Bài thảo luận môn Tiền tệ Ngân Hàng
Đề tài:
Tổng quan về Thị trường
tài chính Việt Nam
I.Lý thuyết chung
1.Thị trường tài chính là gì?
2 Chức năng và vai trò của thị trường tài chính
II.Thực trang thị trường tài chính Việt Nam
1.Đánh giá tổng quan về thị trường tài chính Việt Nam
2.Thị trường tài chính Việt Nam trước khi gia nhập WTO
3.Thị trường tài chính Việt Nam sau khi gia nhập WTO
4.Đánh giá thực trạng và các giải pháp khắc phục những hạn
chế hiện nay
Nhóm thực hiện: KNORR
I.Lý thuyết chung:
1.Thị trường tài chính là gì?
Bắt nguồn từ mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư và tiết kiệm: một nền kinh
tế muốn tăng trưởng thì phải có hoạt động đầu tư; trước khi muốn đầu tư, phải huy
động vốn từ nguồn tiết kiệm; đầu tư có hiệu quả sinh ra lợi nhuận lại làm tăng
thêm nguồn tiết kiệm. Vì vậy, mối quan hệ nhân quả này tuần hoàn và tạo nên sự
phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, vấn đề là làm sao để cho đầu tư gặp được tiết kiệm; phải có nơi
để tạo ra sự gặp gỡ này. Đó chính là quá trình giao lưu vốn hay nói khác hơn đó là
thị trường tài chính, là nơi tạo ra cơ chế cho những nguồn vốn nhàn rỗi không có
chỗ đầu tư giao lưu với những nhà đầu tư đang cần vốn.
Như vậy, thị trường tài chính là thị trường giao dịch, mua bán, trao đổi các
sản phẩm tài chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để đáp ứng nhu cầu khác nhau của
các chủ thể trong nền kinh tế. Trong đó, các chủ thể thừa vốn thì tìm kiếm lợi
nhuận thông qua hoạt động đầu tư, còn các chủ thể thiếu vốn bổ sung vốn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh và các nhu cầu đầu tư khác. Việc hình thành quá trình
giao lưu vốn giữa những chủ thể thừa vốn và thiếu vốn đã tạo nên một thị trường
thị trường mua bán, giao dịch cổ phiếu và các giấy tờ có giá đã phát hành trên thị
trường sơ cấp. Tính thanh khoản ở thị trường tài chính càng cao thì càng thu hút
nhiều chủ thể tham gia vào thị trường và giúp chủ sở hữu các tài sản tài chính dễ
dàng chuyển đổi danh mục đầu tư theo yêu cầu. Do đó, mỗi thị trường khác nhau
có tính thanh khoản khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển các định chế tài
chính của thị trường ấy. Nếu các cơ chế của thị trường thông thoáng sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho các công cụ tài chính lưu thông thông suốt. Ngoài ra, thị trường
tài chính còn có chức năng định giá tài sản tài chính, phân phối vốn trên thị trường
theo tín hiệu của thị trường.
2.2.Vai trò:
a, TTTC góp phần năng cao năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế:
Bất kỳ nền kinh tế nào, trong quá trình fát triển cũng fải đối đầu với sự
khan hiếm về nguồn lực. TTTC là sản fẩm tất yếu của sự đòi hỏi tập trung tài
nguyên cho sản xuất lớn và chống lãng fí dưới mọi hình thức. Với chức năng dẫn
vốn và chức năng tiết kiệm, TTTC đã tạo điều kiện để huy động nguồn lực trong
xã hội, lôi kéo các cá nhân trở thành các nhà đtư, tận dụng mọi nguồn lực nhỏ
nhất, thúc đẩy hoạt động sang tạo ra sp và dvụ.
Đối với ngân sách Nhà nước, việc bù đắp các khoản bội chi bằng cách vay
nợ trên TTTC thay vì fát hành thêm giấy bạc NH và lưu thông là một biện fáp hết
sức quan trọng, bởi vì làm như vậy sẽ vừa có thể kiềm chế được lạm fát vừa có thể
tạo đk cho tăng trưởng nền ktế.
