Bài giảng môn tiền tệ ngân hàng - Pdf 12

Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
http://www.ebook.edu.vn
-1-
Chương I
TIỀN TỆ VÀ LƯU THÔNG TIỀN TỆI. NGUỒN GỐC RA ĐỜI VÀ CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ
1. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ
Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất
và lưu thông hàng hoá. Trong thời kỳ đầu của chế độ công xã nguyên thuỷ, với công
cụ lao động thô sơ, con người tự cung cấp cho nhau số sản phẩm ít ỏi kiếm
được từ săn
bắn, hái lượm. Khi đời sống cộng đồng ngày càng phát triển, ý thức phân công lao
động được hình thành và lượng sản phẩm dư thừa đã làm nảy sinh quan hệ trao đổi
giữa các thị tộc. Tuy nhiên, trong giai đoạn này trao đổi chỉ mang tính chất ngẫu nhiên
và được thực hiện bằng cách trao đổi sản phẩm trực tiếp.
Cùng với sự chuyên môn hoá lao động phát triển và quá trình phân công lao
động xã hội ngày một sâu hơn, nhu cầ
u trao đổi hàng hoá ngày càng nhiều và mở rộng,
việc trao đổi trực tiếp gây khó khăn cho việc lưu thông hàng hoá đòi hỏi phải có một
“vật ngang giá chung” làm trung gian cho trao đổi. Vật ngang giá chung là những hàng
hoá có thể trao đổi trực tiếp với nhiều hàng hoá thông thường khác. Ban đầu, vật trung
gian được lựa chọn từ những hàng hoá mang nét đặc trưng phổ biến của vùng, lãnh
thổ…Khi kinh tế phát triển, nhu cầu trao đổi ngày càng mở rộng không chỉ diễn ra
trong phạm vi vùng, lãnh thổ mà còn vượt ra khỏi vùng, lãnh thổ đó thì quá trình trao
đổi gặp khó khăn khi mỗi địa phương có một vật trung gian khác nhau. Để khắc phục
tình trạng này, cần có một vật ngang giá chung duy nhất làm trung gian cho quá trình
trao đổi. Vật ngang giá chung đó chính là tiền tệ.
Có thể nói, sự ra đời của vật trung gian trao đổi đánh dấu giai đoạn mở đầu cho
sự xuất hiện của tiền tệ, đồng thời là bước chuy

các chứng chỉ tiền gửi do ngân hàng phát hành để huy động tiền gửi của xã hội, được
sử dụng làm phương tiện thanh toán ở các nước Châu Âu. Đến thế kỷ XVI-XVII, nó
được thay thế bằng giấy bạc c
ủa ngân hàng phát hành, loại giấy bạc này được đảm bảo
bằng vàng và được lưu hành song song với tiền đúc bằng vàng của nhà nước. Đến đầu
thế kỷ XX, giấy bạc ngân hàng thay thế hoàn toàn cho các kim loại quý như bạc và
vàng. Ngày nay, tiền giấy được sử dụng làm phương tiện trao đổi ngày càng phổ biến
vì những tiện lợi như dễ mang theo trong người, dễ cất trữ. Mặt khác, việc in tiền vớ
i
nhiều mệnh giá khác nhau tạo thuận lợi cho quá trình trao đổi hàng hoá. Tuy nhiên
việc lưu thông tiền giấy dễ rơi vào tình trạng bất ổn vì việc điều chỉnh cho nó phù hợp
với nhu cầu trao đổi hàng hoá là cả một nghệ thuật phức tạp.
Cùng với việc phát triển mạnh mẽ của ngân hàng, quá trình thanh toán của nền
kinh tế được tập trung phần lớn qua hệ thống ngân hàng thông qua các bút toàn chuyển
khoản ho
ặc thanh toán bù trừ trên tài khoản ký thác. Sự ra đời của tiền ghi sổ, còn gọi
là bút tệ, cùng với các chứng từ thanh toán như séc, giấy nhờ thu…đã làm đa dạng các
phương tiện thanh toán bên cạnh các hình thức thanh toán bằng tiền mặt, đồng thời còn
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
http://www.ebook.edu.vn
-3-
tạo điều kiện giảm bớt những chi phí lưu hành tiền giấy như in ấn, bảo quản, kiểm
đếm, vận chuyển. Vì vậy, việc sử dụng tiền qua ngân hàng được coi là xu hướng phát
triển tất yếu của nền kinh tế phát triển.
Hơn nữa, trong thời đại mà những tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng đi sâu
vào đời sống kinh tế xã hội thì việc sử
dụng những loại thẻ thanh toán trở nên được ưa
chuộng vì người ta có thể thanh toán ngay, giảm thiểu thời gian luân chuyển chứng từ
qua ngân hàng hoặc ghi chép chứng từ thanh toán. Loại tiền điện tử này cho phép giảm
tối đa việc sử dụng tiền mặt trong lưu thông và khắc phục những hạn chế của hệ thống

