vụ của dân cư giảm xuống, nhưng ngân sách nhà nước lại có điều kiện
để tăng cầu với quy mô lớn và chi cho đầu tư lớn sẽ kích thích tăng cung.
+ Ngược lại, nếu ngân sách nhà nước huy động trên GDP và GNP chiếm tỉ
trọng thấp thì nguồn tự đầu tư tăng lên, thúc đẩy tăng cung, đồng thời kích thích
tăng cầu về hàng hóa, dịch vụ, nhưng ngân sách lại không có đìêu kiện để tăng
cầu và chi cho đầu tư.
+ Trên thị trường tài chính, nhà nước vay vốn với lãi suất cao sẽ có tác
động tăng cung ứng vốn từ phía các nhà đầu tư và tiết kiệm tiêu dùng để dành cho
tương lai, đồng thời làm giảm lượng cầu về vốn đầu tư của doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế.
Ngược lại, khi lãi suất các khoản vay của nhà nước giảm xuống dưới mức
lợi tức bình quân toàn xã hội, các nhà đầu tư sẽ tìm môi trường đầu tư vào sản
xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà không muốn cho nhà nước vay.
Mặt khác , lãi suất các khoản vay của nhà nước có vị trí quan trọng trên thị
trường chứng khoán, có thể tham gia điều tiết quan hệ cung cầu trên thị trường
chứng khoán.
Nhóm 7 Trang 7
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
Ở đây cần nhấn mạnh đến dự trử nhà nước. Trong cơ chế thị trường, nhà
nước không thể bắt buộc các doanh nghiệp bán hàng theo giá cả quy định, mà
ngược lại, giá cả là do thị trường quyết định, phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu và
các yếu tố khác. Trong quá trình biến đổi của mình , sẽ có lúc giá cả lên cao, gây

hành chính đó là :
- Mô hình nhà nước liên bang.
- Mô hình nhà nước thống nhất hay phi liên bang.
Xuất phát từ đó cũng tồn tại hai mô hình tổ chức hệ thống ngân sách nhà
nước. Ở các nước có mô hình tổ chức hành chính theo thể chế nhà nước liên bang
(như: Mỹ, Đức, Canađa, Thụy Sĩ, Malaysia . . . ), hệ thống ngân sách nhà nước
được tổ chức theo 3 cấp :
- Ngân sách liên bang
- Ngân sách bang
- Ngân sách địa phương.
Hệ thống ngân sách nhà nước ở các nước có mô hình tổ chức hành chính
theo thể chế nhà nước thống nhất hay phi liên bang (như : Anh , Pháp , Ý, Nhật . .
.) bao gồm 2 cấp ngân sách:
- Ngân sách trung ương
- Ngân sách địa phương
1.2.2. Những nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước ở các nước có nền kinh tế thị trường được xậy dựng
trên cơ sở các nguyên tắc khá chặt chẽ, trong đó nổi bật lên những nguyên tắc cơ
bản sau:
- Thứ nhất, là nguyên tắc thống nhất : Nhà nước chỉ có một ngân sách tập
hợp tất cả các khoản thu và các khoản chi. Sự thống nhất của ngân sách còn thể
hiện trong sự thống nhất về hệ thống ngân sách, về các báo biểu, mẫu biểu tài
Nhóm 7 Trang 9
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
chính. Nguyên tắc thống nhất đảm bảo cho yêu cầu kiểm tra từ phía nghị viện đối
với hoạt động tài chính của chính phủ .
- Thứ hai, là nguyên tắc về sự đầy đủ và toàn bộ của ngân sách nhà nước.
Nguyên tắc này được đưa ra nhằm chống lại tình trạng để ngoài ngân sách các
khoản thu hoặc chi thuộc ngân sách nhà nước, dẫn đến tình trạng lãng phí trong
quá trình chi tiêu của chính phủ.

(1946 - l 954) mọi vấn đề huy động và chi tiêu của ngân sách nhà nước đều nhằm
mục đích phục vụ kháng chiến thắng lợi.