Tóm lại, một TTTC hđ có hiệu quả sẽ tận dụng được ở mức cao nhất mọi
nguồn vốn tiềm tàng trong nước và từ nước ngoài để phát triển kt và cải thiện đời
sống của nhân dân.
b, TTTC tạo môi trường thuận lợi để dung hòa các lợi ích kt của các chủ thể kt
khác nhau trên thị trường:
Thông qua các cuộc đấu giá tập trung giữa các nguồn cung và nguồn cầu,
cơ chế thị trường sẽ hình thành nên mức giá cả tốt nhất, có lợi cho cả người mua
và người bán, đảm bảo sự công bằng trên thị trường. Các cá nhân hoặc cộng đồng
chỉ có thể tìm thấy sự fát triển tốt nhất cho chính mình trong sự hỗ trợ để các cá
khách hàng và biện pháp đảm bảo tiền vay trên nguyên tắc thương mại, đảm bảo
an toàn và hiệu quả.
Thứ ba, các nguyên tắc quản lý tài chính tiên tiến và chuẩn mực quốc tế về tính
minh bạch, kế toán, kiểm toán, giám sát đã và đang từng bước được thể chế hoá
và ứng dụng rộng rãi hơn trong thực tế. Các thể chế về quản trị doanh nghiệp (kể
cả ngân hàng) cũng được hoàn thiện một bước, nhất là đối với các công ty niêm
yết trên thị trường chứng khoán.
Cuối cùng, song không kém phần quan trọng, khung pháp luật của TTTC đang
ngày càng phù hợp hơn với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Chính sách tín
dụng ngày càng đối xử bình đẳng hơn đối với các doanh nghiệp tư nhân và có
vốnđầu tư nước ngoài. Các định chế tài chính nước ngoài ngày càng được phép
mở rộng phạm vi, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của mình.
2.Thị trường tài chính Việt Nam trước khi gia nhập WTO
A, Thị trường tín dụng:
Mẫu hình TTTC Việt Nam cơ bản là dựa vào ngân hàng hay do ngân hàng chi
phối (bank-based or bank dominated financial market), trong khi thị trường tín
dụng lại chứa đựng không ít vấn đề như:
- Mức độ tích tụ và phân khúc thị trường còn cao. Các NHTM nhà nước hiện
chiếm gần 80% thị phần huy động tiền gửi và tín dụng của toàn hệ thống ngân
hàng. Nhóm khách hàng truyền thống của các NHTM Nhà nước là các doanh
nghiệp Nhà nước (DNNN) Các ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu tập trung
vào đối tượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tỷ trong tín dụng dành cho khu vực
DNNN đã giảm từ 70% vào đầu thập niên 1990 xuống 57% năm 1996, 45% năm
2000 và 34% năm 2004. Tín dụng theo ngành cũng phản ánh sự phân khúc thị
trường tín dụng, nhất là đối với các NHTM Nhà nước
Rủi ro tín dụng, nhất là vấn đề nợ xấu vẫn còn hiện hữu. Tỷ lệ nợ quá hạn so
với tổng dư nợ của hệ thống NHTM được công bố đã giảm từ 13% năm 2000
xuống còn 3,4% năm 2005. Tuy nhiên, nếu dựa trên cách phân loại quốc tế về nợ,
thì tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM có thể lớn gấp nhiều lần con số công bố. Hơn
nữa, nguy cơ tiếp tục phát sinh nợ quá hạn là khá cao do nhiều dự án đầu tư chưa
Năm 2005, Diễn biến lãi suất luôn gắn với diễn biến của thị trường tiền tệ,
thị trường hàng hóa. Với thị trường tiền tệ, ảnh hưởng mạnh nhất đến lãi suất
VNĐ là khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) liên tục công bố tăng lãi suất cơ bản.
Với thị trường hàng hóa, do ảnh hưởng của việc tăng giá người dân phải chi tiêu
tiền nhiều hơn là gửi ngân hàng.
Lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng từ 0,63%-0,65%/tháng, kỳ hạn 6 tháng từ
0,65%-0,67%/tháng, kỳ hạn 12 tháng từ 0,68%-0,72%/tháng, so với đầu năm lãi
suất huy động tăng từ 0,01%-0,02%/tháng (0,12%-0,24%/năm).