-4-
chỉ trở thành tiền tệ trong những điều kiện lịch sử nhất định. Trước khi trở thành tiền
tệ và sau khi được thừa nhận đóng vai trò là tiền tệ thì vàng vẫn giữ nguyên bản chất là
hàng hóa. Cho đến bây giờ, những quan điểm của K.Marx vẫn mang giá trị lý luận rất
lớn để chúng ta nghiên cứu về tiền.
Ngày nay, cùng với việc phát triển các phương tiện trao đổi, thanh toán, khi đề
cập đến tiền người ta không nhìn nó một cách giản đơn cho rằng tiền chỉ là kim loại
quý hay chỉ là tiền giấy. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại (đại diện là
P.A Samuelson): “Bản chất của tiền tệ ngày nay đã được phơi bày rõ ràng, người ta
muốn có tiền tệ với danh nghĩa là tiền chứ không phải là hàng hoá, không phải vì bản
thân nó mà là vì những thứ mà có thể dùng nó để mua được”. Như v
ậy, họ cho rằng,
tiền tệ là tất cả các phương tiện thanh toán có thể được chấp nhận làm trung gian trao
đổi và được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất và trao đổi phát
triển như hiện nay, tiền tệ không chỉ đơn thuần là phương tiện trao đổi mà có thể sử
dụng tiền để đầu tư, cho vay và tích luỹ, sở hữu.
Theo những phân tích trên, một định nghĩ
a về tiền được hiểu đầy đủ như sau:
Tiền tệ là tất cả các phương tiện có thể đóng vai trò trung gian trao đổi được pháp luật
thừa nhận và người sở hữu nó sử dụng để phục vụ cho những nhu cầu trong đời sống
kinh tế xã hội.
Bản chất của tiền được thể hiện rõ hơn thông qua các chức năng của nó.
3. Chức năng củ
a tiền tệ
Theo K.Marx, vàng trong vai trò là vật ngang giá chung là hàng hoá tiền tệ và
ông đã nêu 5 chức năng của tiền tệ là:
- Chức năng thước đo giá trị
- Chức năng phương tiện lưu thông
- Chức năng phương tiện cất trữ
- Chức năng phương tiện thanh toán

động của người sản xuất được xã hội thừa nhận, đó là vấn đề sống còn của doanh
nghiệp. Giai đoạn H-T là giai đoạn mua hàng, thông thường giai đoạn này được tiến
hành dễ dàng. Hai giai đoạn này được tiến hành độc lập tương đối với nhau, dẫn
đến
phương tiện làm trung gian trao đổi lại trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và
được mọi người sùng bái. Chính sức mua đồng tiền quyết định điều này.
Thứ hai, hành vi mua và bán có thể tách rời về không gian và thời gian. Người
sản xuất hàng hoá có thể bán ở chỗ này và mua ở chỗ khác, bán lúc này và mua lúc
khác một cách chủ động và linh hoạt.
Như vậy, thực hiện chức năng phương tiện trao đổi, tiền tệ đã góp ph
ần nâng
cao hiệu quả của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch, đẩy nhanh tốc
độ lưu thông hàng hoá.
Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền tệ phải có những điều kiện
nhất định:
Có thể sử dụng tiền dấu hiệu, mục đích của bán hàng không phải để trở thành
người sở hữ
u tiền tệ vĩnh viễn mà là để thực hiện việc mua bán hàng hoá, đạt đến một
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
http://www.ebook.edu.vn
-6-
giá trị sử dụng mới. Tiền tệ lúc này chỉ là môi giới trung gian, không phải là mục đích
của trao đổi. Do đó, thực hiện chức năng phương tiện lưu thông có thể sử dụng tiền đủ
giá (tiền vàng) hoặc tiền dấu hiệu (tiền giấy và các dấu hiệu giá trị khác).
Lưu thông chỉ chấp nhận một lượng tiền nhất định, muốn tiền tệ thự
c hiện tốt
chức năng phương tiện lưu thông đòi hỏi hệ thống tiền tệ mỗi quốc gia phải sức mua
ổn định, số lượng tiền tệ để thực hiện các quan hệ trao đổi phải đủ liều lượng để đáp
ứng nhu cầu trao đổi của mọi hoạt động kinh tế. Điều này có nghĩa là lượng tiền đưa
vào lưu thông phải phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế, nếu yêu cầu này không thoã