Đến năm 1967 chế độ phân cấp quản lý ngân sách ra đời. Hệ thống ngân
sách nhà nước bao gồm: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương (các
tỉnh, thành phố ở miền Bắc).
Năm 1978, chính phủ ra quyết định số 108/CP, ngân sách địa phương được
phân thành hai cấp: ngân sách tỉnh (thành phố), ngân sách huyện (Quận, thị xã
trực thuộc tỉnh).
Với Nghị quyết 138/HĐBT (ngày 19/11/1983), ngân sách xã được tổng
hợp vào ngân sách nhà nước và hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm 4 cấp:
- Ngân sách trung ương
- Ngân sách tỉnh, thành phố
- Ngân sách huyện (quận, thị xã )
- Ngân sách xã (phường, thị trấn)
Trong giai đoạn nền kinh tế nước ta chuyển mình sang cơ chế mới, có lúc
ngân sách huyện được thí điểm chuyển sang cấp dự toán. Vàì từ đây việc tìm
kiếm một phương án phân cấp phù hợp với tình hình thực tế mới, đáp ứng được
yêu cầu của chính quyền nhà nước các cấp bắt đầu được đặt ra. Đã có nhiều
phương án được đề xuất. Mỗi phương án đều có ưu, nhược điểm riêng của nó .
Nhóm 7 Trang 11
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
Sau nhiều lần thảo luận, cuối cùng trong kỳ họp Quốc Hội thứ 9, khóa IX (từ
ngày 02/03/1996 đến ngày 20/3/1996) đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước
ngày 20/3/1996. Luật này có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 1997. Theo tinh
thần của luật ngân sách nhà nước, hệ thống ngân sách ở nước ta bao gồm 4 cấp:
Ngân sách trung ương, ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp
xã. Đìêu này có thể được khái quát hóa bằng sơ đồ sau:
Quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc sau
đây: e lựa chọn một sô nguyên tắc đưa vào.
- Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương

- Uỷ ban nhân dân các cấp được sử dụng ngân sách cấp mình để hỗ trợ cho
các đơn vị do cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong các trường hợp:
- Khi xảy ra thiên tai và các trường hợp cấp thiết khác mà địa phương cần
khẩn trương huy động lực lượng để bảo đảm ổn định tình hình kinh tế - xã hội;
- Các đơn vị do cấp trên quản lý khi thực hiện chức năng của mình, kết hợp
thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp dưới.
2. CHI TIÊU CÔNG
2.1. Khái niệm
Chi tiêu công cộng là tổng hợp các khoản chi của chính quyền trung ương,
chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và của toàn dân khi cùng
trang trải kinh phí cho các hoạt động do Chính phủ quản lý
2.2. Phân loại chi tiêu công
2.2.1 Phân theo tính chất
Để phục vụ cho mục đích phân tích kinh tế, một cách phân loại chi tiêu
công cộng phổ biến nhất là xét xem các khoản chi tiêu đó có thực sự đòi hỏi tiêu
hao nguồn lực của nền kinh tế quốc dân hay không. Theo cách nhìn nhận này, chi
Nhóm 7 Trang 13
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
tiêu công cộng được chia làm chi tiêu hoàn toàn mang tính chất công cộng (hay
còn gọi là chi mua sắm hàng hóa dịch vụ) và chi chuyển nhượng
- Chi tiêu hoàn toàn mang tính chất công cộng là những khoản chi tiêu đòi
hỏi các nguồn lực của nền kinh tế. Việc khu vực công cộng sử dụng những nguồn
lực này sẽ loại bỏ việc sử dụng chúng vào các khu vực khác. vì thế, chi phí cơ hội
của những khoản chi tiêu công cộng này là sản lượng phải loại bỏ ở các khu vực
khác. Trong kinh tế vĩ mô, khoản chi này thường được xem là gây là hiệu ứng
làm "thoái giảm" đầu tư tư nhân. Vì thế, với một tổng nguồn lực có hạn của nền
kinh tế, vấn đề đặt ra là cân nhắc nên chi tiêu chúng vào đâu sẽ có hiệu quả nhất.