Lãi suất cho vay hiện nay các tổ chức tín dụng (TCTD) đang áp dụng từ
0,78%-1,2%/tháng tùy theo thời hạn vay, khách hàng và đối tượng vay, so với đầu
năm đã tăng từ 0,11%-0,28%/năm. Dù tăng nhưng đây là diễn biến phù hợp với
tình hình biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường.
Với ngoại tệ, ngoài sự tác động bởi quan hệ cung cầu về vốn, lãi suất ngoại
tệ chịu sự chi phối và tác động mạnh từ lãi suất thị trường thế giới. Sự thay đổi lãi
suất của FED trong 5 tháng đầu năm 2005 đã làm thay đổi lãi suất huy động tiền
gửi ngoại tệ trong nước cũng như lãi suất cho vay bằng ngoại tệ. So với đầu năm,
lãi suất ngoại tệ tăng khoảng 0,04% -0,2%/tháng, trong đó tăng cao nhất là tiền gửi
kỳ hạn 3 tháng.
Đối với người dân, gửi tiết kiệm bằng VNĐ vẫn có lợi hơn. Mức lãi suất
cho vay của các ngân hàng thương mại đã đồng loạt tăng lên và lãi suất trái phiếu
chính phủ, tín phiếu kho bạc cũng tăng, cho thấy, mặt bằng lãi suất mới đã hình
thành, phù hợp với sự mất giá của đồng tiền cũng như chỉ số giá cả 5 tháng đầu
năm đã tăng 4,8%.
NHNN Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2005 đã cho tăng lãi suất cơ bản
từ 0,625% lên mức 0,65%, là mức lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường hàng
hóa, thị trường tiền tệ
Thời gian này, Việt Nam đang tiếp tục mở cửa nền kinh tế theo xu hướng
hội nhập, thực hiện các cam kết của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, AFTA, cam
kết gia nhập WTO, nên thị trường trong nước diễn biến theo sát thị trường quốc
tế. Thị trường hàng hóa ở nước ta cũng như trên thế giới, tập trung là giá các loại
có 65 công ty niêm yết và 28 công ty đăng ký giao dịch tại các TTGDCK với tổng
giá trị vốn hoá thị trường cổ phiếu đạt 164.000 tỷ đồng, chiếm 19,6 % GDP (tăng
hơn 16 lần so với cuối năm 2005, vượt xa kế hoạch mục tiêu trong Chiến lược
phát triển TTCK đến 2010 là 10-15% GDP). Có gần 400 loại trái phiếu Chính phủ,
trái phiếu đô thị và trái phiếu ngân hàng niêm yết với tổng giá trị trên 70.000 tỷ
đồng, bằng 8,5% GDP. Chỉ số VN Index đã tăng khoảng 165% so với thời điểm
đầu năm và đạt 809,86 điểm vào phiên giao dịch ngày 20/12/2006.
Các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia TTCK ngày càng đông đảo. Tính
đến tháng 12/2006, số tài khoản giao dịch của các nhà đầu tư là 95.000 (tăng hơn
3 lần so với cuối năm 2005 và trên 30 lần so với năm đầu tiên mở thị trường); nhà
đầu tư nước ngoài có khoảng 1.700 tài khoản và hiện đang nắm giữ khoảng 25-
30% số lượng cổ phiếu của các công ty niêm yết, trong đó có một số tên tuổi của
các nhà đầu tư chứng khoán quốc tế như JP Morgan, Merryll Lynch, Citigroup
3. TTCK bước đầu khẳng định vị trí của mình như một kênh dẫn vốn dài hạn
cho nền kinh tế. Ngày càng có thêm nhiều doanh nghiệp huy động vốn thành công
qua TTCK, chỉ tính riêng 11 tháng năm 2006 đã có trên 27 doanh nghiệp niêm yết,
huy động và tăng vốn qua TTCK với tổng giá trị cổ phần và trái phiếu trên 1.300
tỷ đồng (Thí dụ như Ree, khi cổ phần hoá vốn điều lệ là 16 tỷ đồng và khi niêm
yết năm 2000 vốn là 150 tỷ đồng, đến nay đã đạt mức vốn chủ sở hữu là 512 tỷ
đồng; Sacom khi niêm yết có vốn điều lệ là 120 tỷ đồng đến nay vốn chủ sở hữu
đã tăng lên 625 tỷ đồng; Agrifish khi niêm yết có vốn điều lệ là 40 tỷ đồng nay
vốn chủ sở hữu đã tăng lên 117 tỷ đồng) . Nhìn chung, các công ty niêm yết đều
có mức tăng trưởng khá cả về doanh thu và lợi nhuận, trình độ quản lý, trình độ
quản trị công ty được nâng cao, tính công khai, minh bạch ngày càng được tăng
cường, do đó càng thuận lợi trong huy động vốn.