-7-
Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện tích luỹ giá trị khi tiền tệ tạm thời rút
khỏi lưu thông và trở về trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu tiêu dùng trong tương
lai.
Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường tích luỹ dưới dạng hiện vật. Hình
thức này không tiện lợi vì phải có chỗ rộng rãi, phải tốn chi phí bảo quản, dễ hư h
ỏng,
khó lưu động và ít sinh lời. Ở chế độ lưu thông tiền kim loại, người ta có quan niệm
tích luỹ tiền tệ (tiền đúc bằng kim loại quý) như một dạng của cải xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển, khi các doanh nghiệp muốn đầu tư mở
rộng sản xuất kinh doanh, khi tầng lớp dân cư có nhu cầu mua sắm những hàng hoá,
tài sản có giá trị cao người ta th
ường tích luỹ dưới dạng tiền giấy hoặc số dư trên tài
khoản tiền gửi ở ngân hàng. Trong thực tế, việc cất trữ có thể thực hiện bằng nhiều
phương tiện khác như cổ phiếu, đất đai, nhà cửa…đặc biệt trong điều kiện lạm phát,
việc cất giữ các phương tiện trên có thể đề phòng sự giảm sức mua của đồng ti
ền.
Song khi thực hiện chức năng này thì dự trữ tiền đã tạo một khả năng có thể chuyển
đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản khác. Vì vậy, việc lựa chọn phương tiện nào
để dự trữ còn tuỳ thuộc vào việc sử dụng nó trong ngắn hạn hay dài hạn và chi phí để
chuyển đổi từ phương tiện đó sang hàng hoá theo nhu cầu của người sở hữu.
Ngày nay, việc dự tr
ữ giá trị có thể được thực hiện bằng nhiều phương tiện khác
nhau và các phương tiện chuyển tải giá trị phải thoả mãn các điều kiện sau:
- Giá trị dự trữ phải được thể hiện bằng những phương tiện hiện thực
- Giá trị dự trữ phải bằng những phương tiện được xã hội thừa nhận
- Giá trị dự trữ phải có thời hạn
II. CHẾ ĐỘ LƯU THÔNG TIỀN TỆ
1. Khái niệm chế độ lưu thông tiền tệ
Lưu thông tiền tệ là sự vận động của tổng giá trị tiền tệ so với tổng giá cả hàng

Chế độ song bả
n vị là chế độ tiền tệ mà vàng và bạc đều được sử dụng với tư
cách là tiền tệ. Vàng và bạc đều là vật ngang giá, đều thực hiện chức năng thước đo giá
trị và phương tiện lưu thông với quyền lực ngang nhau.
Trong chế độ song bản vị có phân biệt 2 loại bản vị:
- Bản vị song song: là bản vị mà theo đó tiền vàng và tiền bạc lưu thông trên thị
trường theo giá trị thực tế của nó, nhà nước không can thiệp. Từ đó xuất hiện 2 thước
đo giá trị và trong 1 nước có 2 hệ thống giá cả: hệ thống giá cả theo vàng và hệ thống
giá cả theo bạc. Hai hệ thống này luôn thay đổi.
- Bản vị kép: là song bản vị nhưng tiền vàng và tiền bạc lưu thông trên thị
trường theo tỷ giá được nhà nước quy định (tỷ giá pháp định). Việc quy định tỷ
giá
nhằm khắc phục những rối loạn của chế độ bản vị song song. Tuy nhiên, chính tỷ giá
pháp định lại sinh ra một rối loạn khác trong lưu thông tiền tệ: hiện tượng tiền xấu
đuổi tiền tốt ra khỏi lưu thông. Vì vậy, tiền vàng biến khỏi lưu thông và trở thành
thước đo giá trị, còn tiền bạc thì tràn đầy trong lưu thông. Đến giai đoạn này, chế độ
song b
ản vị không còn tồn tại nữa mà chuyển sang chế độ bản vị vàng.
2.1.3. Chế độ bản vị vàng
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
http://www.ebook.edu.vn
-9-
Là chế độ tiền tệ điển hình của chủ nghĩa tư bản. Trong chế độ này, 1 lượng
vàng nhất định được nhà nước quy định làm tiêu chuẩn giá cả.
Chế độ bản vị vàng có 3 đặc điểm:
- Tiền vàng được đúc tự do theo tiêu chuẩn giá cả mà Nhà nước quy định và
được thanh toán không hạn chế.
- Tiền giấy được tự do đổi lấy tiền vàng theo giá trị danh nghĩa c
ủa tiền giấy
nghĩa là đổi ngang giá. Từ đó sức mua của tiền giấy sẽ ổn định, đây là điều kiện quan