- Chi chuyển giao hay chi có tính chất phân phối lại, ví dụ như chi lương
hưu, trợ cấp, phúc lợi xã hội…Những khoản chi tiêu này không thể hiện yêu cầu
của khu vực công cộng với các nguồn lực thực của xã hội vì chúng chỉ đơn thuần

không lâu bền, thường mang tính chất lặp đi lặp lại thường xuyên qua các năm.
Thí dụ về chi thường xuyên là chi trả lương cho cán bộ công chức nhà nước, chi
bảo dưỡng và duy trì cơ sở hạ tầng.
- Chi đầu tư. Là khoản chi tiêu về mua đất, thiết bị, tài sản vật chất và vô
hình khác, trái phiếu Chính phủ, tài sản phi tài chính… có giá trị nhất định và
được sử dụng hơn một năm trong quá trình sản xuất.
2.3 Nhân tố ảnh hưởng chi tiêu công:
Dự kiến đầu tư CSHT (2011-2020) của Việt Nam
Lĩnh vực đầu tư Vốn đầu tư(tỷ doola) Trung bình/năm(tỷ đôla)
Giao thông 160 16
Điện 46,5 4,65
Thủy lợi 11,5 1.15
Cấp thoát nước 16,6 1,66
Hạ tầng GD-ĐT 8,5 0,85
Hạ tầng y tế 8,5 0,85
Thông tin và truyền thông 15 1,5
Nhóm 7 Trang 15
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
Hạ tầng đô thị và nông thôn 28,5 2,85
Tổng cộng 295,1 29,51
Sự thay đổi của chi tiêu công chủ yếu chịu sự tác động của các nhân tố:
- Sự phát triển về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế : Chính phủ ngày
càng mở rộng, phải gánh vác thêm những nhiệm vụ mới, sự can thiệp của chính phủ vào
nên kinh tế ngày được gia tăng.
- Sự thay đổi quan niệm tổng quát về tài chính công: Thay đổi từ quan niệm
tài chính công có mục đích cơ bản là cung cấp cho chính phủ đủ tiền để duy trì quản lý
hành chính, an ninh, quân đội sang quan niệm mở rộng hơn là còn là công cụ để chính
phủ quản lý kinh tế, khắc phục những khuyết tật của thị trưởng, ổn định xã hội.
- Tình hình tài chính-KTXH của đất nước: Tình hình kinh tế của quốc gia có
ảnh hưởng rất lớn tới chi tiêu công . Đối với những nước nghèo nàn, cơ sở hạ tầng còn

chi về tiêu dùng xã hội.
3.2 .1.1. Chi sự nghiệp
Chi sự nghiệp là những khoản chi cho các dịch vụ và hoạt động xã hội
phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và nâng cao dân trí của dân cư. Theo
tính chất hoạt động của các ngành, chi sự nghiệp bao gồm các khoản: chi sự
nghiệp kinh tế, chi nghiên cứu khoa học, sự nghiệp giáo dục đào tạo, sự nghiệp y
tế, sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, thể thao và sự nghiệp xã hội. Như vậy về mặt
nội dung, chi sự nghiệp gồm chi bảo đảm các hoạt động sự nghiệp và chi có tính
chất trợ cấp cho các đối tượng xã hội nhất định. Đây là khoản chi quan trọng,
nhu cầu chi rất lớn.Các khoản chi này cần thiết để bảo đảm quá trình tái sản xuất
được kết hợp với sức lao động có chất lượng cao. Sự phát triển của sản xuất và
khoa học kỹ thuật luôn đòi hỏi ở người lao động phải có một trình độ văn hóa,
Nhóm 7 Trang 17
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
chuyên môn nhất định. Do đó, sự tham gia của Nhà nước trong cấp phát tài chính
cho hoạt động sự nghiệp mang ý nghĩa kinh tế và xã hội. Ý nghĩa kinh tế xã hội
của khoản chi chi này thể hiện ở chỗ nó tác động đến quá trình tái sản xuất mở
rộng và quá trình tạo ra thu nhập quốc dân. Thực hiện các khoản chi sự nghiệp sẽ
tạo ra các điều kiện để nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật và sức khỏe của người
lao động, phát triển sức sản xuất và đó là cơ sở nâng cao năng suất lao động và
hiệu suất công tác. Như vậy mặc dù chi sự nghiệp không mang tính chất sản xuất
nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nền sản xuất xã hội và phát huy tác dụng
lâu dài đối với sản xuất. Xét về ý nghĩa xã hội, khoản chi sự nghiệp từ NSNN cho
những mục đích nhất định góp phần nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của
các tầng lớp dân cư.