Các công ty cổ phần cũng gia tăng xu hướng phát hành cổ phiếu ra công chúng
để huy động vốn - điều trước đây chưa hề có. Trong năm 2006, đã có 17 công ty
cổ phần đăng ký với UBCKNN phát hành 250 tỷ đồng vốn cổ phần.
Ngoài ra, việc phát hành trái phiếu của các Ngân hàng, Tổng công ty cũng gia
tăng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng Đầu tư và
mô và chất lượng thì sẽ khó đáp ứng nổi (ví dụ TTGDCK tăng thêm số lần khớp
lệnh hoặc chuyển qua giao dịch khớp lệnh liên tục). Ngoài ra, mạng lưới kinh
doanh của các CTCK mới chỉ tập trung ở các thành phố lớn, chứ chưa rộng khắp
trong toàn quốc.
5. Hệ thống thể chế TTCK từng bước hoàn thiện và phát triển:
- TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào hoạt động từ tháng 7/2000 đang
từng bước được nâng cấp, mở rộng, đáp ứng yêu cầu giao dịch cổ phiếu niêm yết
của các công ty lớn.
- TTGDCK Hà Nội hoạt động từ tháng 3/2005 đã đóng góp tích cực vào hoạt
động đấu giá cổ phần hoá và giao dịch chứng khoán các doanh nghiệp chưa niêm
yết.
- Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (TTLKCK) bắt đầu đi vào hoạt động từ
tháng 5/2006 trên cơ sở tiếp nhận nhiệm vụ đăng ký, lưu ký và bù trừ thanh toán
chứng khoán từ các TTGDCK. Đến nay, TTLKCK đã có 23 tổ chức tham gia hoạt
động lưu ký chứng khoán, trong đó có 20 tổ chức lưu ký, 2 tổ chức tài chính và Sở
giao dịch Ngân hàng Nhà nước đăng ký mở tài khoản trực tiếp. TTLKCK đã nhận
lưu ký cho trên 400 triệu cổ phiếu của các công ty cổ phần, hơn 550 triệu trái
phiếu và gần 50 triệu chứng chỉ quỹ. Hoạt động lưu ký thông suốt, ổn định đảm
bảo thanh toán kịp thời chính xác các giao dịch chứng khoán.
Năm 2006 là năm TTCK Việt Nam phát triển bùng nổ về khối lượng giao dịch,
số lượng nhà đầu tư cũng như số lượng các công ty niêm yết, đăng ký giao dịch và
các tổ chức trung gian (công ty chứng khoán, quỹ đầu tư). Song bên cạnh đó,
TTCK Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:
- Quy mô TTCK của Việt Nam vẫn còn nhỏ so với các nước (mức bình quân
của các quốc gia trong khu vực khoảng 30-40% GDP). Nhìn chung, ngoại trừ một
số công ty lớn, lĩnh vực kinh doanh tương đối ổn định, có mức tăng trưởng đều
qua các năm (khoảng trên 10 công ty), còn lại phần lớn các công ty niêm yết vẫn
chưa phải là những công ty lớn nhất trong nền kinh tế và chưa đại diện tiêu biểu
cho các ngành kinh tế đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP của Việt Nam. Chính vì
vậy, chỉ số giá cổ phiếu VN-Index tăng, giảm thất thường và chưa trở thành phong
dụng trước được “dành” cho các dự án ưu tiên sẽ phải giảm dần và chuyển sang 6
những khoản đàu tư có lợi nhuận cao hơn, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ
nguồn lực trong nền kinh tế
Hai gói kích cầu của Chính phủ đang được triển khai đã giúp một lượng lớn
DN có nguồn vốn rẻ để phát triển sản xuất - kinh doanh, đồng thời cũng là cơ hội
cho ngân hàng (NH) tăng trưởng tín dụng. Song theo nhận định của ông Hồ Hữu
Hạnh, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) - Chi nhánh TP. HCM, nếu cứ
theo đuổi mục tiêu tăng trưởng, nhưng lỏng lẻo trong khâu kiểm soát rủi ro thì sẽ
rất nguy hiểm, vì nguy cơ nợ xấu luôn tiềm ẩn khi tốc độ tín dụng tăng trưởng cao.