http://www.ebook.edu.vn
-10-
Có 2 chế độ lưu thông tiền giấy:
- Chế độ lưu thông tiền giấy khả hoán: Đây là loại tiền giấy được chuyển đổi ra
vàng 1 cách tự do và không hạn chế số lượng.
- Chế độ lưu thông tiền giấy bất khả hoán: Là tiền giấy không chuyển đổi được
ra vàng.
III. QUY LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ
1. Tính chất của quy luật
Quy luật lưu thông tiền tệ do K.Marx nghiên cứ
u và phát hiện, làm nền tảng lý
luận trong nghiên cứu tiền tệ ngày nay và trong điều hành chính sách tiền tệ. Theo
ông, trong lưu thông, sự vận động của hàng hoá và sự vận động của tiền tệ giữ những
vai trò khác nhau hoàn toàn.
Hàng hoá vận động để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội và con người.
Sự vận động đó là tương đối bất biến từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vự
c tiêu dùng. Còn
tiền tệ vận động là để phục vụ cho sự vận động của sản phẩm hàng hoá dịch vụ. Vì
vậy, nó luôn luôn vận động và tồn tại mãi trong lưu thông để phục vụ cho sự luân
chuyển của sản phẩm xã hội.
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật kinh tế phổ biến, hoạt động trong bất kỳ
một nền kinh tế, xã hội nào nếu ở
đó còn tồn tại kinh tế hàng hoá, tồn tại tiền tệ và lưu
thông tiền tệ.
2. Nội dung của quy luật
Có thể nói, quy luật lưu thông tiền tệ chứa đựng 2 nội dung cơ bản:
Thứ nhất, phản ánh mối quan hệ có tính quy luật giữa quy luật lưu thông hàng
hoá với tiền tệ và lưu thông tiền tệ. Trong đó sản xuất lưu thông hàng hoá bao giờ
cũng vai trò cơ sở, quy
ết định còn tiền tệ và lưu thông tiền tệ có tác động ngược trở lại

chậm của những quá trình ngược nhau của lưu thông hàng hoá, tuỳ theo tốc độ này mà
một bộ phận lớn hay nhỏ trong tổng số giá cả có thể được thực hiện với cùng một đồng
tiền.
K.Marx cho rằng lưu thông tiền tệ là: “quy luật theo đó số lượng các phương
tiện lưu thông được quyết định bởi tổng số giá cả các hàng hoá đang lưu thông và tốc
độ lưu thông trung bình của tiền” Quy luật ấy còn có thể diễn đạt như sau: Với một
tổng số giá trị hàng hoá nhất định và với m
ột tốc độ trung bình nhất định của những sự
biến đổi hình thái của các hàng hoá, thì số lượng tiền hay vật liệu tiền đang lưu thông
sẽ phụ thuộc vào bản thân của giá trị vật liệu này. Từ quy luật trên, có thể rút ra những
kết luận quan trọng sau đây:
Một là: Số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông (nhu cầu tiền tệ) được quyết
đị
nh bởi 3 yếu tố:
- Tổng số lượng hàng hoá dịch vụ;
- Mức giá cả;
- Tốc độ lưu thông tiền tệ
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
http://www.ebook.edu.vn
-12-
Trong đó nhu cầu tiền tệ biến đổii tỷ lệ thuận với hai yêú tố đầu và tỷ lệ nghịch
với yếu tố thứ ba.
Hai là, số lượng tiền tệ trong lưu thông có ảnh hưởng ngược trở lại với mức giá
cả hàng hoá.
Từ sự phân tích nói trên, nội dung của quy luật lưu thông tiền tệ cho rằng khối
lượng tiền cần thiết cho lưu thông trong mộ
t thời gian nhất định phụ thuộc vào tổng
giá cả của hàng hoá được sản xuất đưa vào lưu thông và tốc độ lưu thông tiền tệ trong
thời gian đó.
Công thức: M