a. Chi sự nghiệp kinh tế
Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế nhằm phục vụ cho yêu cầu sản
xuất kinh doanh, quản lý kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt
động thuận lợi. Mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế không phải
là kinh doanh lấy lãi, do đó áp dụng chế độ cấp phát như các đơn vị dự toán và

- Chi cho các chương trình khoa học, công nghệ cấp nhà nước.
- Các khoản chi khác về khoa học và công nghệ.
- Để thích ứng với sự phát triển khoa học và công nghệ trong điều kiện cơ
chế kinh tế mở, chi về khoa học và công nghệ từ NSNN đang được thực hiện đổi
mới thco hướng:
- Tăng mạnh đầu tư cho khoa học và công nghệ từ nhiều nguồn vốn như:
vốn của ngân sách nhà nước, vốn của các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế, vốn hình thành bới các khoản thu từ sản xuất kinh doanh các sản phẩm và
dịch vụ được tạo ra từ nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, từ hợp đồng
Nhóm 7 Trang 19
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
nghiên cứu khoa học, viện trợ hợp tác khoa học với nước ngoài. . . Trong đó
nguồn vốn của ngân sách nhà nước là chủ yếu.
- Đầu tư cho khoa học và công nghệ được tập trung đối với những chương
trình trọng điểm của nhà nước đã được phê duyệt trong từng giai đoạn nhất định.
- Lập các quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các bộ, tỉnh, thành phố
để chi cho các đề tài, nhiệm vụ khoa học và công nghệ của ngành, địa phương.
c. Chi về sự nghiệp giáo dục, đào tạo
Đây là một trong những khoản chi trong chi thường xuyên mà tầm quan
trọng của nó gắn liền với ý nghĩa của hoạt động giáo dục, đào tạo trong quá trình
phát triển tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển kiến thức khoa học và kỹ năng của
người lao động phục vụ cho mục đích tăng trưởng kinh tế. Trong cơ chế thị
trường hiện nay ở Việt Nam, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đang phát triển theo
hướng xã hội hóa và đa dạng hóa mục tiêu, chương trình, loại hình trường lớp và
các loại hình giáo dục, đào tạo nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí của toàn
thể dân cư trong xã hội. Điều này được thể hiện ở chỗ bên cạnh các trường công,
đã phát triển dạng trường bán công, trường dân lập ở tất cả các cấp trong hệ thống
giáo dục quốc dân, phát triển các loại hình đào tạo đa dạng như hệ bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn, hệ đào tạo tập trung, ngắn hạn, hệ hợp đồng, hệ
đào tạo từ xa. . . Do đó, nguồn tài chính chi cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo bao

của hệ thống các bệnh viện, bệnh xá, nhà điều dưỡng . . .
- Chi cho các chương trình trọng điểm của ngành y tế.
- Chi sự nghiệp y tế khác.