Thực tế, để chủ động kiểm soát lạm phát, năm 2009 Chính phủ đã có chỉ
đạo và NHNN đưa ra chủ trương khống chế tăng trưởng tín dụng dưới 30%, sau
đó hạ xuống 25 - 27% trước động thái đẩy mạnh vốn cho vay của các ngân hàng
hơn 2 quý đầu năm. Tuy nhiên, đến cuối tháng 9/2009 vừa qua, NHNN lại nâng
hạn mức tăng trưởng tín dụng của toàn ngành trong năm trở lại mức 30%.
Trong báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội phiên khai mạc Kỳ họp thứ 6
sáng 20/10 vừa qua cũng có chi tiết đáng chú ý, đó là năm 2009, Chính phủ ước
tính tổng phương tiện thanh toán cả năm sẽ tăng khoảng 25%, tổng dư nợ tín dụng
tăng khoảng trên 30%. Điều này có nghĩa là tăng trưởng tín dụng năm 2009 của
ngành ngân hàng có thể sẽ tăng trên mức 30%, tức cao hơn giới hạn cho phép đưa
ra trước đó.
Báo cáo mới nhất về tình hình tiền tệ quý III được NHNN đưa ra cho thấy,
tín dụng đối với nền kinh tế ước đến cuối quý III tăng khoảng 28% so với cuối
năm 2008. Trong thời gian qua, khi lãi suất trên thị trường liên NH có dấu hiệu
tăng, NHNN đã phải điều chỉnh lượng cung tiền qua thị trường mở. Theo nhận xét
của một chuyên gia ngành NH, nếu các NH tiếp tục “tùy ý” điều chỉnh lãi suất với
mục đích thu hút tiền gửi thì thị trường tiền tệ rất dễ bị tổn thương
B, Thị trường chứng khoán:
Việc gia nhập WTO cũng tạo điều kiện tăng cả cung lẫn cầu, nhất là cầuđầu
tư chứng khoán. Những kỳ vọng về tăng trưởng kinh tế, thương mại và đầu tư có
thể kích thích cầu đầu tư trên TTCK, nhất là thị trường cổ phiếu.
lãi suất từ tháng 4 đến nay đã trở về thời kỳ ổn định.
Nguồn: SacombankSC
Theo các chuyên gia ngân hàng, trong tháng 7-2009, NHNN công bố lãi suất cơ
bản là 7%/năm, cho thấy mục tiêu kiểm soát lãi suất thị trường tiếp tục theo hướng
ổn định.
Các căn cứ lần lượt được đưa ra là:
Thứ nhất, tình hình kinh tế vĩ mô trong nước 6 tháng đầu năm có chuyển biến tích
cực (GDP đạt 3,9%; chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,68%; nhập siêu 2,1 tỷ USD).
Thứ hai, hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và hộ sản xuất giảm
dần khó khăn và tiếp tục phát triển, theo số liệu gần đây của Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam, có 91% số doanh nghiệp duy trì và ổn định sản xuất –
kinh doanh, giữ được việc làm.
Thứ ba, thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng ổn định, đảm bảo an toàn, cung
– cầu vốn không có biến động lớn, vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD)
đảm bảo khả năng thanh toán, lãi suất USD giảm, tỷ giá không có biến động lớn.