* Mức cầu giao dịch
Là nhu cầu tiền tệ với tư cách là phương tiện trao đổi nhằm phục vụ cho nhu
cầu giao dị
ch hàng ngày của các chủ thể trong xã hội như mua hàng, trả công, trả
lương, thanh toán nợ…Mức cầu giao dịch chịu tác động bởi 3 nhân tố cơ bản:
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
http://www.ebook.edu.vn
-13-
- Chi phí giao dịch liên quan đến việc mua bán các tài sản sinh lời khi cần thiết.
Chi phí này càng cao mức cầu tiền giao dịch càng lớn.
- Mức lãi suất ròng (chi phí cơ hội) phải trả khi nắm giữ tiền. Nếu chi phí cơ hội
của việc nắm giữ tiền tăng lên thì mức cầu tiền giao dịch giảm.
- Mức thu nhập. Nhu cầu chi tiêu tăng lên cùng với sự tăng lên của thu nhập
định kỳ.
* Mức cầ
u tiền dự phòng
Là nhu cầu tiền nhằm đáp ứng các khoản chi tiêu không dự tính trước được khi
có các nhu cầu đột xuất như ốm đau, hỏng xe, tai nạn hoặc giá cả tăng…Mức cầu tiền
dự phòng chịu tác động của các nhân tố như:
- Tính lỏng của các tài sản tài chính. Nếu các tài sản tài chính được nắm giữ với
tính lỏng cao thì nhu cầu tiền dự phòng giảm xuống và ngược lạ
i.
- Sự biến động của các chính sách vĩ mô, môi trường kinh tế, thất nghiệp cũng
ảnh hưởng đến nhu cầu tiền dự phòng.
* Mức cầu tiền đầu tư
Là lượng tiền cần nắm giữ nhằm quản lý tài sản một cách linh hoạt và có hiệu
quả trên cả hai góc độ: tối đa hoá lợi nhuận và an toàn.
Nhu cầu về tiền tệ để phục vụ cho nhu cầu đầ
u tư phụ thuộc vào 2 nhân tố quan
trọng là:

- Tiền mặt trong lưu thông
- Tiền gửi không kỳ hạn
Đây là một bộ phận tiền tệ có tính lỏng cao nhất và sử dụng chủ yếu cho nhu
cầu giao dịch hàng ngày. Kết cấu M
1
gần như giống nhau giữa các nước (trừ trường
hợp ở Mỹ, M
1
còn bao gồm séc du lịch). Sự khác nhau bắt đầu được thể hiện trong kết
cấu của khối tiền M
2
trở đi và khối tiền càng rộng thì tính lỏng càng giảm.
* Khối M
2
bao gồm:
- M
1

- Tiền gửi tiết kiệm (tiền gửi có kỳ hạn)
So sánh tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi không kỳ hạn cho thấy tính thanh khoản
của hai loại tài sản này là khác nhau, người gửi tiền phải trả chi phí tài chính hoặc chi
phí thời gian cho tiền gửi tiết kiệm trong trường hợp rút tiền trước hạn, do vậy, tính
thanh khoản của tiền gửi tiết kiệm là thấp hơn tiền gử
i không kỳ hạn.
- Hợp đồng tín dụng ngắn hạn
* Khối M
3
bao gồm:
- M
2

và hàng trong nền kinh tế, sự mất cân đối khiến cho giá cả tăng lên nhanh ở mọi lúc
mọi nơi.
Từ những quan điểm trên có thể đưa ra một khái niệm về lạm phát như sau:
Lạm phát là hiện tượng kinh tế khi trong lĩnh vực lưu thông tràn ngập khối
lượng tiền thừa, làm cho tiền tệ
ngày càng bị mất giá so với toàn bộ sản phẩm, hàng
hóa, vàng, ngoại tệ và được đo lường bằng chỉ số giá cả tổng quát ngày càng tăng.
2. Đo lường lạm phát
Vì sự thay đổi giá cả hàng hoá và dịch vụ không đều nhau, có mặt hàng tăng giá
nhanh, một số khác tăng chậm thậm chí có mặt hàng giảm giá, nên để đo lường lạm
phát có thể đo lường qua các chỉ số sau:
2.1. Chỉ số giá tiêu dùng xã hội (CPI)
(Consumer Price Index): (CPI là chỉ số
được sử dụng một cách phổ biến trong việc đánh giá mức độ lạm phát)
CPI đo lường mức giá bình quân của một nhóm hàng hoá và dịch vụ cần cho
tiêu dùng của các hộ gia đình trong một giai đoạn nhất định. Người ta thường chọn
một rổ hàng tiêu dùng có chia các nhóm: áo quần, nhà cửa, chất đốt, vận tải, y tế…và
xác định mức độ quan trọng của từng nhóm hàng trong tổng chi tiêu
để làm căn cứ
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
http://www.ebook.edu.vn
-16-
tính chỉ số giá bình quân. Vào đầu kỳ tính CPI thì các số liệu về giá cả hàng hoá, dịch
vụ cần thiết được thu thập và sau đó chỉ số CPI được tính bằng cách so sánh giá trị
hiện tại và giá trị gốc của rổ hàng hoá, dịch vụ được lựa chọn.
Ở Việt Nam, CPI được tính cho toàn quốc và cho từng địa phương, chỉ số giá
bình quân được thông báo hàng tháng, hàng quý và hàng năm. Hiện nay để tính CPI,
một rổ hàng hoá được lự
a chọn bao gồm 400 mặt hàng được phân thành 138 nhóm cấp
4, 86 nhóm cấp 3, 35 nhóm cấp 2 và 10 nhóm cấp 1. Quyền số gốc để tính mức giá