Trong điều kiện xóa bỏ sự bao cấp của ngân sách nhà nước đối với hoạt
động sự nghiệp văn xã trong đó có sự nghiệp y tế và tăng cường sử dụng có hiệu
quả kinh phí cấp cho ngành y tế xu hướng chung là nhà nước chỉ cấp phát kinh
phí cho các hoạt động phòng chống các bệnh dịch, thực hiện các chương trình
Nhóm 7 Trang 21
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
trọng điểm của ngành và chi về chữa bệnh cho những đối tượng đặc biệt. Các
trường hợp còn lại sẽ huy động sự đóng góp của người bệnh. Hiện nay huy động
nguồn vốn để phát triển sự nghiệp y tế nhà nước còn thực hiện bằng chế độ bảo
hiểm y tế và áp dụng từ năm 1993. Đây là hình thức huy động phí bảo hiểm cá
nhân để hình thành quỹ hảo hiểm y tế nhằm thanh toán chi phí cho người bệnh có
đóng bảo hiểm y tế khi đến khám, chữa bệnh tại các cơ sớ y tế, chữa bệnh theo
hợp đồng giữa cơ quan bảo hiểm y tế và cơ sở khám, chữa bệnh.
e. Chi sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, thể thao
Sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, thể thao là một lĩnh vực hoạt động mang tính
phong phú, đa dạng và phức tạp. Mục tiêu của các hoạt động này nhằm nâng cao
tri thức và thẩm mỹ cho mọi tầng lớp dân cư, nhằm xây dựng nền văn hóa có nội
dung phong phú, lành mạnh, dân chủ và tiến bộ, phát triển đạo đức xã hội và
truyền thống dân tộc. Các mục tiêu đó cho phép mỗi công dân có thể phát triển
toàn diện về chính trị, tư tưởng và đạo đức. Việc thực hiện các mục tiêu nêu trên
luôn gắn liền với các khoản chi cho sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, thể thao. Cụ
thể:
- Chi cho hệ thống bảo tồn, bảo tàng, thư viện.
- Chi cho hệ thống phát thanh, truyền hình và các hoạt động thông tin khác.
- Chi cho các hoạt động biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác.
- Chi thực hiện trùng tu các di tích lịch sử đã được xếp hạng.
- Chi về sự nghiệp thể dục thể thao.

- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp;
Chi quản lý nhà nước là khoản chi cho tiêu dùng nhưng có ảnh hưởng nhất
định đến sự hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội và có
tác dụng tham gia kiểm tra các hoạt động trong toàn bộ xã hội. Thực hiện yêu cầu
Nhóm 7 Trang 23
Chương IV: Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
hiệu quả, tiết kiệm trong chi quản lý nhà nước đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ các
biện pháp:
- Hoàn thiện mạng lưới bộ máy quản lý Nhà nước .
- Nâng cao chất lượng cán bộ quản lý.
- Hợp lý hóa tổ chức lao động và sử dụng hệ thống cơ giới hóa, tự động hóa
trong quản lý các công việc hành chính.
3.2 .1.3. Chi quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Chi cho Quốc phòng và an ninh thuộc vào lĩnh vực chi cho tiêu dùng xã hội.
Đây là những hoạt động bảo đảm sự tồn tại của nhà nước và cần thiết phải cấp
phát tài chính cho các nhu cầu về quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội từ
ngân sách nhà nước. Căn cứ theo mục đích sử dụng, khoản chi tài chính này được
phân thành hai bộ phận cơ bản. Bộ phận thứ nhất gồm các khoản chi cho quốc
phòng để phòng thủ và bảo vệ nhà nước, chống sự xâm lược, tấn công và đe dọa
từ nước ngoài. Bộ phận thứ hai gồm các khỏan chi được hướng vào bảo vệ và
giữ gìn chế độ xã hội, an ninh của dân cư trong nước. Xét về nội dung, chi quốc
phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được hợp thành bởi:
- Chi đảm bảo đời sống vật chất tinh thần, chính sách cho toàn quân và lực
lượng công an nhân dân.
- Chi về đào tạo huấn luyện, nghiên cứu khoa học.
- Chi mua sắm trang thiết bị, vũ khí và các phương tiện quân sự cho toàn quân
và lực lượng công an nhân dân.
- Xây dựng mới, sửa chữa các công trình đặc biệt, các công trình chiến đấu,
doanh trại, trụ sở làm việc, kho tàng của cơ quan quân sự từ cấp huyện trở lên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status