Thứ tư, theo dự báo của NHNN và các bộ, ngành, kinh tế trong nước và hoạt động
sản xuất – kinh doanh trong những tháng cuối năm 2009 có chiều hướng ổn định
và thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, theo quan sát, từ hơn một tháng nay, nhiều ngân hàng thương mại đẩy
mạnh khuyến mại, tăng lãi suất để huy động VND, đã thu hẹp dần khoảng cách
giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay tối đa (10,5%/năm).
Tiền gửi VND hiện đã được hưởng mức lãi suất đỉnh, 10,2%/năm (của ngân hàng
Việt Nam Tín Nghĩa). Sự ấm lên của các kênh đầu tư khác như chứng khoán, bất
động sản, vàng, cũng buộc các ngân hàng phải điều chỉnh lãi suất huy động, đồng
thời để chuẩn bị tốt nguồn vốn cho vay trung, dài hạn, bên cạnh đó gia tăng lợi
nhuận từ cho vay tiêu dùng.
Ông Nguyễn Ngọc Bảo – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN cho rằng, sự
điều chỉnh lãi suất huy động chỉ xảy ra ở một vài ngân hàng, lãi suất 10%/năm
1,5%/năm kể từ ngày 01/6/2009).
Tuy nhiên, điều đó đã không tác động nhiều đến tâm lý găm giữ ngoại tệ
của người dân và doanh nghiệp. Nguyên nhân được xác định là do người dân vẫn
lo lắng về biến động tỷ giá trong thời gian tới.
Trên thị trường hiện nay vẫn tồn tại tình trạng huy động USD của các ngân
hàng rất nhiều nhưng lại thiếu USD nguồn vốn để có thể bán lại cho các doanh
nghiệp. Do đó, để đảm bảo hoạt động kinh doanh nhiều công ty vẫn phải chấp
nhận mua đồng USD ở thị trường tự do với mức giá cao hơn so với mức giá của
NHNN quy định.
4.Đánh giá thực trạng và các giải pháp khắc phục những hạn chế hiện nay
A, Thị trường tín dụng:
Báo cáo mới nhất về tình hình tiền tệ quý III được NHNN đưa ra cho thấy,
tín dụng đối với nền kinh tế ước đến cuối quý III tăng khoảng 28% so với cuối
năm 2008. Trong thời gian qua, khi lãi suất trên thị trường liên NH có dấu hiệu
tăng, NHNN đã phải điều chỉnh lượng cung tiền qua thị trường mở. Theo nhận xét
của một chuyên gia ngành NH, nếu các NH tiếp tục “tùy ý” điều chỉnh lãi suất với
mục đích thu hút tiền gửi thì thị trường tiền tệ rất dễ bị tổn thương.
Chuyên gia tài chính NH Doãn Hữu Tuệ nói rằng, thông thường, tăng trưởng tín
dụng với tăng trưởng huy động vốn phải tương ứng để đảm bảo sự cân đối giữa
đầu vào (huy động) và đầu ra (tín dụng). Tuy nhiên, thực tế cho thấy, gần đây tăng
trưởng huy động thấp, trong khi tăng trưởng tín dụng lại cao. Có nhiều nguyên
nhân để dòng tiền lưu chuyển không cân đối, trong đó có sự sôi động trở lại của
thị trường chứng khoán và bất động sản
.Ông Cao Sĩ Kiêm – nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, hiện là Chủ
tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cho rằng, mức tăng tín dụng của
năm 2009 phải nâng lên trên dưới 30%.
Theo ông Kiêm, gói kích cầu đã có kết quả, chuyển biến nhưng chưa giải
quyết hết được tất cả yêu cầu của các doanh nghiệp. Ví dụ trước đây nguồn vốn
1.000 tỷ USD (khoảng 17.000 tỷ đồng) thì mới giải quyết được 1/3 yêu cầu vốn,
mặc dù Chính phủ đã có thêm một số vốn khác nhưng khả năng đáp ứng vốn còn
Theo nghiên cứu của CTCK Thăng Long, VN-Index hiện đang có mức độ
phụ thuộc khá lớn vào chỉ số S&P 500 của Mỹ (chỉ số quan trọng nhất thể hiện
diễn biến giá CP của 500 đại Cty của Mỹ) vào khoảng 72%. Điều đó có nghĩa là
nếu chỉ số S&P 500 tăng điểm thì có 72% khả năng VN-Index cũng tăng điểm
theo. Khi mối quan hệ này ngày càng chặt chẽ thì NĐT càng có xu hướng theo dõi
các sự kiện ảnh hưởng đến thị trường quốc tế.