giai đoạn cực kỳ hỗn loạn, bất ổn định kinh tế xã hội và đời sống nhân dân.
2. Về mặt định tính
- Lạm phát thuần túy: đây là trường hợp đặc biệt của lạm phát, hầu như giá cả
của mọi loại hàng hóa đều tăng lên cùng một tỷ lệ trong cùng một đơn v
ị thời gian.
- Lạm phát cân bằng: là loại lạm phát có mức giá chung tăng tương ứng với
mức tăng thu nhập.
- Lạm phát được dự đoán trước: là lạm phát mà mọi người có thể dự đoán trước
nhờ vào sự diễn tiến liên tục theo chuỗi thời gian trong nhiều năm.
- Lạm phát không được dự đoán trước: là lạm phát xảy ra bất ngờ, ngoài sự tiên
liệu của mọ
i người về quy mô, cường độ cũng như mức độ tác động.
- Lạm phát cao và lạm phát thấp: theo quan điểm của Gary Smith thì lạm phát
cao là mức lạm phát mà tỷ lệ tăng thu nhập tăng thấp hơn tỷ lệ lạm phát. Ngược lại
lạm phát thấp là mức tăng thu nhập tăng tăng cao hơn mức độ tăng của tỷ lệ lạm phát.
III. NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA L
ẠM PHÁT
1. Nguyên nhân của lạm phát
Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến lạm phát và mỗi loại lạm phát được xuất
phát từ những nguyên nhân khác nhau. Các nguyên nhân này có thể xuất phát từ phía
tổng cầu trong nền kinh tế, cũng có thể là các nguyên nhân xuất phát từ phía cung, và
cũng có thể chúng xuất hiện đồng thời có cả phía cung lẫn phía cầu. Trong khi quan
sát thực tế có thể nhận thấy rằng, trong môi trường đang có lạm phát thì bản thân môi
trường đ
ó nó cũng có khả năng và là nguyên nhân thúc đẩy hoặc tiếp tục gây ra một
chu trình lạm phát mới, tức là tạo sự lẫn quẩn trong vòng xoáy lạm phát. Dù có sự
khác nhau, nhưng tựu trung lại thì những nguyên nhân của lạm phát có thể được xếp
vào các nhóm chủ yếu sau:
1.1. Lạm phát do cầu kéo (Demand pull inflation)
Nguyên nhân này xảy ra khi tổng cầu trong nền kinh tế cao hơn tổng cung

nhiều hơn, do công tác quảng cáo giới thiệu tốt hơn.
+ Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ, làm lãi suất
giảm, các doanh nghiệp vay tiền đầu tư nhiều hơn, bên cạnh đó dân chúng hạn chế gửi
tiền vào ngân hàng mà rút ra mua hàng hóa hay đầu tư vào chứng khoán, cũng tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp mở
rộng đầu tư.
Đó là một số nhân tố gây lạm phát xuất phát từ phía tổng cầu trong nền kinh tế,
tiếp theo chúng ta sẽ bàn đến lạm phát do chi phí đẩy.
1.2. Lạm phát do chi phí đẩy (Cost push inflation)
Lạm phát loại này xuất hiện khi chi phí đầu vào cho sản xuất tăng hoặc năng
lực sản xuất của nền kinh tế giảm sút.
Chi phí đầu vào tăng có thể do giá các nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất
tăng.
Điều kiện khai thác khó khăn hơn đòi hỏi nhiều chi phí hơn, thiên tai làm mất
mùa, lụt bão, động đất làm giảm năng lực sản xuất, khủng hoảng ngành dầu mỏ do các
liên minh dầu mỏ tăng giá hoặc chiến tranh làm tăng giá. Khi giá dầu tăng làm tăng chi
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
http://www.ebook.edu.vn
-19-
phí trong ngành năng lượng, từ đó làm tăng chi phí đầu vào trong các ngành khác. Các
chi phí sản xuất tăng làm tăng giá thành sản phẩm và buộc doanh nghiệp tăng giá bán
để bù đắp chi phí. Giá bán của các hàng hoá tăng - tạo lạm phát. Nhưng mặt khác giá
bán tăng kéo dài, theo quy luật cung cầu sẽ làm tổng cầu giảm xuống, các doanh
nghiệp sẽ cắt giảm sản xuất, sa thải công nhân. Hậu quả dẫn đến cho nền kinh tế lúc
này là vừa có lạm phát lại vừa b
ị suy thoái.
Nếu lạm phát do cầu kéo ở mức vừa phải là một điều kiện rất tốt cho nền kinh
tế, nó sẽ kích thích đầu tư mở rộng sản xuất, người ta còn ví nó như một chất dầu mở
dùng để bôi trơn cho bộ máy kinh tế. Nhưng lạm phát chi phí đẩy thì dù bất kỳ mức độ
nào cũng đều không tốt, vì bản thân nó đã mang trong mình sự suy thoái kinh tế. Cùng

biến động của thị trường nguyên vật liệu, nhiên liệu trên thế giới…
- Những nguyên nhân khác liên quan đến nội tại của đất nước như: chiến tranh,
nội chiến, khủng hoảng chính trị làm cho đồng tiền không còn giữ được chức năng
thước đo giá trị.
2. Hậu quả của lạm phát
Tác động kinh tế - xã hội của lạm phát r
ất khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ lạm
phát, khả năng dự đoán chính xác sự biến động của mức lạm phát. Khi giá cả có xu
hướng tăng lên từ thời gian này qua thời gian khác, mọi người đều nhận thức được
thực tế đó và cố gắng dự đoán tỷ lệ lạm phát trong thời gian tới. Tỷ lệ mà mọi người
dự đoán rằng lạm phát sẽ đạt tới gọi là tỷ lệ lạm phát dự tính hoặc tỷ lệ lạm phát được
trông đợi. Nếu dự đoán này đúng với tỷ lệ lạm phát thực tế xảy ra thì loại lạm phát đó
là lạm phát có thể dự tính được. Ngược lại, nếu tỷ lệ lạm phát trông đợi không giống
với tỷ lệ lạm phát thực tế xảy ra thì loại lạm phát đ
ó là lạm phát không dự tính được.
Những ảnh hưởng của lạm phát sẽ khác nhau tuỳ thuộc đó là loại lạm phát có thể dự
tính được hoặc không thể dự tính được.
2.1. Đối với lạm phát dự tính được
Trong trường hợp lạm phát có thể được dự tính trước thì các thực thể tham gia
vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó. Tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất
cho xã h
ội.
- Chi phí da giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền và
lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho
người ta giữ ít tiền hơn hay làm giảm cầu về tiền. Khi đó họ cần phải thường xuyên
đến ngân hàng để rút tiền hơn. Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ "chi phí mòn giày"
để chỉ những tổn thất phát sinh do s
ự bất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà người ta
phải hứng chịu nhiều hơn so với không có lạm phát.
- Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các doanh

này tạo nên một tâm lý ngần ngại khi quyết định đầu tư, nhất là đầu tư vào các dự án
đầu tư dài hạn. Hơn nữa sự bất ổn định của thu nhập có thể làm cho người đầu tư thích
đầu tư vào các tài sản tài chính hơn là các dự án đầu tư thật sự. Kết quả là nguồn lực
của xã hội bị phân bổ một cách thiếu hiệu quả và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh
tế.
Trong điều kiện l
ạm phát biến động, các quyết định tài chính cũng bị bóp méo,
các doanh nghiệp thích vay ngắn hạn hơn là bị ràng buộc chặt vào các hợp đồng vay
dài hạn với lãi suất cố định, chứa đựng rủi ro lãi suất tiềm năng.
Lạm phát cũng gây những ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường lao động khi các
công đoàn tìm cách đấu tranh đòi tăng lương danh nghĩa với nguy cơ của các cuộc
đình công hoặ
c sự đe dọa của một tỷ lệ lạm phát cao hơn.
- Lạm phát làm phân phối lại thu nhập quốc dân và của cải xã hội
Khi lạm phát tăng, tổng thu nhập danh nghĩa tăng lên, nhưng trong đó chứa
đựng sự phân phối lại thu nhập giữa các nhóm dân cư với nhau: giữa giới chủ và người
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
http://www.ebook.edu.vn
-22-
làm công, giữa người cho vay và người đi vay, giữa Chính phủ với người đóng thuế.
Nói tóm lại, tác động chính của lạm phát về mặt phân phối lại nảy sinh từ những tác
động không thể đoán trước đối với giá trị thực tế của thu nhập và của cải của nhân dân.
- Lạm phát làm cho lãi suất tăng
Lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩa tăng lên bởi tỷ lệ lạm phát dự tính tăng.
V
ấn đề nảy sinh khi tỷ lệ lạm phát dự tính cấu thành trong mức lãi suất danh nghĩa
không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế và ảnh hưởng đến mức lãi suất thực. Điều
này, có nghĩa chính lạm phát gây ra những ảnh hưởng đến tiết kiệm, đầu tư và cuối
cùng ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng kinh tế.
- Lạm phát làm ảnh hưởng đế