Hai nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là độ mở lớn của nền kinh tế Việt
Nam với thế giới, thể hiện ở giá trị kim ngạch xuất khẩu chiếm tới 70% GDP và
dòng vốn nước ngoài (cả trực tiếp và gián tiếp) chảy vào Việt Nam. TTCK Mỹ
những tháng gần đây mặc dù có điều chỉnh, nhưng vẫn trong xu hướng tăng. Liên
tiếp các báo cáo, điều tra xã hội học lẫn các phát ngôn của những chuyên gia có uy
tín đều nhìn nhận tình hình dần sáng sủa hơn và nền kinh tế Mỹ đang trong giai
đoạn phục hồi. Điều đó sẽ ảnh hưởng rất tích cực tới thị trường Việt Nam.
Đối với nền kinh tế trong nước, mức độ tăng trưởng tính đến quý II và số
liệu mới nhất tính đến tháng 8.2009 cho thấy dấu hiệu tăng tốc về cuối năm càng
rõ nét. Theo đánh giá của tiến sĩ Võ Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện Quản lý
kinh tế T.Ư - tốc độ tăng trưởng trên 5% là khả thi và bội chi ngân sách ở mức
dưới 7%.
Từ góc độ DN, ông Nghĩa cho rằng lợi nhuận của DN niêm yết 6 tháng
đầu năm tăng trưởng tốt, bất chấp suy thoái. Cụ thể, thống kê cho thấy tổng lợi
nhuận quý I/2009 của các DN niêm yết vào khoảng 5.371 tỉ đồng thì tổng lợi
nhuận quý II đã là 9.360 tỉ đồng, tương đương mức tăng trưởng 74,3%. Với diễn
biến vĩ mô không thể xấu hơn nếu không muốn nói là tốt hơn về cuối năm, lợi
nhuận của DN sẽ có xu hướng còn tăng nữa, với tốc độ khoảng 20-30% trong hai
quý tới.
C, Thị trường tiền tệ:
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tuần qua, nhóm ngân hàng
thương mại (NHTM) nhà nước tăng lãi suất huy động VND ở kỳ hạn trên 12 tháng
là 0,1 - 0,2%/năm; lãi suất USD tăng 0,2 - 0,5%/năm; nhóm NHTM cổ phần tăng
lãi suất VND 0,1 - 0,3%/năm; USD: 0,1 - 0,2%/năm. Nhìn chung, mức lãi suất
DN sẽ không bị "sốc" về mặt thời điểm chấm dứt cơ chế. Tuy nhiên, với mức hỗ
trợ 4%/năm là khá lớn, làm giảm chi phí tiền vay hơn 30%, xét về mặt tâm lý và
hạch toán giá thành sản phẩm thì cần có bước đi giảm dần về đối tượng, lãi suất để
ổn định tâm lý.
Để tối đa hoá những lợi ích cũng như giảm thiểu những tác động tiêu cực
của việc gia nhập WTO đối với TTTC, Việt Nam cần thực hiện nhiều giải pháp
đồng bộ, có tính bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Việc thực hiện nghiêm túc các
cam
kết WTO là tiền đề quan trọng đảm bảo sự vận hành của TTTC trên cơ sở các
quan hệ thật sự thị trường. Điều này có liên quan chặt chẽ đến việc thực hiện
các nguyên tắc cơ bản là giảm thiểu sự can thiệp hành chính của nhà nước,
tăng cường cạnh tranh và đảm bảo giá cả phản ánh đúng quan hệ cung cầu
trên thị trường (nhất là đối với tỷ giá) Vấn đề cốt lõi đối với sự phát triển TTTC
là bảo đảm thực hiện các nguyên tắc/chuẩn mực tiên tiến về minh bạch hoá
thông tin, kế toán, kiểm toán,giám sát và quản trị.