những biện pháp ổn định tiền tệ lâu dài.
Khi nền kinh tế xảy ra tình trạng lạm phát cao hoặc siêu lạm phát, để kiềm chế
lạm phát các nước thường áp dụng những biệ
n pháp tình thế sau:
* Biện pháp về chính sách tài khoá
Áp dụng biện pháp về chính sách tài khoá có ý nghĩa quan trọng và then chốt vì
trong nhiều trường hợp Ngân sách Nhà nước bị thâm hụt là nguyên nhận chính của
lạm phát, do đó nếu dập tắt được nguyên nhân này thì tiền tệ sẽ được ổn định, lạm phát
sẽ được kiềm chế. Khi lạm phát tăng ở mức độ phi mã hoặc siêu lạm phát, Nhà nước
có thể thực hiện các biện pháp như
:
- Tiết kiệm triệt để trong chi tiêu Ngân sách Nhà nước, cắt giảm những khoản
chi chưa cấp bách.
- Tăng thuế trực thu để tăng nguồn thu cho ngân sách
- Vay nợ trong nước và nước ngoài không đi kèm điều kiện chính trị
* Biện pháp thắt chặt tiền tệ
Để góp phần giảm lượng tiền thừa trong lưu thông, Nhà nước có thể thực hiện
chính sách siết chặt lượng cung tiền tệ bằng nhiều biện pháp khác nhau như:
- Ngừng phát hành tiền lưu thông hay còn gọi là “đóng băng tiền tệ”
Ngân hàng Trung ương tạm ngừng thực hiện các nghiệp vụ tái chiết khấu, tái
cấp vốn, cho vay theo hồ sơ tín dụng. Ngay cả số bội chi của Ngân sách Nhà nước
cũng không được phát hành tiền để bù đắp. Mục đích của biện pháp này là không cho
tăng thêm tiền trong lưu thông.
- Nâng cao lãi suất tín dụng
Lãi suất tiền gửi tăng, đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm có tác dụng thu hút tiền mặt
trong dân cư và doanh nghiệp vào ngân hàng. Một tác hại có thể xảy ra là nếu lãi suất
tiền gửi cao hơn lợi tức đầu tư thì các nhà kinh doanh sẽ không đầu tư cho sản xuất
nữa mà tìm cách đưa vốn của mình vào ngân hàng vì nó đưa đến lợi tức cao mà không
chịu sức ép rủi ro lớn. Mặt khác, lãi suất cho vay tăng cũng làm giảm khả nă
ng mở

Đây là biện pháp tình thế bắt buộc khi lạm phát ở mức độ cao mà việc vận dụng
các biện pháp trên không đưa lại kết quả như mong muốn. Ở đây, Nhà nước huỷ hoặc
thu hồi tiền cũ, phát hành tiền mới để lập lại trật tự mới trong lưu thông tiền tệ.
2. Những biện pháp chiến lược
Đây là biện pháp nhằm tác động đồ
ng bộ lên mọi mặt hoạt động của nền kinh
tế, với ý tưởng tạo ra một sức mạnh về tiềm lực kinh tế của đất nước, tạo cơ sở để ổn
định tiền tệ vững chắc. Trong thực tiễn, những biện pháp thường được áp dụng là:
* Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn
Do lư
u thông hàng hóa là tiền đề của lưu thông tiền tệ nên nếu quỹ hàng hóa
được tạo ra có số lượng lớn, chất lượng cao, chủng loại phong phú thì đây là tiền đề
Khoa Tài chính – Ngân hàng Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng
http://www.ebook.edu.vn
-25-
vững chắc nhất để ổn định lưu thông tiền tệ, nhằm huy động tốt các nguồn lực để phát
triển kinh tế. Nhà nước cần xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
đúng đắn, trong đó cần chú trọng điều chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển ngành
mũi nhọn xuất khẩu.
* Kiểm soát thường xuyên thu chi Ngân sách Nhà nước
Chính sách thu phải khai thác và qu
ản lý chặt chẽ các nguồn thu, tăng thu từ
thuế chủ yếu dựa trên cơ sở mở rộng và nuôi dưỡng nguồn thu, chống thất thu có hiệu
quả. Ngân sách Nhà nước phải đảm bảo tính hiệu quả và tiết kiệm. Thực hiện cân đối
ngân sách tích cực làm cơ sở cho các cân đối khác trong nền kinh tế.
* Thực hiện chiến lược thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Ở đây các nhà kinh tế chủ
trương cần phải xoá bỏ mọi ngăn cản đối với hoạt
động của thị trường. Nếu quá trình cạnh tranh được nâng cao lên ở mức độ hoàn hảo
thì giá cả sẽ có xu hướng giảm xuống. Mặt khác, cạnh tranh thúc đẩy các nhà kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status